| |
NGHÌN
NĂM TƯ TƯỞNG VIỆT: Vạn
Hạnh-Trạng Trình-Lý Đông A
LƯU VĂN VỊNH
Nhìn lại ba đỉnh cao tư tưởng
Việt, qua ba nhân vật đạt đạo
truyền thống Việt, để thấu đạt
nghìn năm văn hiến Việt : Vạn
Hạnh tk XI, Trạng Trình tk XV
và Lý Đông A tk XX, họ là
truyền nhân từ một Dòng Tâm
Thức Viêm Việt, họ đã mang hào
khí Việt trong lòng, từ Động
Đình Hồ, tới đỉnh thiêng non
Tản..trên đỉnh ấy cuốn Sách
Ước dân tộc vẫn mở ra, cả 4000
năm xưa, có ba người đọc, quán
thông, hoà vào tim óc, ba nhân
vật cách nhau khoảng ngũ bách
niên : Nòi giống nào, dân tộc
nào, muốn trường tồn mà chẳng
có truyền nhân kỳ diệu, tiên
tri prophets, những bóng cao
lịch sử rờm rợp oai linh nhô
nên từ dòng máu cộng thể giống
nòi..Nostradamus, truyền nhân
kỳ diệu Do Thái, cùng thời với
Trạng Trình, chẳng ngồi thiền
định trước thau nước quán
chiếu vận mệnh nhân loại là gì
! Gandhi, truyền nhân giòng
tộc Hindi, không phải là người,
ngài là Á thánh, là bông hoa
bất tử Vệ Đà..là diệu âm thánh
ca tú khí..Những cái bóng
khổng lồ ấy, che rợp thế gian,
như cái tản cái lọng che chở
dòng giống, kinh qua tang
thương đại khổ hải, mà vượt
sang bờ Tứ Hải Lạc Âu Ca (Trạng
Trình).
Tuỳ cơ Trời, những mẫu người
dung tam tế, thấu đạt thời thế
cơ, quán thông Trời Đất Người,
hành xử với sách lược khác
nhau :
Vạn Hạnh phù trợ họ Lý tâm
Phật, phúc dầy, 216 năm, di
kinh đô từ Hoa Lư ra trở lại
đất cũ Hùng Vương có Tam đảo
Ba Vì làm án che, có Tây Hồ
não bộ trung cung, Thăng Long
rồng bay ngàn năm Đại Việt,
phục hoạt làng xã văn minh
Hùng Lạc sau gần ngàn năm bị
Tầu làm hư hoại.
Trạng Trình sống giữa thời
phân hoá, nhất thời phò nhà
Mạc trở lại cội rễ Lý Trần,
ngồi Bạch Vân Am ghi sấm ký,
vạch nghĩa Toàn Kỳ Thiện Vi
Trung ( Toàn Thiện đạt nghĩa
lý Trung dung) chỉ đạo chiến
lược Hoành Sơn làm thế vạn đại
dung thân cho dân tộc, là vì
Hán tộc mỗi ngày một lớn, châu
thổ Hồng Hà phải lấy Trường
sơn làm xương sống cự lại Bắc
phương du mục hùng hổ, làm thế
ỷ dốc trường tồn, vả lại thế
gian biến động, Viêm Việt lửa
phương Nam cần chín đầu rồng
Cửu Long phun hào quang chói
lọi Đông Á Thái Bình :
Hiệu xưng thiên hạ Thái Bình
Đông Tây có sự, Nam thành quốc
gia
(sấm Trạng Trình)
Lý Đông A sinh vào thời tranh
dành ý thức hệ, tranh dành tôn
giáo, tranh dành phe phái..ông
mở trang sách Ước, diễn lại
cho giống nòi nằm lòng, bảo
trì truyền thống Việt, căn cơ
Việt, ý chí Việt..ông mò gươm
thiêng đáy Động Đình hồ, ông
lặn trong gió đáy tàng thức
Việt, ông đi giữa bông lau
đường vua Đinh, ông vận động
bản Mường động Mán, ông là
ngọn đuốc sống, lấy lửa từ
Viêm Việt cố quận, mồi sang
Lạc Việt, ấp ủ truyền đạt giọt
máu đào Hồng Bàng, ông là Đại
Việt Âm trầm hùng, là chính
khí Việt thắng nghĩa, rờm rợp
cờ Vạn Thắng Vạn Xuân, ấp ủ
hồn Nhân chủ giữa cõi Sa bà
trao truyền y bát đại thống
Việt. Giữa Tây, Tầu, Nga..ông
dơ cao ngọn cờ thuần Việt,
viễn kiến một Thái bình Nam Á
liên bang, ông trụ vào Đạo
trường vượt ý hệ, thoát phân
cực, để lại cho hậu thế một
chủ đạo dân tộc thuần thành,
một đại hồ sâu thăm thẳm mặc
sức múc lên hứng cảm: nào
nghiên cứu Trống Đồng, Bách
Việt Tiên Rồng, nào khảo cổ
Kinh Dương Lạc Âu, nào Động
Đình, nào Việt Nho, Việt Dịch,
nào phục hoạt Lý- Trần..tất cả,
từ giữa thế kỷ XX tới nay..bao
người đã và đang khơi quật lại
bờ luỹ Văn Lang chính là nhờ
hồi trống dục dã đại cáo của
trang truyền nhân Việt :
Đại cáo lại ban lời Bách Việt
Quỳnh ca luôn tấu khúc duy dân
Trời Nam chung bọc Rồng Tiên
cả
Nhắc để lên đài sống Vạn Xuân
Tìm hiểu ba truyền nhân Viêm
Việt, lĩnh hội phần nào thâm
diệu sách Ước, với tâm thành
khai ngộ..chính kiến, tinh
tường.. bởi vì họ hội tụ tinh
tuý giống nòi, họ sống nghìn
năm (4), họ quán thông thiên
văn địa lý.
SƯ VẠN HẠNH với TINH THẦN ĐỒNG
TÔN ĐẠI VIỆT
Sư Vạn Hạnh họ Nguyễn, không
rõ sinh năm nào, nhưng mất vào
năm 1025 dưới Triều vua Lý
Thái Tổ. Về sau vua Lý Nhân
Tông 1072-1127 truy tặng một
bài kệ thâu tóm thân thế tư
tưởng Vạn Hạnh như sau :
Vạn Hạnh dung tam tế
chân phù cổ sấm ky
hương quan danh Cổ Pháp
trụ tích trấn vương kỳ
Vạn Hạnh thông ba cõi
chính hợp lời sấm xưa
quê hương tên Cổ Pháp
chống gậy giữ kinh kỳ
Vạn Hạnh dung thông quá khứ,
hiện tại, tương lai, dung hợp
Phật, Khổng, Lão, dung hóa
pháp môn Tổng Trì Tam Ma Địa
thành lời Sấm , như một khế cơ
huyền vi vào việc trị nước an
dân vào buổi đầu thời đại độc
lập quốc gia.
Thuở nhỏ Sư tu ở chùa Lục Tổ ,
thuộc dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu
Chi tinh thông Tam Tạng, Bách
luận, Bát Nhã Hoa Nghiêm...chú
trọng về Mật Tông " bất lập
văn tự, giáo ngoại biệt truyền
" giản dị, gọn, nhẹ, rất hợp
với tâm tính của khối dân xứ
nóng Đông Nam Á. Sư lại chuyên
về khoa Tổng Trì Tam Muội ,
nói ra lời nào là thành lời
tiên tri được người đời tin
tưởng.
Nguyên Kinh Tổng Trì được
chính Tỳ Ni Đa Lưu Chi dịch
tại chùa Pháp Vân vào khoảng
580-594. Nhà sư Đa Lưu Chi từ
Thiên Trúc sang Trung Hoa rồi
sang Việt Nam tu 14 năm là sư
tổ thiền phái Mật tông tại đất
Việt với nhiều thế hệ thiền
tăng xuất sắc như sư Pháp Hiền
( thế hệ II ), Đ̣inh Không (
thế hệ VIII ), La Quý An ( thế
hệ X ), Vạn Hạnh và Đạo Hạnh (
thế hệ XII ), Minh Không ( thế
hệ XIII )...
Sau giai đoạn Đại thừa Bát Nhã,
tới Đại thừa Duy thức là những
cao điểm phát triển của của
đạo Bụt nghiêng về trí huệ cao
siêu, tới giai đoạn Đại thừa
Mật giáo là chặng đường lan
tỏa sâu vào tàng thức cộng thể,
rộng vào siêu lực ẩn tàng
trong tâm thức, mênh mông bao
bọc các tín ngưỡng thần linh
khắp cõi mà không chấp vọng.
V́i thế từ thế kỷ thứ IV tới
thứ VIII Mật giáo đã phát
triển nhanh chóng vững vàng
thành Kim Cang Thừa lan ra
khắp Viễn Đông, từ Tây Tạng
sang Trung Hoa, Việt Nam...
Tổng Trì tiếng Phạn là Đà La
Ni, có nghĩa là duy trì thiện
pháp và ngăn ngừa ác pháp phát
sinh. Một trong bốn loại Đà la
ni ( pháp, nghĩa, chú, nhẫn )
là thần chú , một cánh cửa mở
ra từ Thiền siêu thức, một
gạch nối từ tâm thức bay lên
cõi phi phi tưởng, với những
mật ngôn như ngôn ngữ giao cảm
giữa những loài khác nhau trên
những quốc độ khác nhau của
tam thiên đại thiên thế giới.
Thần chú của Mật tông với hiệu
lực linh nghiệm đã là thần lực
gia hộ Triều Đinh, Lê và Lý.
Cả trăm trụ bia đá vùng Hoa Lư
còn ghi khắc kệ và chú từ thế
kỷ thứ X, các cột kinh này lấy
chú " Phật đỉnh Tôn thắng Đà
La Ni " làm chủ yếu như " muôn
nghìn ánh sáng làm chúng sinh
kinh động mà giác ngộ ", người
niệm chú này sẽ được tăng tuổi
thọ và được chư thần Bồ tát
phù hộ.
Ngay từ thế kỷ thứ VIII các
nhà sư Mật tông Ấn độ sang
Trung Hoa đã dùng Mật ngôn
thần chú phù trợ Triều vua
Đường. Trong những thế kỷ sau,
IX, X, XI... trung tâm Luy Lâu
vùng Kinh Bắc đã là nơi qua
lại của các danh tăng Ấn, Hoa,
Chiêm Thành...lại thêm các nhà
sư Việt sang Ấn du học như
Sùng Phạm ( thế hệ XI Tỳ Ni Đa
Lưu Chi ) du học chín năm, sau
về chùa Pháp Vân truyền dậy đệ
tử là Đạo Hạnh. Đạo Hạnh rất
giỏi pháp thuật thần thông,
từng tụng đủ 1 vạn 8 ngàn lần
Đại Bi Tâm Đà La Ni, dùng gậy
quăng xuống dòng nước chẩy
xiết, gậy dựng đầu lội ngược,
nhờ đó diệt được tà sư Đại
Điên là kẻ giết cha mình, sau
dốc chí tu tập, pháp lực càng
cao, có thể điều phục muông
thú, cầu mưa cầu gió, niệm chú
trị bệnh...
Vạn Hạnh cùng thế hệ tu học
với Đạo Hạnh, hẳn không lạ gì
những pháp thuật thần thông ấy.
Cùng với sư huynh Pháp Thuận,
hai vị quốc sư này đã dùng sấm
vĩ, độn số, phò trợ vua Lê Đại
Hành ( 980-1005 ) trong việc
trị quốc. Chính sư Pháp Thuận
đã giả làm người lái đò đối
đáp thi văn với sứ thần nhà
Tống là Lý Giác. Khi sư Pháp
Thuận mất ( 991 ) thì vua Lê
Đại Hành chỉ còn Vạn Hạnh để
tham vấn việc nước. Ngay từ
năm 980 sư Vạn Hạnh đoán trước
" nội trong ba bảy ngày quân
Tống sẽ rút lui ", quả nhiên
vua Lê dụng mưu ly gián, quân
Tống phải rútvì nội biến. Tự
đấy vua Lê Đại Hành rất kính
trọng Sư và khi nhà vua muốn
đánh Chiêm Thành để cứu sứ giả
( Từ Mục ) ta về cũng tới hỏi
Sư trước, Sư nói trận này đánh
tất thành công không phải do
dự. Quả nhiên việc bình Chiêm
thành công lừng lẫy, vua Chiêm
là Parame bị chém tại trận.
Sau khi bậc anh quân thăng hà,
Ngọa Triều Lê Long Đĩnh tàn
bạo bệnh hoạn, Sư Vạn Hạnh đã
vì nước vận động đưa người
hiền Lý Công Uẩn lên ngôi.
Thuở thiếu thời Lý Công Uẩn
tới học ở chùa Lục Tổ và gập
Sư Vạn Hạnh tại đây, Sư thấy
họ Lý tướng mạo phi phàm đã
lấy làm lạ, biết là bậc chân
nhân thiên tử. Sư dùng nhiều
phương pháp như viết chữ "
thiên tử " trên lưng một con
chó trắng ở làng Cổ Pháp rồi
truyền rộng lời đoán rằng chó
tượng trưng năm Tuất, bậc
thiên tử sinh vào năm Tuất (
Lý Công Uẩn sinh năm Giáp Tuất
974 ) và xuất hiện vào năm
Tuất ( Canh Tuất 1010 ) sẽ
mang lại thanh b́nh thịnh trị
Trải qua ba triều Đinh, Lê, Lý,
Sư Vạn Hạnh đã cống hiến trọn
đời cho dân tộc và Đạo pháp
hành nghiệm. Ngay cả việc rời
đô từ đất Hoa Lư chật hẹp, vận
số ngắn ngủi ra Thăng Long với
thế đất rồng quấn hổ phục, ở
giữa Đông Tây Nam Bắc, muôn
vật rất thịnh và phồn vinh, Sư
là nhà chiến lược đặt trường
kế non sông . Chính Sư viết ra
những lời Sấm đầu tiên mà 500
năm sau Trạng Trình đã dùng
làm khởi điểm cho tập Sấm ký.
Vừa là thầy dậy Lý Công Uẩn từ
nhỏ, vừa làm quốc sư cho vị
vua sáng nghiệp suốt 15 năm,
Sư Vạn Hạnh đã tận dụng kiến
văn và trí huệ tới mức siêu
đẳng, nghĩa là vận động chuyển
hóa tâm thức bằng cách đi vào
đáy sâu tàng thức quần chúng,
từ đó dấy lên lòng tin vào
hồng vận hưng long của triều
đại, khi quần chúng đã tin,
khi nhân tâm đã định, tức là
việc trị nước đạt tới 80-90 %
rồi vậy.
Năm 1025 Sư già không bệnh mà
hóa, trước khi hóa Sư chỉ dậy
cho đệ tử : " Các con nên trụ
ở đâu ? thầy không trụ ở nơi
có thể trụ mà cũng không trụ ở
nơi không thể trụ " , đây là
triết lý hành nghiệm không
nương tựa vào đâu ngoài ḿình
mà phải tự ḿình thắp đuốc lên
mà đi, rồi Sư đọc bài kệ :
Thân như điện, ảnh, hữu hoàn
vô
vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô
nhậm vận thịnh suy vô bố úy
thịnh suy như lộ thảo đầu phô
tạm dịch :
Thân như chớp nhoáng, hữu rồi
vô
cây cỏ xuân tươi, thu tàn khô
theo vận thịnh suy đừng lo sợ
thịnh suy : đầu cỏ hạt sương
phô
Câu " nhậm vận thịnh suy vô bố
úy " kết tinh tinh thần Tam
giáo, sống theo vận trời, nhìn
thịnh suy như chu kỳ thiên
nhiên tất yếu mà không lo sợ,
an nhiên tự tại hành nghiệm.
Đấy chính là khởi điểm của 400
năm quân chủ nhân quốc ( X-
XIV ) bằng chủ đạo Nhập thế
tích cực trong tinh thần xuất
thế cao thượng vậy.
*
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm
: nhà tiên tri của dân tộc với
tư tưởng TRUNG TÂN và quốc
sách NAM TIẾN
Cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI,
cách đây khoảng 500 năm, xuất
hiện trên thế giới hai nhà
tiên tri lừng danh là Trạng
Trình bên Việt Nam và
Nostradamus bên Pháp. Thời đại
này Tây phương nổi lên phong
trào Tin Lành, bên Tầu nẩy ra
tân Nho thuyết của Vương Dương
Minh, bên ta phát sinh Thánh
mẫu Liễu Hạnh, bắt đầu thực sự
Nam Tiến mở đầu khúc rẽ lịch
sử văn hóa trọng đại nhất kể
từ ngày lập quốc.
Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhân
vật ḷịch sử độc nhất trong sử
Việt làm cố vấn một lúc cho ba
bốn phe đối ngḥich nhau : Mạc,
Lê, Nguyễn, Trịnh. Ông vượt
lên như một Tiên ông trên non
cao mây trắng nhìn xuống bàn
cờ người, thương tình chỉ cho
nhân thế đua chen vài nước cờ
tiến thoái sinh tồn tạm thời,
mặc dù trong đôi mắt tiên tri,
ông đã nhìn thấy rất xa lẽ
được thua " ngũ bách niên tiền,
ngũ bách niên hậu ".
Ông sinh năm 1491, cách đây
hơn 500 năm. Ông sinh sau
Nguyễn Trãi 111 năm, trước
Nguyễn Du 274 năm, kém Mạc
Đăng Dung 8 tuổi và cùng quê
Hải Dương với ông vua xuất
thân đánh cá này.
Người mẹ có biệt tài lý số
mang giấc mơ đẻ con làm Thiên
tử mất sớm, người con tên
Khiêm , tự là Hanh Phủ, theo
quẻ : Khiêm tốn thì hanh thông,
sau này tuy không làm vua
nhưng làm thầy mấy ông vua và
là chiến lược gia chỉ đạo cho
dân tộc : Bắc hòa, Nam tiến.
Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy học giỏi
nổi tiếng trong giới nho lâm
nhưng ông bỏ không dự khoa thi
1523 và 1526 vào thời hỗn loạn
cuối triều Lê, bỏ khoa đầu
tiên của nhà Mạc vì thiên hạ
còn chưa phục tùng, tới năm
1534-35, đời vua Mạc Đăng
Doanh thịnh trị vương đạo nhất
triều Mạc, ông mới dự thi và
đậu Trạng Nguyên. Năm ấy ông
đã 44 tuổi.
Đỗ đầu thi hương, thi hội, thi
đình, Tam nguyên Nguyễn Bỉnh
Khiêm được bổ nhiệm Đông Các
hiệu thư ( sửa chữa văn thơ ),
sau thăng Tả Thị Lang Bộ Hình,
Bộ Lại, kiêm Đông Các Đại Học
Sĩ ( Tam phẩm ). Trong 8 năm
tại triều ( 1535-1542 ) ông
từng dâng sớ xin chém 18 lộng
thần. Năm 51 tuổi đời vua Mạc
Phúc Hải, ông cáo quan về quê.
Ít năm sau triều đ́inh lại vời
ông ra làm Thượng Thư Bộ Lại,
Thái Phó, phò giúp vua nhỏ Mạc
Phúc Nguyên ( 1546-61 ), cùng
với Mạc Kính Điển là chú vua
và là cột trụ chống đỡ nhà Mạc.
Trong khoảng 55 tới 73 tuổi,
Nguyeăn Bỉnh Khiêm tuy không ở
hẳn kinh đô Thăng Long, nhưng
vẫn cáng đáng nhiều việc triều
chính, lúc bàn quốc sự, lúc đi
đánh giặc, nhà Mạc tôn kính
ông như quân sư, phong ông làm
Trình Tuyền Hầu ( vì thế dân
gian mới gọi là Trạng Trình ).
Mãi tới ngoài 70 tuổi ông mới
hoàn toàn quy ẩn nơi quê nhà.
THỜI QUY ẨN VÀ TƯ TƯỞNG TRIẾT
LÝ TRUNG TÂN
Ông về quê năm 1563, sống đời
tiên thoát tục trong Am Bạch
Vân, bắc cầu Trường Xuân,
Nghênh Phong, làm nơi nhàn tản
gió mát trăng trong. Ông lại
khuyên dân làng trồng cây bờ
đê để lấy bóng dâm, mở chợ làm
nơi buôn bán, tu sửa đình chùa...
Ông cùng học trò dựng quán
Trung Tân nơi bến Tuyết giang,
cho khắc văn khuyến Thiện trên
bia đá, bài bia này nói lên
triết lý tư tưởng cao siêu của
Trạng Trình :
"... Toàn kỳ thiện giả vi
trung, bất toàn kỳ thiện giả
tắc phi trung dã... Tân giả
tân dã, tri sở chỉ vi yếu tân,
bất tri sở chỉ tắc mê tân dã...
Trung chi sở tại, tức chí
thiện chi sở tại... "
nghĩa là : " vẹn toàn điều
Thiện là Trung, không vẹn toàn
điều Thiện thì không phải là
Trung... Tân là cái bến, biết
chỗ dừng lại là bến chính,
không biết chỗ dừng lại là bến
mê...Nghĩa chữ Trung chính là
ở chỗ Chí Thiện... "
Có lẽ trong nghìn năm Nho học
mới thấy một nhà Nho giải
nghĩa chữ Trung Dung một cách
giản dị, đầy đủ và sáng tạo
như vậy. Cốt tủy của Trung
phải là Thiện, không có lòng
Thiện thì biết đâu là chỗ
Trung, chỗ đúng tiết, chỗ "
juste milieu " mà dừng lại !
Tâm bất chính thì lạc vào bến
mê, tâm giác ngộ thì biết bờ
bến để neo thuyền, tư tưởng
này rất gần tư tưởng " Đáo bỉ
ngạn " tức tới được bến của
nhà Phật. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã
nối Nho vào Phật Lão, mang lại
cho nhà Mạc vinh dự tiếp tục
tư tưởng Tam Giáo Đồng Tôn mà
nhà Lê độc tôn Tống Nho đã
đánh mất, và đánh mất rất
nhiều truyền thống dân bản
khai phóng của Lạc Việt.
Ở tuổi thất thập cổ lai hy,
Trạng Trình có phong thái của
một Lã Vọng Khương Tử Nha ngồi
câu bên bờ sông Vỵ, một Gia
Cát Lượng nằm ngâm thơ chân
núi Ngọa Long :
Ngư ông bất ngộ Đào nguyên
khách
khởi thức hưng vong thế cổ kim
!
Tương truyền cụ Trạng thường
cùng các nhà sư già đi thăm
các nơi danh lam thắng cảnh,
nay Yên Tử, Đồ Sơn, mai Ngọa
Vân, Kim Hải...học trò trước
sau đông tới ba nghìn người.
Cụ có ba phu nhân , 7 trai và
5 gái.
Năm 1585 tuổi già lâm bệnh,
biết ḿình khó qua, cụ Trạng
95 tuổi còn dâng sớ xin vua "
... thần tính độ số thấy vận
nước nhà đã suy, vận nhà Lê
đến hồi tái tạo, ý trời đã
định, sức người khó theo. Song
nhân giả có thể hồi thiên ý,
xin nhà vua hết lòng tu nhân
phát chính, lấy dân làm gốc,
lấy nước làm trọng, trong sửa
sang văn trị, ngoài chuyên cần
võ công, may ra giữ được cơ
nghiệp tổ tiên, thì thần chết
cũng được thỏa lòng ". Nhà Mạc
cử cột trụ Triều đình là hoàng
thân Khiêm Vương Mạc Kính Điển
cùng các quan về tế lễ, sai
lập đền thờ, cấp ruộng tự điền
trăm mẫu, vua Mạc Mậu Hợp lại
đích thân viết chữ đề lên đền
thờ : " Mạc Triều Trạng Nguyên
Tể Tướng Từ ".
Đạo Học của Bậc Quân Sư
Từ cổ xưa, trước khi rơi vào
cái học Tống Nho khoa cử độc
tôn, tầm chương trích cú,
người trí thức theo Đạo học,
học để hành, hành tàng theo
đạo. Đạo học là Đại học, quan
để quán, bao quát mà vẫn qui
về một mối ( Uni- versity ).
Trạng Trình và các môn đệ của
ông như Trạng Phùng Khắc Khoan,
Nguyễn Dữ ( tác giả Truyền Kỳ
Mạn Lục ), Nguyễn Quyện ( danh
tướng nhà Mạc, tiên tổ Nguyễn
Du ), Trương Thời Cử, Trạng
Giáp Hải, Lương Hưũ Khánh...
tập hợp thành một môn phái Đạo
học, Đại học chi đạo, tiếp nối
truyền thống Lý, Trần, học cả
Nho lẫn Phật, Lão, cả Tứ Thư
Ngũ Kinh lẫn các môn lý học,
huyền học, binh thư, phong
thủy địa lý... Trạng Trình
phân phối môn đệ đi mọi hướng
đất nước : Phùng Khắc Khoan,
Lương Hưũ Khánh... vào với nhà
Lê trung hưng ở Thanh Hóa,
Nguyễn Đình Thân, người cùng
quê Hải Dương, đi với Nguyễn
Hoàng vào Hoành Sơn, Trạng
Giáp Hải, Nguyễn Quyện và
chính ḿình phò Mạc tại quốc
đô Thăng Long cho tới gần hết
thế kỷ XVI.
Sở học của Trạng có lẽ được
chính bà mẹ nuôi dưỡng uốn nắn
từ nhỏ : học để làm vua, không
làm vua thì cũng làm thầy vua,
đấy là truyền thống " đế vương
chi học " cao siêu của bậc đại
nhân :
Cao khiết thùy vi thiên hạ sĩ
du nhàn ngã thị địa trung tiên
mà muốn vậy trên phải thông
thiên văn, dưới phải rành địa
lý, mưa gió nắng bão phải biết
trước như Gia Cát , Trương
Lương, chiến lược chiến thuật
đều tinh thông nên có thể xếp
đặt thiên hạ như bàn cờ, nhà
Mạc một phần, Lê Trịnh một
miếng, họ Nguyễn một phương...thế
Tam quốc này chính Trạng Trình
và môn đệ phân định thi hành,
mặc dầu Trạng Trình cũng như
Gia Cát, biết là mình đang cố
lấy nhân lực để cưỡng mệnh
trời, thế loạn mà muốn trị
cũng giống như " con ngao to
đội núi đỡ trời cao " . Cho
nên dù có than :
Cổ lai nhân nghĩa tri vô địch
hà tất khu khu sự chiến tranh
nhân nghĩa xưa nay là vô địch
sao vẫn khư khư việc chiến
tranh
vẫn phải cáng đáng thiên mệnh,
tận kỳ tính, lo toan chuyện
dân chuyện nước.
Trạng Trình dùng siêu nhãn
chiến lược và phong thủy để mở
ra mặt trận Nam phương cho
Nguyễn Hoàng : vừa thực hiện
việc mở rộng bờ cõi, vừa lấy
thế hiểm mà dung thân, ông
thôi thúc Phùng Khắc Khoan vào
Thanh Hóa với nhà Lê và sau
này, 1598, chính họ Phùng đi
sứ sang Tầu đã dàn xếp chấp
nhận để cho họ Mạc dung thân ở
đất Cao Bằng. Chính Trạng Bùng
là người theo chí thầy viết
tập Sấm Văn và tập Chu Dịch
Quốc Âm Ca Quyết , việc ông
hai lần gặp Liễu Hạnh Thánh
Mẫu hiển linh, lần đầu ở Lạng
Sơn, lần sau ở Tây Hồ, là một
khúc mắc lớn. Có thể chính hai
thầy trò, đều tinh thông lý số,
đều viết Sấm, nhân chuyện linh
thiêng mà dựng nên một tín
ngưỡng bình dân, lấy h́inh ảnh
một bà Mẹ dân tộc làm mái che
bên cạnh Phật, Lão, đang bị
Nho đè xuống ?
Bên cạnh những lời cố vấn như
Hoành sơn nhất đái, vạn đại
dung thân cho Nguyễn Hoàng,
Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản
và Năm nay mất mùa, thóc giống
không tốt, nên tìm giống cũ mà
gieo mạ, cho Trịnh Kiểm tiếp
tục phò Lê, hay dặn dò Cao
Bằng tuy thiểu, khả diên sổ
thế ( đất Cao Bằng tuy nhỏ
nhưng cũng ở được mấy đời )
cho con cháu nhà Mạc, thơ văn
xác nhận lý số sấm ký là một
khía cạnh trong Đạo học của
Trạng :
Thái cực nhất chu đàm luận
liễu
Tri ngô thấu đắc Dịch chi thâm
Thái cực một vòng đàm luận
xong
Biết tôi Dịch lý thấu thâm sâu
Quẻ Phục " thiên địa chi tâm "
trong kinh Dịch được nhắc tới
nhiều lần
Bác vãng tĩnh quan tri tất
Phục
Nhất dương dĩ nghiệm Địa Lôi
trung
Quẻ Bác qua, lặng yên xem Phục
đến
Một Dương nghiệm thấy giữa Địa
Lôi
( Quẻ Phục sau quẻ Bác, gồm
Khôn trên và Chấn dưới, năm
hào Âm đè ở trên, một hào
Dương bắt đầu mọc ở dưới để
Phục lên, vạn vật suy mãi phải
nẩy ra thịnh, đen mãi cũng có
hồi đỏ, ánh sáng cuối đường
hầm, đó là tâm của trời đất
không nỡ để cái ǵì suy mãi ).
Hay câu :
Tĩnh quan vạn vật sinh sinh ý
Ưng kiến vô cùng thiên hạ tâm
Lặng xem vạn vật sinh thông
Thấy lòng trời đất mênh mông
vô cùng
Thái Ất, Thái Huyền hay là
Chiêm Tinh Tuyết Sơn Hy Mã ?
Trạng Trình viết Sấm, không
nghi ngờ gì nữa, nhưng viết
Sấm bằng nguồn gốc lý số nào,
đấy là một nghi vấn lớn.
Lý số học Đông phương phần lớn
dựa trên Kinh Ḍich, từ Âm
Dương Ngũ Hành, tới Bát quái,
64 quẻ...theo đó mà luận, từ
Nho, Y, Lý, Số, cho tới làm
lịch... đều không ra ngoài
Dịch lý. Muốn kỹ càng chi tiết
hơn, với các công thức áp dụng
cho tiện việc tính toán ( ví
lý số là một môn Toán học
Thiên văn ), phải dùng thêm
các sách luận giải về Kinh
Ḍich, trong đó Thái Ất Thần
Kinh là một.
Một học giả đời Minh là Viên
Đàm lại cho rằng sách Thái Ất
Thần Kinh chính là sách Thái
Huyền của Dương Hùng đời Hán (
năm 53 tr.DL ). Dương Hùng tuy
dựa theo Kinh Ḍch mà viết ra
Thái Huyền, nhưng ông chi tiết
hóa và công thức hóa thành một
bộ sách áp dụng vào lý số nên
sau này các nhà thuật số đều
lấy đó làm cứ điểm.
Dịch lấy Âm Dương làm gốc,
Huyền lấy một, hai, ba, làm
gốc để giải mọi biến hóa trong
trời đất :
Sau Dịch, đến Huyền, tới thế
kỷ XI đời Tống, lại thêm Thần
của Thiệu Ung ( 1011-1017 )
với sách Hoàng Cực Kinh Thế,
luận cả về Dịch lẫn Huyền.
Thần giống như Đạo, là Thiên
lý, là Tính, dẫu biến dịch thế
nào cũng vẫn không tiêu hoại (
tương tự như Phật tính ), nên
phải Phục tính để đạt tới Thần,
Thần lan khắp vạn vật, mọi
sinh linh đều có trong bản
chất.
Thiệu Ung nối kết Dịch với Đạo,
với Phật ( lúc đó đạo Phật rất
tḥinh ở bên Tầu ) và toán
pháp hóa để tạo thành khoa lý
số, cùng với Chu Đôn Di và
nhất là Trần Đoàn ( số Tử Vi
).
Trạng Trình, có bà mẹ rất giỏi
về lý số, có thầy trao truyền
sách Thái Ất, tất phải tinh
thông Dịch, Huyền và Thần. Đây
là ba môn căn bản lý số mà từ
đời Lý, Trần, các nhà sư Mật
tông như Định Không, Vạn Hạnh
có thể đã xử dụng để làm Sấm.
Những sách này không phải bí
truyền mà vì cao siêu quá nên
ít nho sinh chịu nghiên cứu,
chỉ có một số ít đầu óc thông
minh, có năng khiếu thiên văn
toán số, mới lĩnh hội được.
Vấn đề ở đây là ngay những
sách Thái Huyền, Hoàng Cực, Tử
Vi... đời Hán, đời Đường, đời
Tống... đều chịu ảnh hưởng tới
đâu của Mật tông Phật giáo Tây
Tạng và huyền học Vệ Đà Ấn Độ
do con đường Tơ Lụa ( Silk
Road ) và đường biển phía Nam
mang sang ? Nhìn bố cục lá số
Tử Vi của Trung Hoa giống như
lá số chiêm tinh của Nam Ấn Độ,
xem cách tiên tri của các nhà
sư đời Đinh, Lê, Lý... không
thấy dấu ấn nhiều của dịch lý
mà có thể đã dùng phương thức
khác để đoán Tên người, đoán
Nơi chốn, đoán Tinh đẩu hội tụ
vào một điểm chuẩn xác trong
thời gian và không gian...
những tính toán chuẩn xác này
vốn là ưu điểm của khoa chiêm
tinh Ấn và khoa chiêm tinh Tây
phương). Có thể suy diễn là
Trạng Trình và các môn đệ tinh
thông lý số như Trương Thời Cử,
Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan...
đã dùng các tài liệu của Tầu
và không thể không nghiên cứu
các Sấm ký lưu truyền trong
nhà chùa. Ta thấy Trạng rất
thông đạo Phật, thường cùng
các nhà sư già đi thăm các nơi
danh thắng nhất là vùng Yên Tử
trung tâm Thiền phái đời Trần,
lại thêm có gạch nối rõ ràng
giữa Sấm Vạn Hạnh và Sấm Trạng
về điểm Thánh Xuất như " Lý đi
rồi Lý lại về ", và Trạng Bùng
quê quán Sơn Tây hẳn không thể
không quan tâm tới " núi Tản
sông Đà " là linh địa danh
được nhắc tới nhiều lần trong
tập Sấm.
Sấm Trạng Trình lưu truyền và
ảnh hưởng ra sao ?
Sấm Trạng đầu tiên chắc được
giữ kín đáo trong một nhóm môn
đệ thân cận như Phùng Khắc
Khoan, Trương Thời Cử, Nguyễn
Dữ với số môn đệ đào tạo trong
hơn 50 năm, lên tới 3000 người,
thơ văn sấm ký của ông thầy
hẳn được sao chép hoặc ít ra
được truyền khẩu, chưa kể cả
vua, quan và quần chúng đều
biết rất nhiều về tài tiên tri
của Trạng. Tập Sấm đi vào mọi
giới và mọi nơi, kể cả vào
Thuận Quảng với nhóm di dân
mang theo cẩm nang " Hoành Sơn
Nhất Đái, vạn đại dung thân "
và có thể có cả người của
Trạng gửi theo lớp viễn chinh
ấy.
Điều chắc chắn là Sấm Trạng có
ảnh hưởng sâu rộng trong giới
tranh bá đồ vương ngay từ thời
thế kỷ XVII. Năm 1671, có đảng
Bạch Xỉ được thành lập để phò
Lê diệt Trịnh, tên Bạch Xỉ lấy
từ Sấm Trạng Trình, chỉ danh
bậc đại nhân sẽ xuất hiện. Đời
Gia Long, đầu thế kỷ XIX, Lê
Duy Hoán khởi nghĩa ở Thanh
Hóa, làm lá cờ thêu chữ " Phá
Điền ", lấy từ câu" Phá điền
Thiên tử giáng trần " của Sấm
Trạng, Lê Duy Hoán tuổi Thân,
phá điền chiết tự có thể thành
chữ Thân ! Thời đầu thế kỷ XX,
có nhóm thần Tản Viên ở miền
Bắc Việt, sấm Phật Thầy Tây An
và liên tiếp tới nay, không ai
là không biết và không nhắc
tới Sấm Trạng Trình !
*
LÝ ĐÔNG A, nhà Tư Tưởng Nhân
Chủ thấu đạt truyền thống dân
bản huyết mạch Việt.
Trong thập niên đầy biến động
1940, hai nhà tư tưởng cách
mạng để lại dấu ấn lâu dài là
Huỳnh Phú Sồ, người để lại một
môn phái Hòa Hảo với 2 triệu
tín đồ, và Lý Đông A, để lại
một hệ tư tưởng thuần Việt
vang vọng cho tới ngày nay.
Lý Đông A (1920- 1946 ?) cũng
như Vạn Hạnh, đạo trường mênh
mông tới tận Hy Mã Lạp Sơn,
ông ao ước :
Lập lại non sông xưa Bách Việt
Dựng nên thế giới mới Duy dân
Chèo sang một bến Cực lạc
Vớt lấy năm bể trầm luân..
Và ông thấu hiểu “ thân như
điện ảnh hữu hoàn vô” ( sư Vạn
Hạnh), nên nhập thế trong tinh
thần xuất thế cao cả :
Làm tròn giấc mộng tiền sinh
ấy
Trở lại non sâu nhập Niết Bàn
Bến Cực Lạc, cõi Niết Bàn..ôi
đẹp thay! Y Bát Viêm Việt
trong hội Long Hoa này, quét
sạch tà đạo, thắng nghĩa Việt
dâng lên rờm rợp non sông gấm
vóc, dài rộng từ Động Đình Hồ
xuống tận Cửu Long…Quy Long
Trận, Kỳ Tuyệt Ca, đại thống
giềng mối năm châu :
Sông Hằng, nước Hán đều quy
lại
Đảo Úc tầng A cũng phục quanh
Ruộng đất muôn xưa nhà Bách
Việt
Hồng Bàng còn để mối tân canh..
Lý Đông A, không hẳn sống ở
thời thế kỷ xẻ hai, người ấy
là hoá thân của Vạn Hạnh, của
Trạng Trình, mà cả ba cùng là
hoá thân của Thánh Tản…Biết
bao lần kỳ sĩ Hồng Bàng nhắc
tới Viêm Việt nước non xưa :
Sao Viêm phương chọn chốn
giáng tinh thần
Trong muôn hoa lấy một ở hồng
trần
…Tất cả bởi cháu con bền bĩ
mãi
Nên kế khai đạo thống đất Viêm
phương
…Giếng Tiên Rồng văn hoá cực
Viêm phương
Nước Đại Việt xuân thu hùng
vạn thế
( trích Đạo Trường Ngâm) (1)
Chính khí Viêm phương từ Động
Đình Hồ tụ về Tổ sơn Tản Viên
(Dư Địa Chí- Nguyễn Trãi), nơi
an trú hồn thiêng sông núi,
đỉnh mây che vua cuối nhà Hồng
Bàng, Sơn tinh nhổ bọt vào mâm
lễ gã pháp sư Cao Biền, cả
nghìn năm sau dường như sư Vạn
Hạnh đã lên đây dựng Bạch Xỉ
Tự để đất tái phát cho họ Lý “
nghìn năm lại thấy mọi nơi vẹn
toàn”.
Trạng Trình, cả tập Sấm, xoáy
quanh non Tản :
Bảo sơn thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành
Lại nói sự Đà giang sinh thánh
Hoàng phúc xưa đã định Tây
phương
Thuỷ trung tàng Bảo cái
Hứa cập thánh nhân hương
Tại sơn vô hổ lang
Thất thập nhị hiền tướng
Phụ tá thánh quân vương (2)
Trạng Trình lặn sâu vào tàng
thức Viêm Việt, vọt lên lời
sấm Bạch Vân, giữa Ba Vì tay
hổ, Tam đảo tay long, ngóng
đợi cùng muôn dân một thầy
Bạch Sỉ mà bà Chúa Liễu Hạnh
giáng trần từng ngụ ngôn “ non
xanh mà mọc trắng răng mới kỳ”,
thì Lý Đông A cũng lặn trong
dòng máu Việt ấy bao lần từ
bài thơ Bạch vân điếu, Bạch
vân đàn hoạ, đến bài Đà giang
:
Sách Hoá trắng tinh không một
chữ
Gậy thần đốt trúc có hai đầu
(-cây gậy đầu sinh đầu tử của
thánh Tản- LVV chú thích)
Thái bình làm sách Ước
Xây đắp cõi thần châu
( sách Ước thánh Tản- Thần
châu thu cả mọi nơi vẹn
toàn-sấm Trạng- LVV chú thích).
Và Lý Đông A còn lấy Tản Viên
như một điểm xuất phát tư
tưởng phục hoạt tâm thức giống
nòi, nơi trao truyền y bát sấm
ký, trung tâm đạo thống Tam
Tài (3):
…Hoàn nguyên tứ hướng về Nam
hộ
Thống nhất tam tài ở Việt Làng
..Rùa Rồng gọt giữa hoa thuần
tuý
Gậy sách tiêu dao nhẽ trị bình
(trích Đạo Trường Ngâm- LVV
gạch dưới tô đậm những từ liên
quan tới Sấm Trạng Trình)
Đạo thống Việt, tâm thức Văn
Lang, là một cuộc trao truyền
y bát : Vạn Hạnh để lại : Lục
thất niên gian, thiên hạ thái
bình..cho Trạng Trình : Chữ
rằng lục thất nguyệt gian, ai
mà biết được mới gan anh tài…Tới
chiều lục thất xuất thánh nhân…Và
Lý Đông A trong dòng siêu thức
dân tộc, nắm bắt, quán cảm :
Thuở Vạn Kiếp tiên trao khét
oanh liệt, Ngày lục niên đã
hiện thét quang vinh…Trạng
Trình tiên tri một bậc thánh
nhân sẽ “ Thần châu thu lại
mọi nơi vẹn toàn” thì Lý Đông
A cũng nhắc lại : Thái Bình
làm Sách Ước, Xây đắp cõi Thần
châu, để tới ngày :
Bể Nam trời đất vuông tròn
Trăm con giống Việt một hòn
máu tươi..
Nhưng Lý Đông A cũng là một tư
tưởng gia nhận định sáng suốt
về những giới hạn của triết lý
Đông Tây, ông từng suy tưởng
hàng năm trời trên Trúc Lâm
Yên Tử, cả duy tâm lẫn duy vật,
trong bộ Chu Tri Lục-tìm cái
Tri trọn vẹn-dựa trên nguyên
lý Tổng thể- một cái nhìn tập
đại thành gestalt chu tri mọi
lăng kính, Đối lập-Thống nhất,
dẫn tới nguyên lý động hướng
thượng, Lý Đông A muốn đưa ra
một con đường thắng nghĩa tư
tưởng vượt lên tâm-vật, bao
gồm Duy Nhiên (vũ trụ
quan-thiên nhiên), Duy Nhân (nhân
vị con người) và Duy Dân ( dân
quyền, dân tộc), ba chặng này
phối lại chặt chẽ với nhau,
nhân tính, nhân bản và nhân
chủ là một tổng thể năng động,
tương tác, Lý Đông A nhấn mạnh
Nhân chủ như một khởi điểm cho
Dân chủ, nhân quyền và dân
quyền phải song hành, nhân trị
bảo đảm dân chủ khỏi sa đoạ và
sa lầy trong pháp trị, nói
cách khác nhân chủ dẫn dân chủ
lên tầng cao hướng thượng,
nhân loại cần giác ngộ nhân
tính mới đạt tầng cao thái
bình Vạn Xuân được.
Trong bối cảnh thế chiến thứ
II, giữa triết lý Duy tâm, duy
lý, duy vật, giữa sự tan rã
của văn minh Đông phương, giữa
áp lực biện chứng Do Thái Đức
Nga, Lý Đông A là hồn Viêm
Việt an nhiên tự tại phân tích
tổng hợp những sơ tố triết học,
cổ sử học, xã hội…để đưa ra
một lối thoát, một tân đạo
chẳng những cho dân Việt mà
còn cho cả nhân loại nữa.
Chú Thích
1- Đạo Trường Ngâm- Lý Đông A,
bản 1985 Nhân Chủ Học Xã.
2- Triết lý Lý Đông A-Phạm
Khắc Hàm-Diễn Dàn Địa Lý Nhân
Vnă VN-1998
3- Xem Việt Sử Siêu Linh- Lưu
Văn Vịnh, xb 1999.
4- Vua Lý từng ca ngợi : Vạn
Hạnh dung tam tế, Chân phù cổ
SẤM ky..Cùng ý ấy.
5- Nền Nhân Chủ thâu tóm tinh
tuý đạo học Đông phương- Đôi
khi, vì sở tri chướng, khó
thâu lượm kỳ diệu tập đại
thành thắng nghĩa, nên có
người, vội cho Lý Đông A là
một “ thiên tài xẩy non”. Thật
ra truyền nhân Viêm Việt này
đã sống cả 4000 năm với siêu
thức tuệ nhãn linh diệu Việt
để sáng tác ngay ở tuổi ngoài
20, với lối viết cô đọng gấp
rút trong 2 năm 1943-45 nên
người đọc không dễ nắm bắt.
Ông là người nhìn ra rất sớm,
có lẽ sớm nhất, nguồn cội Lạc
Việt Động Đình Hồ, Trống Đồng,
tầm quan trọng của thế chiến
lược Thái Bình Dương Nam Á,
khai mào cho hướng khảo luận
về dân tộc VN của các học giả
Nguyễn Đăng Thục, Kim Định
v..v..thời 1950-60.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|