Thoi-Nay - Giai Tri va Doi Song

Trang chính
Tài liệu và biên khảo

Mục lục

Nhật Bản:

Do Thái:

TL&BK:

Tài liệu và biên khảo - Ôn cố tri tân : Phụ trách TN. 5/2010.

Nhân nghĩa xưa nay là vô địch

sao vẫn khư khư việc chiến tranh

Lập lại non sông xưa Bách Việt

Dựng nên thế giới mới Duy dân

Chèo sang một bến Cực lạc

Vớt lấy năm bể trầm luân

Làm tròn giấc mộng tiền sinh ấy

Trở lại non sâu nhập Niết Bàn

 

===
 

 
 

NGHÌN NĂM TƯ TƯỞNG VIỆT: Vạn Hạnh-Trạng Trình-Lý Đông A


LƯU VĂN VỊNH


Nhìn lại ba đỉnh cao tư tưởng Việt, qua ba nhân vật đạt đạo truyền thống Việt, để thấu đạt nghìn năm văn hiến Việt : Vạn Hạnh tk XI, Trạng Trình tk XV và Lý Đông A tk XX, họ là truyền nhân từ một Dòng Tâm Thức Viêm Việt, họ đã mang hào khí Việt trong lòng, từ Động Đình Hồ, tới đỉnh thiêng non Tản..trên đỉnh ấy cuốn Sách Ước dân tộc vẫn mở ra, cả 4000 năm xưa, có ba người đọc, quán thông, hoà vào tim óc, ba nhân vật cách nhau khoảng ngũ bách niên : Nòi giống nào, dân tộc nào, muốn trường tồn mà chẳng có truyền nhân kỳ diệu, tiên tri prophets, những bóng cao lịch sử rờm rợp oai linh nhô nên từ dòng máu cộng thể giống nòi..Nostradamus, truyền nhân kỳ diệu Do Thái, cùng thời với Trạng Trình, chẳng ngồi thiền định trước thau nước quán chiếu vận mệnh nhân loại là gì ! Gandhi, truyền nhân giòng tộc Hindi, không phải là người, ngài là Á thánh, là bông hoa bất tử Vệ Đà..là diệu âm thánh ca tú khí..Những cái bóng khổng lồ ấy, che rợp thế gian, như cái tản cái lọng che chở dòng giống, kinh qua tang thương đại khổ hải, mà vượt sang bờ Tứ Hải Lạc Âu Ca (Trạng Trình).

Tuỳ cơ Trời, những mẫu người dung tam tế, thấu đạt thời thế cơ, quán thông Trời Đất Người, hành xử với sách lược khác nhau :

Vạn Hạnh phù trợ họ Lý tâm Phật, phúc dầy, 216 năm, di kinh đô từ Hoa Lư ra trở lại đất cũ Hùng Vương có Tam đảo Ba Vì làm án che, có Tây Hồ não bộ trung cung, Thăng Long rồng bay ngàn năm Đại Việt, phục hoạt làng xã văn minh Hùng Lạc sau gần ngàn năm bị Tầu làm hư hoại.

Trạng Trình sống giữa thời phân hoá, nhất thời phò nhà Mạc trở lại cội rễ Lý Trần, ngồi Bạch Vân Am ghi sấm ký, vạch nghĩa Toàn Kỳ Thiện Vi Trung ( Toàn Thiện đạt nghĩa lý Trung dung) chỉ đạo chiến lược Hoành Sơn làm thế vạn đại dung thân cho dân tộc, là vì Hán tộc mỗi ngày một lớn, châu thổ Hồng Hà phải lấy Trường sơn làm xương sống cự lại Bắc phương du mục hùng hổ, làm thế ỷ dốc trường tồn, vả lại thế gian biến động, Viêm Việt lửa phương Nam cần chín đầu rồng Cửu Long phun hào quang chói lọi Đông Á Thái Bình :

Hiệu xưng thiên hạ Thái Bình

Đông Tây có sự, Nam thành quốc gia

(sấm Trạng Trình)



Lý Đông A sinh vào thời tranh dành ý thức hệ, tranh dành tôn giáo, tranh dành phe phái..ông mở trang sách Ước, diễn lại cho giống nòi nằm lòng, bảo trì truyền thống Việt, căn cơ Việt, ý chí Việt..ông mò gươm thiêng đáy Động Đình hồ, ông lặn trong gió đáy tàng thức Việt, ông đi giữa bông lau đường vua Đinh, ông vận động bản Mường động Mán, ông là ngọn đuốc sống, lấy lửa từ Viêm Việt cố quận, mồi sang Lạc Việt, ấp ủ truyền đạt giọt máu đào Hồng Bàng, ông là Đại Việt Âm trầm hùng, là chính khí Việt thắng nghĩa, rờm rợp cờ Vạn Thắng Vạn Xuân, ấp ủ hồn Nhân chủ giữa cõi Sa bà trao truyền y bát đại thống Việt. Giữa Tây, Tầu, Nga..ông dơ cao ngọn cờ thuần Việt, viễn kiến một Thái bình Nam Á liên bang, ông trụ vào Đạo trường vượt ý hệ, thoát phân cực, để lại cho hậu thế một chủ đạo dân tộc thuần thành, một đại hồ sâu thăm thẳm mặc sức múc lên hứng cảm: nào nghiên cứu Trống Đồng, Bách Việt Tiên Rồng, nào khảo cổ Kinh Dương Lạc Âu, nào Động Đình, nào Việt Nho, Việt Dịch, nào phục hoạt Lý- Trần..tất cả, từ giữa thế kỷ XX tới nay..bao người đã và đang khơi quật lại bờ luỹ Văn Lang chính là nhờ hồi trống dục dã đại cáo của trang truyền nhân Việt :

Đại cáo lại ban lời Bách Việt

Quỳnh ca luôn tấu khúc duy dân

Trời Nam chung bọc Rồng Tiên cả

Nhắc để lên đài sống Vạn Xuân



Tìm hiểu ba truyền nhân Viêm Việt, lĩnh hội phần nào thâm diệu sách Ước, với tâm thành khai ngộ..chính kiến, tinh tường.. bởi vì họ hội tụ tinh tuý giống nòi, họ sống nghìn năm (4), họ quán thông thiên văn địa lý.



SƯ VẠN HẠNH với TINH THẦN ĐỒNG TÔN ĐẠI VIỆT

Sư Vạn Hạnh họ Nguyễn, không rõ sinh năm nào, nhưng mất vào năm 1025 dưới Triều vua Lý Thái Tổ. Về sau vua Lý Nhân Tông 1072-1127 truy tặng một bài kệ thâu tóm thân thế tư tưởng Vạn Hạnh như sau :

Vạn Hạnh dung tam tế

chân phù cổ sấm ky

hương quan danh Cổ Pháp

trụ tích trấn vương kỳ



Vạn Hạnh thông ba cõi

chính hợp lời sấm xưa

quê hương tên Cổ Pháp

chống gậy giữ kinh kỳ



Vạn Hạnh dung thông quá khứ, hiện tại, tương lai, dung hợp Phật, Khổng, Lão, dung hóa pháp môn Tổng Trì Tam Ma Địa thành lời Sấm , như một khế cơ huyền vi vào việc trị nước an dân vào buổi đầu thời đại độc lập quốc gia.

Thuở nhỏ Sư tu ở chùa Lục Tổ , thuộc dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi tinh thông Tam Tạng, Bách luận, Bát Nhã Hoa Nghiêm...chú trọng về Mật Tông " bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền " giản dị, gọn, nhẹ, rất hợp với tâm tính của khối dân xứ nóng Đông Nam Á. Sư lại chuyên về khoa Tổng Trì Tam Muội , nói ra lời nào là thành lời tiên tri được người đời tin tưởng.

Nguyên Kinh Tổng Trì được chính Tỳ Ni Đa Lưu Chi dịch tại chùa Pháp Vân vào khoảng 580-594. Nhà sư Đa Lưu Chi từ Thiên Trúc sang Trung Hoa rồi sang Việt Nam tu 14 năm là sư tổ thiền phái Mật tông tại đất Việt với nhiều thế hệ thiền tăng xuất sắc như sư Pháp Hiền ( thế hệ II ), Đ̣inh Không ( thế hệ VIII ), La Quý An ( thế hệ X ), Vạn Hạnh và Đạo Hạnh ( thế hệ XII ), Minh Không ( thế hệ XIII )...

Sau giai đoạn Đại thừa Bát Nhã, tới Đại thừa Duy thức là những cao điểm phát triển của của đạo Bụt nghiêng về trí huệ cao siêu, tới giai đoạn Đại thừa Mật giáo là chặng đường lan tỏa sâu vào tàng thức cộng thể, rộng vào siêu lực ẩn tàng trong tâm thức, mênh mông bao bọc các tín ngưỡng thần linh khắp cõi mà không chấp vọng. V́i thế từ thế kỷ thứ IV tới thứ VIII Mật giáo đã phát triển nhanh chóng vững vàng thành Kim Cang Thừa lan ra khắp Viễn Đông, từ Tây Tạng sang Trung Hoa, Việt Nam...

Tổng Trì tiếng Phạn là Đà La Ni, có nghĩa là duy trì thiện pháp và ngăn ngừa ác pháp phát sinh. Một trong bốn loại Đà la ni ( pháp, nghĩa, chú, nhẫn ) là thần chú , một cánh cửa mở ra từ Thiền siêu thức, một gạch nối từ tâm thức bay lên cõi phi phi tưởng, với những mật ngôn như ngôn ngữ giao cảm giữa những loài khác nhau trên những quốc độ khác nhau của tam thiên đại thiên thế giới.

Thần chú của Mật tông với hiệu lực linh nghiệm đã là thần lực gia hộ Triều Đinh, Lê và Lý. Cả trăm trụ bia đá vùng Hoa Lư còn ghi khắc kệ và chú từ thế kỷ thứ X, các cột kinh này lấy chú " Phật đỉnh Tôn thắng Đà La Ni " làm chủ yếu như " muôn nghìn ánh sáng làm chúng sinh kinh động mà giác ngộ ", người niệm chú này sẽ được tăng tuổi thọ và được chư thần Bồ tát phù hộ.

Ngay từ thế kỷ thứ VIII các nhà sư Mật tông Ấn độ sang Trung Hoa đã dùng Mật ngôn thần chú phù trợ Triều vua Đường. Trong những thế kỷ sau, IX, X, XI... trung tâm Luy Lâu vùng Kinh Bắc đã là nơi qua lại của các danh tăng Ấn, Hoa, Chiêm Thành...lại thêm các nhà sư Việt sang Ấn du học như Sùng Phạm ( thế hệ XI Tỳ Ni Đa Lưu Chi ) du học chín năm, sau về chùa Pháp Vân truyền dậy đệ tử là Đạo Hạnh. Đạo Hạnh rất giỏi pháp thuật thần thông, từng tụng đủ 1 vạn 8 ngàn lần Đại Bi Tâm Đà La Ni, dùng gậy quăng xuống dòng nước chẩy xiết, gậy dựng đầu lội ngược, nhờ đó diệt được tà sư Đại Điên là kẻ giết cha mình, sau dốc chí tu tập, pháp lực càng cao, có thể điều phục muông thú, cầu mưa cầu gió, niệm chú trị bệnh...

Vạn Hạnh cùng thế hệ tu học với Đạo Hạnh, hẳn không lạ gì những pháp thuật thần thông ấy. Cùng với sư huynh Pháp Thuận, hai vị quốc sư này đã dùng sấm vĩ, độn số, phò trợ vua Lê Đại Hành ( 980-1005 ) trong việc trị quốc. Chính sư Pháp Thuận đã giả làm người lái đò đối đáp thi văn với sứ thần nhà Tống là Lý Giác. Khi sư Pháp Thuận mất ( 991 ) thì vua Lê Đại Hành chỉ còn Vạn Hạnh để tham vấn việc nước. Ngay từ năm 980 sư Vạn Hạnh đoán trước " nội trong ba bảy ngày quân Tống sẽ rút lui ", quả nhiên vua Lê dụng mưu ly gián, quân Tống phải rútvì nội biến. Tự đấy vua Lê Đại Hành rất kính trọng Sư và khi nhà vua muốn đánh Chiêm Thành để cứu sứ giả ( Từ Mục ) ta về cũng tới hỏi Sư trước, Sư nói trận này đánh tất thành công không phải do dự. Quả nhiên việc bình Chiêm thành công lừng lẫy, vua Chiêm là Parame bị chém tại trận.

Sau khi bậc anh quân thăng hà, Ngọa Triều Lê Long Đĩnh tàn bạo bệnh hoạn, Sư Vạn Hạnh đã vì nước vận động đưa người hiền Lý Công Uẩn lên ngôi. Thuở thiếu thời Lý Công Uẩn tới học ở chùa Lục Tổ và gập Sư Vạn Hạnh tại đây, Sư thấy họ Lý tướng mạo phi phàm đã lấy làm lạ, biết là bậc chân nhân thiên tử. Sư dùng nhiều phương pháp như viết chữ " thiên tử " trên lưng một con chó trắng ở làng Cổ Pháp rồi truyền rộng lời đoán rằng chó tượng trưng năm Tuất, bậc thiên tử sinh vào năm Tuất ( Lý Công Uẩn sinh năm Giáp Tuất 974 ) và xuất hiện vào năm Tuất ( Canh Tuất 1010 ) sẽ mang lại thanh b́nh thịnh trị

Trải qua ba triều Đinh, Lê, Lý, Sư Vạn Hạnh đã cống hiến trọn đời cho dân tộc và Đạo pháp hành nghiệm. Ngay cả việc rời đô từ đất Hoa Lư chật hẹp, vận số ngắn ngủi ra Thăng Long với thế đất rồng quấn hổ phục, ở giữa Đông Tây Nam Bắc, muôn vật rất thịnh và phồn vinh, Sư là nhà chiến lược đặt trường kế non sông . Chính Sư viết ra những lời Sấm đầu tiên mà 500 năm sau Trạng Trình đã dùng làm khởi điểm cho tập Sấm ký. Vừa là thầy dậy Lý Công Uẩn từ nhỏ, vừa làm quốc sư cho vị vua sáng nghiệp suốt 15 năm, Sư Vạn Hạnh đã tận dụng kiến văn và trí huệ tới mức siêu đẳng, nghĩa là vận động chuyển hóa tâm thức bằng cách đi vào đáy sâu tàng thức quần chúng, từ đó dấy lên lòng tin vào hồng vận hưng long của triều đại, khi quần chúng đã tin, khi nhân tâm đã định, tức là việc trị nước đạt tới 80-90 % rồi vậy.

Năm 1025 Sư già không bệnh mà hóa, trước khi hóa Sư chỉ dậy cho đệ tử : " Các con nên trụ ở đâu ? thầy không trụ ở nơi có thể trụ mà cũng không trụ ở nơi không thể trụ " , đây là triết lý hành nghiệm không nương tựa vào đâu ngoài ḿình mà phải tự ḿình thắp đuốc lên mà đi, rồi Sư đọc bài kệ :

Thân như điện, ảnh, hữu hoàn vô

vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô


nhậm vận thịnh suy vô bố úy

thịnh suy như lộ thảo đầu phô

tạm dịch :

Thân như chớp nhoáng, hữu rồi vô

cây cỏ xuân tươi, thu tàn khô

theo vận thịnh suy đừng lo sợ

thịnh suy : đầu cỏ hạt sương phô

Câu " nhậm vận thịnh suy vô bố úy " kết tinh tinh thần Tam giáo, sống theo vận trời, nhìn thịnh suy như chu kỳ thiên nhiên tất yếu mà không lo sợ, an nhiên tự tại hành nghiệm. Đấy chính là khởi điểm của 400 năm quân chủ nhân quốc ( X- XIV ) bằng chủ đạo Nhập thế tích cực trong tinh thần xuất thế cao thượng vậy.

*

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm : nhà tiên tri của dân tộc với tư tưởng TRUNG TÂN và quốc sách NAM TIẾN

Cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, cách đây khoảng 500 năm, xuất hiện trên thế giới hai nhà tiên tri lừng danh là Trạng Trình bên Việt Nam và Nostradamus bên Pháp. Thời đại này Tây phương nổi lên phong trào Tin Lành, bên Tầu nẩy ra tân Nho thuyết của Vương Dương Minh, bên ta phát sinh Thánh mẫu Liễu Hạnh, bắt đầu thực sự Nam Tiến mở đầu khúc rẽ lịch sử văn hóa trọng đại nhất kể từ ngày lập quốc.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhân vật ḷịch sử độc nhất trong sử Việt làm cố vấn một lúc cho ba bốn phe đối ngḥich nhau : Mạc, Lê, Nguyễn, Trịnh. Ông vượt lên như một Tiên ông trên non cao mây trắng nhìn xuống bàn cờ người, thương tình chỉ cho nhân thế đua chen vài nước cờ tiến thoái sinh tồn tạm thời, mặc dù trong đôi mắt tiên tri, ông đã nhìn thấy rất xa lẽ được thua " ngũ bách niên tiền, ngũ bách niên hậu ".

Ông sinh năm 1491, cách đây hơn 500 năm. Ông sinh sau Nguyễn Trãi 111 năm, trước Nguyễn Du 274 năm, kém Mạc Đăng Dung 8 tuổi và cùng quê Hải Dương với ông vua xuất thân đánh cá này.

Người mẹ có biệt tài lý số mang giấc mơ đẻ con làm Thiên tử mất sớm, người con tên Khiêm , tự là Hanh Phủ, theo quẻ : Khiêm tốn thì hanh thông, sau này tuy không làm vua nhưng làm thầy mấy ông vua và là chiến lược gia chỉ đạo cho dân tộc : Bắc hòa, Nam tiến.

Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy học giỏi nổi tiếng trong giới nho lâm nhưng ông bỏ không dự khoa thi 1523 và 1526 vào thời hỗn loạn cuối triều Lê, bỏ khoa đầu tiên của nhà Mạc vì thiên hạ còn chưa phục tùng, tới năm 1534-35, đời vua Mạc Đăng Doanh thịnh trị vương đạo nhất triều Mạc, ông mới dự thi và đậu Trạng Nguyên. Năm ấy ông đã 44 tuổi.

Đỗ đầu thi hương, thi hội, thi đình, Tam nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm được bổ nhiệm Đông Các hiệu thư ( sửa chữa văn thơ ), sau thăng Tả Thị Lang Bộ Hình, Bộ Lại, kiêm Đông Các Đại Học Sĩ ( Tam phẩm ). Trong 8 năm tại triều ( 1535-1542 ) ông từng dâng sớ xin chém 18 lộng thần. Năm 51 tuổi đời vua Mạc Phúc Hải, ông cáo quan về quê. Ít năm sau triều đ́inh lại vời ông ra làm Thượng Thư Bộ Lại, Thái Phó, phò giúp vua nhỏ Mạc Phúc Nguyên ( 1546-61 ), cùng với Mạc Kính Điển là chú vua và là cột trụ chống đỡ nhà Mạc.

Trong khoảng 55 tới 73 tuổi, Nguyeăn Bỉnh Khiêm tuy không ở hẳn kinh đô Thăng Long, nhưng vẫn cáng đáng nhiều việc triều chính, lúc bàn quốc sự, lúc đi đánh giặc, nhà Mạc tôn kính ông như quân sư, phong ông làm Trình Tuyền Hầu ( vì thế dân gian mới gọi là Trạng Trình ). Mãi tới ngoài 70 tuổi ông mới hoàn toàn quy ẩn nơi quê nhà.



THỜI QUY ẨN VÀ TƯ TƯỞNG TRIẾT LÝ TRUNG TÂN

Ông về quê năm 1563, sống đời tiên thoát tục trong Am Bạch Vân, bắc cầu Trường Xuân, Nghênh Phong, làm nơi nhàn tản gió mát trăng trong. Ông lại khuyên dân làng trồng cây bờ đê để lấy bóng dâm, mở chợ làm nơi buôn bán, tu sửa đình chùa... Ông cùng học trò dựng quán Trung Tân nơi bến Tuyết giang, cho khắc văn khuyến Thiện trên bia đá, bài bia này nói lên triết lý tư tưởng cao siêu của Trạng Trình :

"... Toàn kỳ thiện giả vi trung, bất toàn kỳ thiện giả tắc phi trung dã... Tân giả tân dã, tri sở chỉ vi yếu tân, bất tri sở chỉ tắc mê tân dã... Trung chi sở tại, tức chí thiện chi sở tại... "

nghĩa là : " vẹn toàn điều Thiện là Trung, không vẹn toàn điều Thiện thì không phải là Trung... Tân là cái bến, biết chỗ dừng lại là bến chính, không biết chỗ dừng lại là bến mê...Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ Chí Thiện... "



Có lẽ trong nghìn năm Nho học mới thấy một nhà Nho giải nghĩa chữ Trung Dung một cách giản dị, đầy đủ và sáng tạo như vậy. Cốt tủy của Trung phải là Thiện, không có lòng Thiện thì biết đâu là chỗ Trung, chỗ đúng tiết, chỗ " juste milieu " mà dừng lại ! Tâm bất chính thì lạc vào bến mê, tâm giác ngộ thì biết bờ bến để neo thuyền, tư tưởng này rất gần tư tưởng " Đáo bỉ ngạn " tức tới được bến của nhà Phật. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nối Nho vào Phật Lão, mang lại cho nhà Mạc vinh dự tiếp tục tư tưởng Tam Giáo Đồng Tôn mà nhà Lê độc tôn Tống Nho đã đánh mất, và đánh mất rất nhiều truyền thống dân bản khai phóng của Lạc Việt.

Ở tuổi thất thập cổ lai hy, Trạng Trình có phong thái của một Lã Vọng Khương Tử Nha ngồi câu bên bờ sông Vỵ, một Gia Cát Lượng nằm ngâm thơ chân núi Ngọa Long :

Ngư ông bất ngộ Đào nguyên khách

khởi thức hưng vong thế cổ kim !



Tương truyền cụ Trạng thường cùng các nhà sư già đi thăm các nơi danh lam thắng cảnh, nay Yên Tử, Đồ Sơn, mai Ngọa Vân, Kim Hải...học trò trước sau đông tới ba nghìn người. Cụ có ba phu nhân , 7 trai và 5 gái.

Năm 1585 tuổi già lâm bệnh, biết ḿình khó qua, cụ Trạng 95 tuổi còn dâng sớ xin vua " ... thần tính độ số thấy vận nước nhà đã suy, vận nhà Lê đến hồi tái tạo, ý trời đã định, sức người khó theo. Song nhân giả có thể hồi thiên ý, xin nhà vua hết lòng tu nhân phát chính, lấy dân làm gốc, lấy nước làm trọng, trong sửa sang văn trị, ngoài chuyên cần võ công, may ra giữ được cơ nghiệp tổ tiên, thì thần chết cũng được thỏa lòng ". Nhà Mạc cử cột trụ Triều đình là hoàng thân Khiêm Vương Mạc Kính Điển cùng các quan về tế lễ, sai lập đền thờ, cấp ruộng tự điền trăm mẫu, vua Mạc Mậu Hợp lại đích thân viết chữ đề lên đền thờ : " Mạc Triều Trạng Nguyên Tể Tướng Từ ".

Đạo Học của Bậc Quân Sư

Từ cổ xưa, trước khi rơi vào cái học Tống Nho khoa cử độc tôn, tầm chương trích cú, người trí thức theo Đạo học, học để hành, hành tàng theo đạo. Đạo học là Đại học, quan để quán, bao quát mà vẫn qui về một mối ( Uni- versity ). Trạng Trình và các môn đệ của ông như Trạng Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ ( tác giả Truyền Kỳ Mạn Lục ), Nguyễn Quyện ( danh tướng nhà Mạc, tiên tổ Nguyễn Du ), Trương Thời Cử, Trạng Giáp Hải, Lương Hưũ Khánh... tập hợp thành một môn phái Đạo học, Đại học chi đạo, tiếp nối truyền thống Lý, Trần, học cả Nho lẫn Phật, Lão, cả Tứ Thư Ngũ Kinh lẫn các môn lý học, huyền học, binh thư, phong thủy địa lý... Trạng Trình phân phối môn đệ đi mọi hướng đất nước : Phùng Khắc Khoan, Lương Hưũ Khánh... vào với nhà Lê trung hưng ở Thanh Hóa, Nguyễn Đình Thân, người cùng quê Hải Dương, đi với Nguyễn Hoàng vào Hoành Sơn, Trạng Giáp Hải, Nguyễn Quyện và chính ḿình phò Mạc tại quốc đô Thăng Long cho tới gần hết thế kỷ XVI.

Sở học của Trạng có lẽ được chính bà mẹ nuôi dưỡng uốn nắn từ nhỏ : học để làm vua, không làm vua thì cũng làm thầy vua, đấy là truyền thống " đế vương chi học " cao siêu của bậc đại nhân :

Cao khiết thùy vi thiên hạ sĩ

du nhàn ngã thị địa trung tiên

mà muốn vậy trên phải thông thiên văn, dưới phải rành địa lý, mưa gió nắng bão phải biết trước như Gia Cát , Trương Lương, chiến lược chiến thuật đều tinh thông nên có thể xếp đặt thiên hạ như bàn cờ, nhà Mạc một phần, Lê Trịnh một miếng, họ Nguyễn một phương...thế Tam quốc này chính Trạng Trình và môn đệ phân định thi hành, mặc dầu Trạng Trình cũng như Gia Cát, biết là mình đang cố lấy nhân lực để cưỡng mệnh trời, thế loạn mà muốn trị cũng giống như " con ngao to đội núi đỡ trời cao " . Cho nên dù có than :

Cổ lai nhân nghĩa tri vô địch

hà tất khu khu sự chiến tranh

nhân nghĩa xưa nay là vô địch

sao vẫn khư khư việc chiến tranh



vẫn phải cáng đáng thiên mệnh, tận kỳ tính, lo toan chuyện dân chuyện nước.

Trạng Trình dùng siêu nhãn chiến lược và phong thủy để mở ra mặt trận Nam phương cho Nguyễn Hoàng : vừa thực hiện việc mở rộng bờ cõi, vừa lấy thế hiểm mà dung thân, ông thôi thúc Phùng Khắc Khoan vào Thanh Hóa với nhà Lê và sau này, 1598, chính họ Phùng đi sứ sang Tầu đã dàn xếp chấp nhận để cho họ Mạc dung thân ở đất Cao Bằng. Chính Trạng Bùng là người theo chí thầy viết tập Sấm Văn và tập Chu Dịch Quốc Âm Ca Quyết , việc ông hai lần gặp Liễu Hạnh Thánh Mẫu hiển linh, lần đầu ở Lạng Sơn, lần sau ở Tây Hồ, là một khúc mắc lớn. Có thể chính hai thầy trò, đều tinh thông lý số, đều viết Sấm, nhân chuyện linh thiêng mà dựng nên một tín ngưỡng bình dân, lấy h́inh ảnh một bà Mẹ dân tộc làm mái che bên cạnh Phật, Lão, đang bị Nho đè xuống ?

Bên cạnh những lời cố vấn như Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân cho Nguyễn Hoàng, Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản và Năm nay mất mùa, thóc giống không tốt, nên tìm giống cũ mà gieo mạ, cho Trịnh Kiểm tiếp tục phò Lê, hay dặn dò Cao Bằng tuy thiểu, khả diên sổ thế ( đất Cao Bằng tuy nhỏ nhưng cũng ở được mấy đời ) cho con cháu nhà Mạc, thơ văn xác nhận lý số sấm ký là một khía cạnh trong Đạo học của Trạng :

Thái cực nhất chu đàm luận liễu

Tri ngô thấu đắc Dịch chi thâm

Thái cực một vòng đàm luận xong

Biết tôi Dịch lý thấu thâm sâu



Quẻ Phục " thiên địa chi tâm " trong kinh Dịch được nhắc tới nhiều lần

Bác vãng tĩnh quan tri tất Phục

Nhất dương dĩ nghiệm Địa Lôi trung

Quẻ Bác qua, lặng yên xem Phục đến

Một Dương nghiệm thấy giữa Địa Lôi



( Quẻ Phục sau quẻ Bác, gồm Khôn trên và Chấn dưới, năm hào Âm đè ở trên, một hào Dương bắt đầu mọc ở dưới để Phục lên, vạn vật suy mãi phải nẩy ra thịnh, đen mãi cũng có hồi đỏ, ánh sáng cuối đường hầm, đó là tâm của trời đất không nỡ để cái ǵì suy mãi ).

Hay câu :

Tĩnh quan vạn vật sinh sinh ý

Ưng kiến vô cùng thiên hạ tâm

Lặng xem vạn vật sinh thông

Thấy lòng trời đất mênh mông vô cùng



Thái Ất, Thái Huyền hay là Chiêm Tinh Tuyết Sơn Hy Mã ?

Trạng Trình viết Sấm, không nghi ngờ gì nữa, nhưng viết Sấm bằng nguồn gốc lý số nào, đấy là một nghi vấn lớn.

Lý số học Đông phương phần lớn dựa trên Kinh Ḍich, từ Âm Dương Ngũ Hành, tới Bát quái, 64 quẻ...theo đó mà luận, từ Nho, Y, Lý, Số, cho tới làm lịch... đều không ra ngoài Dịch lý. Muốn kỹ càng chi tiết hơn, với các công thức áp dụng cho tiện việc tính toán ( ví lý số là một môn Toán học Thiên văn ), phải dùng thêm các sách luận giải về Kinh Ḍich, trong đó Thái Ất Thần Kinh là một.

Một học giả đời Minh là Viên Đàm lại cho rằng sách Thái Ất Thần Kinh chính là sách Thái Huyền của Dương Hùng đời Hán ( năm 53 tr.DL ). Dương Hùng tuy dựa theo Kinh Ḍch mà viết ra Thái Huyền, nhưng ông chi tiết hóa và công thức hóa thành một bộ sách áp dụng vào lý số nên sau này các nhà thuật số đều lấy đó làm cứ điểm.

Dịch lấy Âm Dương làm gốc, Huyền lấy một, hai, ba, làm gốc để giải mọi biến hóa trong trời đất :

Sau Dịch, đến Huyền, tới thế kỷ XI đời Tống, lại thêm Thần của Thiệu Ung ( 1011-1017 ) với sách Hoàng Cực Kinh Thế, luận cả về Dịch lẫn Huyền. Thần giống như Đạo, là Thiên lý, là Tính, dẫu biến dịch thế nào cũng vẫn không tiêu hoại ( tương tự như Phật tính ), nên phải Phục tính để đạt tới Thần, Thần lan khắp vạn vật, mọi sinh linh đều có trong bản chất.

Thiệu Ung nối kết Dịch với Đạo, với Phật ( lúc đó đạo Phật rất tḥinh ở bên Tầu ) và toán pháp hóa để tạo thành khoa lý số, cùng với Chu Đôn Di và nhất là Trần Đoàn ( số Tử Vi ).

Trạng Trình, có bà mẹ rất giỏi về lý số, có thầy trao truyền sách Thái Ất, tất phải tinh thông Dịch, Huyền và Thần. Đây là ba môn căn bản lý số mà từ đời Lý, Trần, các nhà sư Mật tông như Định Không, Vạn Hạnh có thể đã xử dụng để làm Sấm. Những sách này không phải bí truyền mà vì cao siêu quá nên ít nho sinh chịu nghiên cứu, chỉ có một số ít đầu óc thông minh, có năng khiếu thiên văn toán số, mới lĩnh hội được.

Vấn đề ở đây là ngay những sách Thái Huyền, Hoàng Cực, Tử Vi... đời Hán, đời Đường, đời Tống... đều chịu ảnh hưởng tới đâu của Mật tông Phật giáo Tây Tạng và huyền học Vệ Đà Ấn Độ do con đường Tơ Lụa ( Silk Road ) và đường biển phía Nam mang sang ? Nhìn bố cục lá số Tử Vi của Trung Hoa giống như lá số chiêm tinh của Nam Ấn Độ, xem cách tiên tri của các nhà sư đời Đinh, Lê, Lý... không thấy dấu ấn nhiều của dịch lý mà có thể đã dùng phương thức khác để đoán Tên người, đoán Nơi chốn, đoán Tinh đẩu hội tụ vào một điểm chuẩn xác trong thời gian và không gian... những tính toán chuẩn xác này vốn là ưu điểm của khoa chiêm tinh Ấn và khoa chiêm tinh Tây phương). Có thể suy diễn là Trạng Trình và các môn đệ tinh thông lý số như Trương Thời Cử, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan... đã dùng các tài liệu của Tầu và không thể không nghiên cứu các Sấm ký lưu truyền trong nhà chùa. Ta thấy Trạng rất thông đạo Phật, thường cùng các nhà sư già đi thăm các nơi danh thắng nhất là vùng Yên Tử trung tâm Thiền phái đời Trần, lại thêm có gạch nối rõ ràng giữa Sấm Vạn Hạnh và Sấm Trạng về điểm Thánh Xuất như " Lý đi rồi Lý lại về ", và Trạng Bùng quê quán Sơn Tây hẳn không thể không quan tâm tới " núi Tản sông Đà " là linh địa danh được nhắc tới nhiều lần trong tập Sấm.



Sấm Trạng Trình lưu truyền và ảnh hưởng ra sao ?

Sấm Trạng đầu tiên chắc được giữ kín đáo trong một nhóm môn đệ thân cận như Phùng Khắc Khoan, Trương Thời Cử, Nguyễn Dữ với số môn đệ đào tạo trong hơn 50 năm, lên tới 3000 người, thơ văn sấm ký của ông thầy hẳn được sao chép hoặc ít ra được truyền khẩu, chưa kể cả vua, quan và quần chúng đều biết rất nhiều về tài tiên tri của Trạng. Tập Sấm đi vào mọi giới và mọi nơi, kể cả vào Thuận Quảng với nhóm di dân mang theo cẩm nang " Hoành Sơn Nhất Đái, vạn đại dung thân " và có thể có cả người của Trạng gửi theo lớp viễn chinh ấy.

Điều chắc chắn là Sấm Trạng có ảnh hưởng sâu rộng trong giới tranh bá đồ vương ngay từ thời thế kỷ XVII. Năm 1671, có đảng Bạch Xỉ được thành lập để phò Lê diệt Trịnh, tên Bạch Xỉ lấy từ Sấm Trạng Trình, chỉ danh bậc đại nhân sẽ xuất hiện. Đời Gia Long, đầu thế kỷ XIX, Lê Duy Hoán khởi nghĩa ở Thanh Hóa, làm lá cờ thêu chữ " Phá Điền ", lấy từ câu" Phá điền Thiên tử giáng trần " của Sấm Trạng, Lê Duy Hoán tuổi Thân, phá điền chiết tự có thể thành chữ Thân ! Thời đầu thế kỷ XX, có nhóm thần Tản Viên ở miền Bắc Việt, sấm Phật Thầy Tây An và liên tiếp tới nay, không ai là không biết và không nhắc tới Sấm Trạng Trình !

*



LÝ ĐÔNG A, nhà Tư Tưởng Nhân Chủ thấu đạt truyền thống dân bản huyết mạch Việt.

Trong thập niên đầy biến động 1940, hai nhà tư tưởng cách mạng để lại dấu ấn lâu dài là Huỳnh Phú Sồ, người để lại một môn phái Hòa Hảo với 2 triệu tín đồ, và Lý Đông A, để lại một hệ tư tưởng thuần Việt vang vọng cho tới ngày nay.

Lý Đông A (1920- 1946 ?) cũng như Vạn Hạnh, đạo trường mênh mông tới tận Hy Mã Lạp Sơn, ông ao ước :

Lập lại non sông xưa Bách Việt

Dựng nên thế giới mới Duy dân

Chèo sang một bến Cực lạc

Vớt lấy năm bể trầm luân..

Và ông thấu hiểu “ thân như điện ảnh hữu hoàn vô” ( sư Vạn Hạnh), nên nhập thế trong tinh thần xuất thế cao cả :

Làm tròn giấc mộng tiền sinh ấy

Trở lại non sâu nhập Niết Bàn

Bến Cực Lạc, cõi Niết Bàn..ôi đẹp thay! Y Bát Viêm Việt trong hội Long Hoa này, quét sạch tà đạo, thắng nghĩa Việt dâng lên rờm rợp non sông gấm vóc, dài rộng từ Động Đình Hồ xuống tận Cửu Long…Quy Long Trận, Kỳ Tuyệt Ca, đại thống giềng mối năm châu :

Sông Hằng, nước Hán đều quy lại

Đảo Úc tầng A cũng phục quanh

Ruộng đất muôn xưa nhà Bách Việt

Hồng Bàng còn để mối tân canh..



Lý Đông A, không hẳn sống ở thời thế kỷ xẻ hai, người ấy là hoá thân của Vạn Hạnh, của Trạng Trình, mà cả ba cùng là hoá thân của Thánh Tản…Biết bao lần kỳ sĩ Hồng Bàng nhắc tới Viêm Việt nước non xưa :

Sao Viêm phương chọn chốn giáng tinh thần

Trong muôn hoa lấy một ở hồng trần



…Tất cả bởi cháu con bền bĩ mãi

Nên kế khai đạo thống đất Viêm phương



…Giếng Tiên Rồng văn hoá cực Viêm phương

Nước Đại Việt xuân thu hùng vạn thế

( trích Đạo Trường Ngâm) (1)



Chính khí Viêm phương từ Động Đình Hồ tụ về Tổ sơn Tản Viên (Dư Địa Chí- Nguyễn Trãi), nơi an trú hồn thiêng sông núi, đỉnh mây che vua cuối nhà Hồng Bàng, Sơn tinh nhổ bọt vào mâm lễ gã pháp sư Cao Biền, cả nghìn năm sau dường như sư Vạn Hạnh đã lên đây dựng Bạch Xỉ Tự để đất tái phát cho họ Lý “ nghìn năm lại thấy mọi nơi vẹn toàn”.

Trạng Trình, cả tập Sấm, xoáy quanh non Tản :

Bảo sơn thiên tử xuất

Bất chiến tự nhiên thành

Lại nói sự Đà giang sinh thánh

Hoàng phúc xưa đã định Tây phương

Thuỷ trung tàng Bảo cái

Hứa cập thánh nhân hương

Tại sơn vô hổ lang

Thất thập nhị hiền tướng

Phụ tá thánh quân vương (2)



Trạng Trình lặn sâu vào tàng thức Viêm Việt, vọt lên lời sấm Bạch Vân, giữa Ba Vì tay hổ, Tam đảo tay long, ngóng đợi cùng muôn dân một thầy Bạch Sỉ mà bà Chúa Liễu Hạnh giáng trần từng ngụ ngôn “ non xanh mà mọc trắng răng mới kỳ”, thì Lý Đông A cũng lặn trong dòng máu Việt ấy bao lần từ bài thơ Bạch vân điếu, Bạch vân đàn hoạ, đến bài Đà giang :

Sách Hoá trắng tinh không một chữ

Gậy thần đốt trúc có hai đầu

(-cây gậy đầu sinh đầu tử của thánh Tản- LVV chú thích)

Thái bình làm sách Ước

Xây đắp cõi thần châu

( sách Ước thánh Tản- Thần châu thu cả mọi nơi vẹn toàn-sấm Trạng- LVV chú thích).



Và Lý Đông A còn lấy Tản Viên như một điểm xuất phát tư tưởng phục hoạt tâm thức giống nòi, nơi trao truyền y bát sấm ký, trung tâm đạo thống Tam Tài (3):

…Hoàn nguyên tứ hướng về Nam hộ

Thống nhất tam tài ở Việt Làng

..Rùa Rồng gọt giữa hoa thuần tuý

Gậy sách tiêu dao nhẽ trị bình



(trích Đạo Trường Ngâm- LVV gạch dưới tô đậm những từ liên quan tới Sấm Trạng Trình)



Đạo thống Việt, tâm thức Văn Lang, là một cuộc trao truyền y bát : Vạn Hạnh để lại : Lục thất niên gian, thiên hạ thái bình..cho Trạng Trình : Chữ rằng lục thất nguyệt gian, ai mà biết được mới gan anh tài…Tới chiều lục thất xuất thánh nhân…Và Lý Đông A trong dòng siêu thức dân tộc, nắm bắt, quán cảm : Thuở Vạn Kiếp tiên trao khét oanh liệt, Ngày lục niên đã hiện thét quang vinh…Trạng Trình tiên tri một bậc thánh nhân sẽ “ Thần châu thu lại mọi nơi vẹn toàn” thì Lý Đông A cũng nhắc lại : Thái Bình làm Sách Ước, Xây đắp cõi Thần châu, để tới ngày :

Bể Nam trời đất vuông tròn

Trăm con giống Việt một hòn máu tươi..



Nhưng Lý Đông A cũng là một tư tưởng gia nhận định sáng suốt về những giới hạn của triết lý Đông Tây, ông từng suy tưởng hàng năm trời trên Trúc Lâm Yên Tử, cả duy tâm lẫn duy vật, trong bộ Chu Tri Lục-tìm cái Tri trọn vẹn-dựa trên nguyên lý Tổng thể- một cái nhìn tập đại thành gestalt chu tri mọi lăng kính, Đối lập-Thống nhất, dẫn tới nguyên lý động hướng thượng, Lý Đông A muốn đưa ra một con đường thắng nghĩa tư tưởng vượt lên tâm-vật, bao gồm Duy Nhiên (vũ trụ quan-thiên nhiên), Duy Nhân (nhân vị con người) và Duy Dân ( dân quyền, dân tộc), ba chặng này phối lại chặt chẽ với nhau, nhân tính, nhân bản và nhân chủ là một tổng thể năng động, tương tác, Lý Đông A nhấn mạnh Nhân chủ như một khởi điểm cho Dân chủ, nhân quyền và dân quyền phải song hành, nhân trị bảo đảm dân chủ khỏi sa đoạ và sa lầy trong pháp trị, nói cách khác nhân chủ dẫn dân chủ lên tầng cao hướng thượng, nhân loại cần giác ngộ nhân tính mới đạt tầng cao thái bình Vạn Xuân được.

Trong bối cảnh thế chiến thứ II, giữa triết lý Duy tâm, duy lý, duy vật, giữa sự tan rã của văn minh Đông phương, giữa áp lực biện chứng Do Thái Đức Nga, Lý Đông A là hồn Viêm Việt an nhiên tự tại phân tích tổng hợp những sơ tố triết học, cổ sử học, xã hội…để đưa ra một lối thoát, một tân đạo chẳng những cho dân Việt mà còn cho cả nhân loại nữa.



Chú Thích

1- Đạo Trường Ngâm- Lý Đông A, bản 1985 Nhân Chủ Học Xã.

2- Triết lý Lý Đông A-Phạm Khắc Hàm-Diễn Dàn Địa Lý Nhân Vnă VN-1998

3- Xem Việt Sử Siêu Linh- Lưu Văn Vịnh, xb 1999.

4- Vua Lý từng ca ngợi : Vạn Hạnh dung tam tế, Chân phù cổ SẤM ky..Cùng ý ấy.

5- Nền Nhân Chủ thâu tóm tinh tuý đạo học Đông phương- Đôi khi, vì sở tri chướng, khó thâu lượm kỳ diệu tập đại thành thắng nghĩa, nên có người, vội cho Lý Đông A là một “ thiên tài xẩy non”. Thật ra truyền nhân Viêm Việt này đã sống cả 4000 năm với siêu thức tuệ nhãn linh diệu Việt để sáng tác ngay ở tuổi ngoài 20, với lối viết cô đọng gấp rút trong 2 năm 1943-45 nên người đọc không dễ nắm bắt. Ông là người nhìn ra rất sớm, có lẽ sớm nhất, nguồn cội Lạc Việt Động Đình Hồ, Trống Đồng, tầm quan trọng của thế chiến lược Thái Bình Dương Nam Á, khai mào cho hướng khảo luận về dân tộc VN của các học giả Nguyễn Đăng Thục, Kim Định v..v..thời 1950-60.

 

   
 
 
    Thoi Nay Montreal - Giai Tri va Doi Song

Mục lục

Thời Hùng Vương:

Ôn cố tri tân:

TL&BK:

   
 

Copyright © 2011 | TN InfoWay