|
Ôn cố tri tân: Ngô-Đinh-Lý-Trần-Lê-Nguyễn
Bang giao Việt Nam-Trung Hoa trong 1000 năm qua
Chiến thắng của Ngô Quyền, đại phá quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 đã chấm dứt thời kỳ dân tộc ta bị Tàu đô hộ kéo dài hơn một ngàn năm. Chế độ Tiết Độ sứ bị bãi bỏ, Ngô Quyền xưng vương dời đô từ thành Đại La là di tích của thời Bắc thuộc, ngài chọn Cổ Loa làm kinh đô của đất nước độc lập. Ngô Vương làm vua được 6 năm thì mất, chánh quyền trung ương ngày càng suy yếu, đưa đến loạn 12 sứ quân. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lần lượt dẹp hết các sứ quân, tái thống nhất đất nước, xưng đế hiệu Tiên Hoàng, lấy quốc hiệu là Đại Cồ Việt đóng đô ở Hoa Lư. Năm 980 Đinh Tiên Hoàng mất, thái tử còn nhỏ, quân Bắc Tống lăm le xâm chiếm nước ta, triều đình tôn Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi vua để chống giặc. Triều đại (Tiền) Lê kéo dài đến năm 1009, vua Lê Ngọa Triều mất, Lý Công Uẩn được triều thần và giới tăng lữ Phật Giáo tôn lên ngôi vua, mở đầu triều đại nhà Lý kéo dài hơn hai thế kỷ (1010-1225)
Tháng Bảy năm Canh Tuất (1010), vua Thái Tổ nhà Lý (Công Uẩn) dời kinh đô nước Đại Việt từ Hoa Lư về Thăng Long tức thành Đại La cũ. Lịch sử ghi nhận thiên niên kỷ vừa qua, là kỷ nguyên tự chủ của dân tộc. Tuy giành được quyền tự chủ, song đất nước vẫn chưa độc lập hoàn toàn, vua Lý Thái Tổ phải cầu phong triều đình nhà Tống bên Tàu, nhận sắc phong Giao Chỉ quận vương Tĩnh Hải quận tiết độ sứ. Thái độ thần phục là hình thức để làm vừa lòng bọn phong kiến phương Bắc, chúng luôn tự nhận là Thiên triều, cái rún của vũ trụ.
Nhờ cái danh hão đó, mà các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn cùng tồn tại lâu dài với triều đại lớn bên Tàu là Tống, Nguyên, Minh, Thanh trong suốt 9 thế kỷ. Trong thời gian dài đó, chủ quyền đất nước đã được xác định như bốn câu thơ vang vọng trong đêm khuya trên sông Như Nguyệt (Sông Cầu) năm 1077:
“Nam quốc sơn hà, Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẵng hành khan thủ bai hư”.
(Nước Nam thì vua nước Nam ở,
Rõ ràng số phận đó đã được định trong sổ Trờị
Cớ sao nghịch tặc lại sang xâm chiếm?
Bọn bây sẽ thấy, phải chuốc lấy thất bại)Hai thế kỷ sau, vị thế hai nước được phân định rõ ràng, nhưng Bắc phương lại gây sự, khiến Đại Việt phải ra tay “điếu phạt” như lời Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước vì đại nghĩạ
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâụ
Non nước cỏi bờ đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Ngô Đinh Lý Trần, bao đời xây nền độc lập,
Cùng Hán Đường Tống Nguyên, mỗi bên hùng cứ một phương.
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có”.
Việc cầu phong và thần phục là cách hành xử ngoại giao khôn khéo của các triều đại phong kiến nước ta: sống hòa bình với phương Bắc để dồn nổ lực mở rộng bờ cỏi về phương Nam. Trong suốt thời kỳ tự chủ, nước Tàu không xâm chiếm được một tất đất nào của tổ tiên để lạị Chỉ có bốn lần chúng gây hấn nhưng đều bị quân dân Đại Việt đánh bại để bảo vệ nền tự chủ.
1- Nhà Lý chiến thắng quân Tống
Năm 1069, Tống Thần Tông dùng Vương An Thạch làm tể tướng thi hành Tân Pháp canh tân xứ sở. Nhà Tống vừa được ổn định, năm Ất Mão 1075 Vương An Thạch tâu vua Tống rằng nước ta đang bận chống cự Chiêm Thành, nên thừa dịp này đánh chiếm được. Chúng tập trung lập lượng, lập căn cứ để chuẩn bị xâm chiếm nước tạ Biết được ý định của nhà Tống, triều đình sai Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem 10 vạn quân vượt biên giới đánh phá các căn cứ địa xuất phát cuộc chiến xâm lược ở châu Khâm, châu Liêm và châu Ung. Nhà Tống gởi chiếu thư sang đòi vua ta phải thần phục sang chầu và ăn năn việc tấn công thiên triều, nếu không, họ sẽ thay mệnh trời trừng phạt.
Vua ta không đáp ứng nên họ ra taỵ Năm 1076 chúng sai Quách Quì làm Chiêu thảo sứ đưa quân đánh nước ta, lại cấu kết với Chiêm Thành Chân Lạp quấy nhiễu mặt Nam. Quân Đại Việt đang đối đầu với quân Tống trên sông Như Nguyệt, hai bên nghe văng vẳng bốn câu thơ như đề cập. Cả hai bên đều tin tưởng đó là lời thần nhân mách bảo, khiến quân Tống kinh hồn bị Lý Thường Kiệt đánh bại phải rút quân về nước.
2- Nhà Trần đánh thắng quân Nguyên (Mông Cổ)
Vào giữa thế kỷ 13, Đế quốc Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn đã tung hoành từ Á sang Âu, gồm thâu trên 40 nước. Năm Đinh Tý 1257, Hốt Tất Liệt đem quân đánh nhà Tống, tướng Mông Cổ – Ngột Lương Hợp Thai sai sứ sang Đại Việt bảo vua Trần Thái Tông phải thần phục Mông Cổ. Vua Trần không những không chịu mà còn giam sứ giả, đồng thời sai Trần Quốc Tuấn động binh trấn giữ cửa ngõ ở phía bắc. Ngay sau đó, Mông Cổ đưa bốn vạn quân từ Vân Nam theo sông Thao (Sông Hồng) tiến xuống Hưng Hóa và Thăng Long. Triều đình nhà Trần rời kinh đô về đóng ở Thiên Mạc củng cố lực lượng để phản công. Quân Mông Cổ không hợp thủy thổ phương Nam, lại bị quân sĩ của Hưng Đạo Vương tấn công, bị tổn thất nặng tại Đông Bộ Đầu, cuối cùng phải theo đường cũ chạy về Tàụ
Thập niên sau, Mông Cổ lại gây hấn. Năm Canh Ngọ 1270 chúng bắt bẽ vua nhà Trần tiếp chiếu mà không chịu lạy, không tiếp đón sứ Tàu theo lẽ vương nhân. Vua Trần Thánh Tôn trả lời: “Bản quốc được thiên triều phong vương, há không phải là vương nhân saỏ Sứ giả của thiên triều lại xưng mình là vương nhân thì e làm nhục phong thể triều đình, huống chi bản quốc trước đã tiếp chiếu thư, được chỉ bảo cứ theo nguyên tục cũ”. Năm 1271, Hốt Tất Liệt cho sứ sang dụ vua Thánh Tông sang chầu, vua cáo bịnh không đị Năm sau vua Nguyên cho sứ sang tìm cột đồng Mã Viện, vua ta đáp “cột đồng ấy lâu ngày đã mất rồi”.
Năm 1279, Mông Cổ đánh bại nhà Tống, thành lập triều Nguyên ở bên Tàụ Chúng sai sứ sang Đại Việt trách cứ vua Trần Nhân Tông lên làm vua, không xin phép cũng không sang chầu, và hăm dọa “nếu triều đình trị tội thì Ngài trốn lỗi ấy vào đâủ Xin Ngài nghĩ kỷ lại”. Năm 1281 vua Trần cử chú họ là Trần Di Ái sang chầu Nguyên Thế Tổ (Hốt Tất Liệt). Nguyên chúa không chịu, lập Di Ái làm An Nam Quốc Vương, đổi nước ta là An Nam Tuyên úy Ty, cử quan viên sang cai trị các châu huyện. Năm 1282, họ đưa Trần Di Ái về nước, cử Thái tử Thoát Hoan làm Trấn Nam Vương cùng hữu thừa tướng Toa Đô, Tả Thừa Lưu Thâm, Tham chính A Lý và Ô Mã Nhi đi đánh Chiêm Thành, họ yêu cầu nước ta phải giúp nhân lực và quân lương.
Vua Trần Nhân Tông nhún nhường từ chối, trả lời: “Từ khi lão phụ tôi quy thuận thiên triều đến nay đã 30 năm – can qua tỏ ra không dùng nữa, quân lính đổi ra làm dân đinh. Còn việc giúp lương, nước tôi nhỏ bé, đất giáp với biển, ngũ cốc sản xuất không nhiều”. Cuối năm Giáp Thân 1284, quân Nguyên quyết dùng vũ lực thôn tính nước ta, đưa 50 vạn quân từ phía Bắc và 10 vạn quân từ phía Nam tiến đánh Thăng Long. Cuộc chiến diễn ra ác liệt, quân nhà Trần lần lượt chiến thắng quân Nguyên ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương… Toa Đô tử trận, cuối cùng vào giữa năm Ất Dậu 1285, Thái tử Thoát Hoan và Ô Mã Nhi dẫn tàn quân trở về Tàụ
Lúc bấy giờ nhà Nguyên bận đánh Nhật Bản nên đình chỉ việc thôn tính nước Nam, chuẩn bị dốc toàn lực để phục thù. Năm Mậu Tý 1288, Thoát Hoan và Ô Mã Nhi mở cuộc xâm lược lần thứ ba, quân Nguyên lại đại bại ở trận Vân Đồn và Bạch Đằng. Ô Mã Nhi bị bắt sống, Thái tử Thoát Hoan hoảng sợ cùng chư tướng Mông Cổ tháo lui bằng đường bộ. Để tránh chiến tranh tiếp diễn, sau đó vua Trần sai sứ sang Tàu xin thần phục nhà Nguyên, chịu triều cống như xưạ Chúng đòi vua Trần phải sang chầu, nhưng nhà vua luôn tìm mọi cách để thoái thác. Giặc Bắc xâm đã yên, Thượng Hoàng Trần Thánh Tông có làm hai câu thơ để kỷ niệm:
“Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
Sơn hà thiên cổ điện kim âu”.
(Xã tắc hai phen bon ngựa đá,
Non sông muôn thuở vững âu vàng)
3- Bình Định Vương Lê Lợi cổi ách đô hộ nhà Minh
Theo lẽ thịnh suy, đến cuối thế kỷ 14, cả hai triều đại Đại Việt và Trung Hoa đều suy yếụ Đế quốc Mông Cổ sau 162 năm tung hoành, đã cáo chung vào năm 1368, sau khi bị Chu Nguyên Chương (Minh Thái Tổ) đánh bại, khai sáng nhà Minh. Tại VN, triều đại nhà Trần kéo dài 175 năm thì bị Hồ Quý Ly cướp ngôi vua năm 1400. Minh Thành Tổ kế nghiệp Minh Thái Tổ, sau khi củng cố xong vương triều thì toan tính ngay việc thôn tính phương Nam. Cơ hội đã đến khi Trần Thiêm Bình tự xưng là con vua Trần Nghệ Tông cầu xin Minh triều can thiệp để khôi phục nhà Trần. Năm 1406, Minh Thành Tổ đưa quân sang dẹp Hồ Quý Ly, đặt lại ách hộ lên dân tộc ta như lời Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi:
“Họ Hồ ngang ngược, lòng người căm hờn.
Quân Minh thừa dịp hại dân.
Đảng nguỵ manh lòng đem bán nước.
Hỡi lũ đầu đen trên lửa bỏng,
Đẩy phường con đỏ xuống hang sâụ
Dối trời hại dân, gian xảo đủ muôn nghìn lối,
Gây binh nhóm loạn, tàn hại trải hơn mười năm.
Múc cạn nước Đông hải dễ mà rửa sạch tanh nhơ,
Đẵn hết trúc Nam sơn, chẳng đủ biên ghi tội ác.
Thần, người đều căm giận; Trời, đất chẳng dong thạ
…Trước thù lớn làm ngơ không thể,
Cùng giặc già chung sống được sao!
Vì thế vào tháng Giêng năm Mậu Tuất (1418) Lê Lợi khởi binh ở Lam Sơn để tiêu diệt bộ máy cai trị của quân Minh xâm lược. Sau 8 năm chiến đấu gian khổ, năm 1426 Lê Lợi tiến quân đến Đông Quan để bao vây Thăng Long. Minh đế phái Chinh di tướng quân Vương Thông mang 5 vạn quân sang cứu Đông Quan và bị đại bại tại trận Tuy Động (Hà Đông), Thượng thư Trần Hạp và Nội quan Lý Lương bị giết. Vua nhà Minh liền phái các chiến tướng như Liễu Thăng, Lương Minh, Đô đốc Thôi Tụ, Binh bộ thượng thư Lý Khánh, Công bộ thượng thư Hoàng Phúc thống lĩnh 10 vạn quân theo đường Quảng Tây, tràn vào Ải Nam Quan, tiến vào VN. Một đạo quân khác do Chinh nam tướng quân Mộc Thạnh gồm 5 vạn quân theo hướng Tuyên Quang sang tiếp viện cho Vương Thông ở Đông Đô.
Quân binh trấn thủ Ải Nam Quan thấy quân địch đông và mạnh, nên rút về mai phục ở Chi Lăng. Quân Minh lọt vào trận địa, Liễu Thăng bị chém tại Mã Yên. Hoàng Phúc, Thôi Tụ đem tàn quân chạy về Chí Linh cố thủ và bị bắt sống tại đâỵ Quân Mộc Thạnh khi tiến vào VN, Bình Định Vương cho đám tù binh mang sắc thư, ấn tính của Liễu Thăng đến bản doanh của Mộc Thạnh. Y hoảng kinh bỏ chạy về nước. Trong tình thế đó, Vương Thông xin cầu hòa, rút quân về nước. Trong bài biểu gởi Minh triều, có câu “Xin thôi đừng vì miếng mất hẻo lánh một phương mà làm nhọc lòng binh lính đi xa muôn dậm. Bây giờ muốn đánh lại phải huy động đại quân như buổi ra đị Nhưng dù có lấy lại được thì sự giữ sau này cũng vẫn khó lòng”. (Phạm văn Sơn, Việt Sử Tân Biên – Trần Lê Thời Đại Quyển II, Nxb Đại Nam (Hoa Kỳ) tái bản, Tr.462)
4- Quang Trung Nguyễn Huệ chiến thắng quân nhà Thanh
Theo lẽ thăng trầm, hết thịnh đến suỵ Minh triều bên Tàu kéo dài 277 năm (1368-1644) thì suy vong, bị quân Mãn Thanh cướp ngôị Còn triều Lê kéo dài 361 năm từ 1428 đến những năm 1780 thì triều chính rối loạn. Chính quyền chúa Trịnh thối nát, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy từ Phú Xuân kéo ra Bắc “phù Lê, diệt Trịnh”. Dẹp xong họ Trịnh, Nguyễn Huệ rút quân về Nam, để Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại Thăng Long giúp vua Lê. Sau đó, Chỉnh có công trấn áp được sự trổi dậy của thế lực họ Trịnh, nhưng y lại lộng quyền và có ý chống lại Tây Sơn. Vì thế Nguyễn Huệ cử Vũ văn Nhậm đem quân ra Bắc giết Chỉnh. Vua Lê Chiêu Thống rời bỏ kinh thành chạy sang Tàu, cầu cứu triều đình Mãn Thanh. Nhân cơ hội này, vua Càn Long cử Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị đem 29 vạn quân sang xâm chiếm nước tạ
Tối 26/12/1788 quân Thanh bắt đầu vượt sông Hồng tiến vào Thăng Long. Chúng lập đồn Ngọc Hồi làm căn cứ phòng ngự do Hứa Thế Hanh phó tướng của Tôn Sĩ Nghị chỉ huỵ Một cánh quân do Sầm Nghi Đống phụ trách đóng đồn ở Đống Đạ Được tin quân Thanh vượt biên giới xâm lăng nước ta, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, xưng đế hiệu Quang Trung điều động quân binh từ Phú Xuân kéo ra Bắc. Ngày 15/01/1789 (tức ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân) quân Tây Sơn tập kết tại Tam Điệp, vua Quang Trung quyết tâm tiêu diệt quân Thanh trong những ngày Tết Nguyên đán năm Kỹ Dậu 1789. Do đó Ngài ra lịnh chuyển quân thần tốc đến Thăng Long trong những ngày cận Tết.
Đêm giao thừa năm Kỹ Dậu, quân Tây Sơn chia thành 5 đạo bắt đầu mở cuộc tấn công. Quân Thanh đóng ở đồn Hà Hồi phía nam Thăng Long đầu hàng đêm mùng ba Tết. Sáng mùng năm tết, quân TS công phá đồn Ngọc Hồi, Hứa Thế Hanh tử trận. Một đạo quân khác tấn công đồn Đống Đa, Sầm Nghi Đống hoảng sợ thắt cổ tự tử. Quân TS tiến thẳng đến Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị cùng thuộc hạ vội đào tẩu chạy về Tàụ Phúc An Khang được Càn Long cử thay Tôn Sĩ Nghị, đến Quảng Tây điều động 50 vạn quân chuẩn bị xâm lược Đại Việt một lần nữa để trả thù. Nhưng ông ta nhận thấy quân Tây Sơn quá mạnh nên chủ trương hòa nghị. Vua Càn Long cũng có muốn chiêu dụ Nguyễn Huệ, nên ra chỉ dụ sắc phong Nguyễn Huệ làm “An Nam quốc vương” và có ý định nhân vua Quang Trung làm phò mã.
Một điều không may cho dân tộc là vua Quang Trung đột ngột qua đời (1792), nhà Tây Sơn suy yếu dần. Nguyễn Ánh bắt đầu phản công, từ phương Nam tiến quân ra Bắc, chiếm thành Thăng Long vào giữa tháng Bảy năm 1802. Thống nhất đất nước xong, vua Gia Long (Nguyễn Ánh) chọn Phú Xuân (Huế) làm kinh đô, sai sứ sang Yên Kinh cầu phong, được nhà Thanh sắc phong An Nam Quốc vương.
(Trích QUÁ KHỨ BI THẢM – TƯƠNG LAI HUY HOÀNG - Lê Quế Lâm)
|
|
|