|
Năm
938, quân Nam Hán vượt biển xâm
lược nước Việt và sa vào trận
địa cọc ngầm mai phục tài tình
của Ngô Quyền (897-944) trên
sông Bạch Đằng, chịu thất bại
thảm hại, phải từ bỏ ý đồ xâm
lược. Chiến thắng Bạch Đằng đã
mở đầu cho một kỷ nguyên độc lập
lâu dài của nước Việt.
Ngô Quyền, người làng Đường Lâm
(nay là xã Đường Lâm, huyện Ba
Vì, Hà Tây) cùng quê với Phùng
Hưng.
Ông sinh năm 897, con trai thứ
sử Ngô Mân, một hào trưởng địa
phương. Được truyền thống địa
phương hun đúc, được cha dạy bảo,
từ tấm bé Ngô Quyền đã tỏ ra có
ý chí lớn. Thân thể cường tráng,
trí tuệ sáng suốt, chăm rèn võ
nghệ. Sử cũ miêu tả ông "vẻ
người khôi ngô, mắt sáng như
chớp, dáng đi như cọp, có chí
dũng, sức có thể nhấc vạc dơ cao".
Năm 920, Ngô Quyền đi theo Dương
Đình Nghệ, một tướng của họ Khúc
ở đất Ái Châu (Thanh Hóa). Dương
Đình Nghệ là anh hùng dân tộc
từng có công đánh đuổi giặc Nam
Hán, chiếm được thành Đại La năm
931, thúc đẩy bước tiến của cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc.
Dương Đình Nghệ lên cầm quyền,
tự xưng Tiết độ sứ, giao cho Ngô
Quyền cai quản Châu Ái. Yêu mến
tài năng và nhiệt huyết cứu đời,
giúp nước của Ngô Quyền, Dương
Đình Nghệ đã gả con gái cho ông.
Trong 7 năm (931-938), quản lĩnh
đất Ái Châu, Ngô Quyền trổ tài
lực, đem lại yên vui cho dân
trong hạt.
Năm 937, Dương Đình Nghệ bị Kiều
Công Tiễn, một thuộc tướng và là
hào trưởng đất Phong Châu giết
hại để đoạt chức Tiết độ sứ.
Hành động phản trắc của Kiều
Công Tiễn đã gây nên một làn
sóng bất bình, căm giận sâu sắc
trong mọi tầng lớp nhân dân. Ngô
Quyền trở thành ngọn cờ qui tụ
mọi lực lượng yêu nước.
Sau một thời gian tập hợp lực
lượng, Ngô Quyền đem quân từ
Châu Ái ra bắc, tiến công thành
Đại La, diệt trừ Kiều Công Tiễn.
Năm 938, trời đang tiết mưa dầm
gió bấc. Đoàn quân Ngô Quyền,
người người lớp lớp vượt đèo Ba
Dội tiến ra bắc. Quân xâm lược
còn đang ngấp nghé ngoài bờ cõi
thì đầu tên phản bội Kiều Công
Tiễn đã bị bêu ở ngoài cửa thành
Đại La (Hà Nội). Mối họa bên
trong đã được trừ khử. Kế sách
trước trừ nội phản sau diệt
ngoại xâm đã được thực hiện.
Ngô Quyền vào thành, hợp các
tướng tá, bàn rằng: "Hoằng Tháo
là một đứa trẻ dại, đem quân từ
xa đến, quân lính mỏi mệt, lại
nghe được tin Công Tiễn đã bị
giết chết, không có người làm
nội ứng, đã mất vía trước rồi.
Quân ta sức còn mạnh, địch với
quân mỏi mệt, tất phá được!
"Song chúng có lợi ở thuyền, nếu
ta không phòng trước thì chuyện
được thua cũng chưa thể biết
được!
"Nếu ta sai người đem cọc lớn
đóng ngầm ở cửa biển trước, vạt
nhọn đầu mà bịt sắt, thuyền của
chúng nhân khi nước triều lên,
tiến vào bên trong hàng cọc, bấy
giờ ta sẽ dễ bề chế ngự. Không
kế gì hay hơn kế ấy cả. (*)
Chư tướng đều phục kế sách ấy là
tuyệt vời.
Phán đoán đúng con đường tiến
quân của địch: Ngô Quyền - người
được nhà sử học Lê Văn Hưu ngợi
ca là "mưu giỏi mà đánh cũng
giỏi" - đã chủ trương bố trí một
trận địa cọc ở cửa sông Bạch
Đằng, rồi nhân khi nước triều
lên, nhử thuyền địch tiến vào
bên trong hàng cọc và tập trung
lực lượng tiêu diệt địch bằng
một trận quyết chiến nhanh, gọn,
triệt để.
Sau khi diệt trừ xong bọn Kiều
Công Tiễn, Ngô Quyền và bộ chỉ
huy kéo quân về vùng ven biển
Đông Bắc chuẩn bị đón đánh quân
Nam Hán. Thần tích và truyền
thuyết dân gian các làng thuộc
xã Nam Hải, Đằng Hải đều nói rõ
từ Bình Kiều. Hạ Đoạn tới Lương
Khê (thuộc An Hải, Hải Phòng) là
khu vực đóng quân của Ngô Quyền.
Hơn 30 đền miếu thờ Ngô Quyền và
các tướng phá giặc Nam Hán đã
được phát hiện, đều phân bố tập
trung ở vùng hạ lưu sông Bạch
Đằng. Đồn trại của Ngô Quyền
đóng tại các thôn Lương Xâm (An
Hải, Hải Phòng), Gia Viên (nội
thành Hải Phòng) **
Trước mưu đồ xâm lược trở lại
của phong kiến Trung Quốc, ngọn
cờ cứu nước của Ngô Quyền trở
thành ngọn cờ đoàn kết của cả
dân tộc. Đội quân Ngô Quyền, từ
một đội binh Ái Châu đã nhanh
chóng trở thành một đội quân dân
tộc. Truyền thuyết dân gian còn
ghi nhớ chuyện 38 chàng trai
làng Gia Viễn (Hải Phòng) do
Nguyễn Tất Tố và Đào Nhuận dẫn
đầu, đã tự vũ trang, xin theo
Ngô Quyền phá giặc.
Trai tráng
các làng Lâm Động (Thủy Nguyên,
Hải Phòng), Đằng Châu (Kim Động,
Hải Hưng), người mang vũ khí, kẻ
mang chiến thuyền, tìm đến cửa
quân xin diệt giặc. Ba anh em Lý
Minh, Lý Bảo, Lý Khả ở Hoàng Pha
(Hoàng Động, Thủy Nguyên), ông
tổ họ Phạm ở Đằng Giang (An Hải,
Hải Phòng) cũng chiêu mộ dân
binh, hăng hái tham gia kháng
chiến.
Vùng cửa sông và vùng hạ lưu
sông Bạch Đằng được Ngô Quyền
chọn làm chiến trường quyết
chiến.
Bạch Đằng ngày ấy cũng như ngày
sau vẫn mang "tên nôm" giản dị:
Sông Rừng!
Sông Rừng thường có sóng bạc đầu,
vì vậy mới có thêm một "tên chữ"
Bạch Đằng giang.
Bộ sử Cương mục mô tả:
"Sông rộng hơn hai dặm, ở đó có
núi cao ngất, nhiều nhánh sông
đổ lại, sóng cồn man mác giáp
tận chân trời, cây cối um tùm
che lấp bờ bến".
Bạch Đằng là cửa ngõ phía đông
bắc và là đường giao thông quan
trọng từ Biển Đông vào nội địa
Việt Nam. Cửa biển Bạch Đằng to
rộng, rút nước từ vùng đồng bằng
Bắc Bộ đổ ra Vịnh Hạ Long. Từ
cửa biển ngược lên gần 20 km là
đến cửa sông Chanh. Phía hữu
ngạn có dãy núi vôi Tràng Kênh
với nhiều hang động, sông lạch
và thung lũng hiểm trở.
Hạ lưu sông Bạch Đằng thấp, độ
dốc không cao nên chịu ảnh hưởng
của thủy triều khá mạnh. Lúc
triều dâng, nước trải đôi bờ đến
vài cây số. Lòng sông đã rộng,
lại sâu, từ 8 m - 18 m. Triều
lên xuống vào độ nước cường,
nước rút đến hơn 30 cm trong một
giờ, ào ào xuôi ra biển, mực
nước chênh lệch khi cao nhất và
thấp nhất khoảng 2,5 - 3,2 m.
Lịch sử thành tạo vùng Bạch Đằng
trên đây và một số tài liệu địa
lý học lịch sử cho phép khẳng
định, cửa sông Bạch Đằng thế kỷ
10 không phải là cửa Nam Triệu
với địa hình như hiện nay.
Lúc bấy giờ cửa sông Nam Triệu
là cửa biển chung của sông Cấm
(hay sông Nam Triệu) và sông
Bạch Đằng. Cửa biển Bạch Đằng
ngày xưa ở vào khoảng đó, nằm
sâu vào phía trong so với cửa
Nam Triệu hiện nay khoảng hơn
chục cây số. Giữa vùng thiên
nhiên sông biển đó, trên cơ sở
sức mạnh đoàn kết và ý chí độc
lập của cả dân tộc, Ngô Quyền
khẩn trương giàn bày một thế
trận hết sức mưu trí, lợi hại để
chủ động phá giặc.
Ông huy động quân dân vào rừng
đẵn gỗ, vót nhọn, bịt sắt (hẳn
số thợ rèn được huy động đến
cũng khá đông) rồi cho đóng
xuống lòng sông thành hàng dài
tạo thành một bãi cọc, một bãi
chướng ngại dày đặc ở hai bên
sông. Khi triều lên mênh mông,
thì cả bãi cọc ngập chìm, khi
triều xuống thì hàng cọc nhô lên
cản trở thuyền qua lại. Bãi cọc
tăng thêm phần hiểu trở cho địa
hình thiên nhiên.
Trận địa cọc là một nét độc đáo
của trận Bạch Đằng phá quân Nam
hán và cũng là một sáng tạo rất
sớm trong nghệ thuật quân sự
Việt Nam mà người khởi xướng là
Ngô Quyền. Nhưng cho đến nay,
vẫn chưa phát hiện được thêm
nhiều di tích của bãi cọc này.
****
Trong khi chuẩn bị trận địa, Ngô
Quyền không những lợi dụng địa
hình thiên nhiên, mà còn biết
lợi dụng cả chế độ thủy triều.
Đây cũng là một trận đánh biết
lợi dụng thủy triều sớm nhất
trong lịch sử quân sự nước ta,
mở đầu cho truyền thống lợi dụng
thủy triều trong nhiều trận thủy
chiến sau này. Rất tiếc là cho
đến nay, chưa xác định được ngày
tháng xảy ra trận Bạch Đằng, nên
chỉ có thể đưa ra một số giả
định nào đó, chưa thể có những
kết luận cụ thể về điều này.
*****
Quân thủy bộ, mai phục sẵn ở
phía trong bãi cọc, có lẽ trong
khoảng hạ lưu và trung lưu sông
Bạch Đằng; trong các nhánh sông
và trên hai bờ sông.
Theo truyền thuyết và thần tích,
Dương Tam Kha chỉ huy đạo quân
bên tả ngạn, Ngô Xương Ngập và
Đỗ Cảnh Thạc chỉ huy đạo quân
bên hữu ngạn, mai phục ở hai bên
bờ sông để cùng phối hợp với
thủy binh đánh tạt ngang vào đội
hình quân địch và sẵn sàng tiêu
diệt số quân địch trốn chạy lên
bờ. Có thể suy đoán rằng, ngược
lên phía thượng lưu là một đạo
thủy quân mạnh phục sẵn làm
nhiệm vụ chẹn đầu, chờ khi nước
xuống sẽ xuôi dòng đánh vỗ mặt
đội binh thuyền của địch.
Cũng theo truyền thuyết, thần
tích người thanh niên Nguyễn Tất
Tố, vốn giỏi bơi lặn và quen
thuộc sông nước, được giao nhiệm
vụ khiêu chiến, nhân lúc nước
triều lên, nhử địch vượt qua bãi
cọc vào cạm bẫy bên trong.
Trong thế trận của Ngô Quyền, rõ
ràng trận địa mai phục giữ vai
trò quyết định. Trận địa cọc ở
cửa sông là nhằm chặn đường tháo
chạy của tàn quân giặc. Sự phối
hợp giữa hai trận địa chứng tỏ
quyết tâm chiến lược của Ngô
Quyền là phen nàykhông phải chỉ
đánh bại quân giặc mà còn phải
tiêu diệt toàn bộ quân giặc, đập
tan mộng tưởng xâm lăng của
triều đình Nam Hán.
Cuối năm 938, cuộc kháng chiến
chống xâm lược Nam Hán lần thứ
hai của quân dân Việt đã giành
được thắng lợi hết sức oanh liệt.
Cả một đoàn binh thuyền lớn của
giặc vừa vượt biển tiến vào mạn
sông Bạch Đằng đã được nhử ào
thế trận đã bày sẵn và bị tiêu
diệt gọn trong một thời gian rất
ngắn. Toàn bộ chiến thuyền của
giặc bị đánh đắm, hầu hết quân
giặc bị tiêu diệt. Chủ soái của
giặc là Lưu Hoằng Tháo cũng bị
giết tại trận.
Chiến thắng Bạch Đằng có những
nét rất độc đáo và giữ một vị
trí trọng đại trong lịch sử dân
tộc.
Chiến thắng Bạch Đằng diễn ra
nhanh, gọn, triệt để đến mức độ
vua Nam Hán đang đóng quân ở sát
biên giới mà không sao kịp tiếp
ứng. Nghe tin quá bất ngờ và
kinh hoàng, chúa Nam Hán đành
thương khóc thu nhặt tàn quân
quay về nước. Y bèn hạ đổ tội
cho Trước tác Tá Lang hầu Dung "làm
cho khí thế quân binh không phấn
chấn lên được". Lúc này Dung đã
chết, chúa Nam Hán tàn bạo sai
quật mả, phơi thây Dung để trả
thù!
Sau chiến thắng chấm dứt hơn
1000 năm Bắc thuộc Ngô Quyền bắt
tay xây dựng quốc gia. Ngô Quyền
xưng vương, bãi bỏ chức Tiết độ
sứ, định đô ở Cổ Loa (Đông Anh,
Hà Nội). Ông đặt ra chức quan
văn, võ, nghi lễ trong triều.
Nhưng đáng tiếc thời gian tại
ngôi của ông thật ngắn ngủi, chỉ
được 6 năm (939-944).
Ông mất ngày 18 tháng Giêng năm
Giáp Thìn, thọ 47 tuổi.
Ngợi ca Ngô Quyền và chiến thắng
Bạch Đằng, nhà sử học Lê Văn Hưu
viết trong "Đại Việt sử ký toàn
thư":
"Tiền Ngô Vương có thể lấy quân
mới họp của đất Việt ta mà phá
được trăm vạn quân của Lưu Hoằng
Tháo, mở nước xưng vương, làm
cho người phương Bắc không dám
lại sang nữa. Có thể nói là một
cơn giận mà yên được dân, mưu
giỏi mà đánh cũng giỏi vậy".
---
* Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại
kỷ.q.5
** Tại Lương Xâm (thuộc xã Nam
Hải, huyện An Hải, Hải Phòng)
còn di tích một thành đất có
hình giống như vành kiệu nên
nhân dân quen gọi là thành Vành
Kiệu. Thành đắp trên một gò đất
cao, chu vi vào khoảng 1.700 m.
Thành đã bị phá hủy nhiều đoạn,
phần còn lại dài khoảng 1.300 m,
bề rộng trung bình 1 m, có chỗ
rộng 7 m, cao khoảng 0,8 m, chỗ
cao nhất 1,6 m. Giữa thành có
đền thờ Ngô Quyền nhân dân gọi
là Từ Cả. Thần tích câu đối,
truyền thuyết dân gian đều nói
Ngô Quyền đắp thành ở Lương Xâm
và di tích còn lại là thành Vành
Kiệu. Năm 1981, Khoa Sử Đại học
tổng hợp Hà Nội phối hợp với Sở
Văn hóa - Thông tin Hải Phòng
cắt một đoạn thành để khảo sát.
Nhưng rất tiếc là chưa phát hiện
được những hiện vật đặc trưng để
xác định niên đại của thành Vành
Kiệu. Thần tích Ngô Quyền ở Gia
Viên (nội thành Hải Phòng) nói
ông đã cho lập đồn trại ở đây để
chống giặc Nam Hán.
**** Năm 1953 - 1954, nhân dân
địa phương phát hiện được những
cọc gỗ gần cửa sông Chanh, cách
sông Bạch Đằng hơn 400 m, thuộc
xã Yên Giang, huyện Yên Hưng,
tỉnh Quảng Ninh. Sau đó, Vụ Bảo
tồng Bảo tàng Bộ Văn hóa, Khoa
Sử Đại học Tổng hợp Hà Nội, Viện
Bảo tàng Lịch sử đã cùng Sở Văn
hóa Hải Phòng, và Ty Văn hóa
Quảng Ninh tiến hành khảo sát,
khai quật và nghiên cứu. Ngoài
ra, còn phát hiện những cọc
tương tự ở cửa sông Kênh (đồng
Vạn Muối), cửa sông Nam giáp
sông Bạch Đằng, phía dưới sông
Chanh...
Hai mẫu gỗ ở cửa sông Chanh được
xác định niên đại bằng phương
pháp các bon phóng xạ, cho kết
quả 615+100 và 850+100 năm sau
Công Nguyên. Nhưng theo ý kiến
của những người nghiên cứu thì
những bãi cọc này thuộc phạm vi
trận địa Bạch Đằng phá quân
Nguyên năm 1288, chứ không phải
bãi cọc của Ngô Quyền diệt quân
Nam Hán năm 938.
***** Nguyễn Ngọc Thụy, Thủy
triều trong chiến thắng Bạch
Đằng năm 938, đã dẫn. Về thời
điểm xảy ra trận Bạch Đằng, các
bộ chính sử chép không cụ thể và
không thống nhất.
- Việt sử thông giám cương mục
chép Ngô Quyền diệt Kiều Công
Tiễn và phá quân Nam Hán vào "mùa
thu, tháng chín" năm Mậu Tuất,
tính ra dương lịch là từ 27-9
đến 25-10-938.
- Đại Việt sử ký toàn thư lại
chép những sự kiện trên vào "mùa
đông, tháng Mười", tính ra dương
lịch là từ 26-10 đến 24-11-938.
- Việt sử lược chép vào "mùa
đông, tháng Chạp", tính ra dương
lịch là từ 25-12-938 đến
22-1-939.
Về mặt sử liệu học thì trong ba
tài liệu trên, Bộ Việt sử lược
được biên soạn sớm nhất (vào đời
Trần), gần với thời gian xảy ra
sự kiện hơn hai bộ sử đời Lê và
đời Nguyễn. Sự ghi chép của Việt
sử lược lại phù hợp với nhiều
thần tích Ngô Quyền và các tướng
tham gia trận Bạch Đằng, trong
đó có thần tích ở Hoàng Pha (Hoàng
Động, Thủy Nguyên, Hải Phòng)
chép cụ thể trận Bạch Đằng xảy
ra vào ngày 7 tháng Chạp năm Mậu
Tuất, tức ngày 31-12-938...
--------------
Xem thêm:
Ngô Quyền
Ngô Quyền (898–944) là một vị
tướng và sau này là vua Việt
Nam, là người sáng lập ra nhà
Ngô. Năm 938 ông cầm quân đánh
tan quân xâm lược Nam Hán tại
sông Bạch Đằng, kết thúc 1.000
năm Bắc thuộc của Việt Nam.
Tiểu sử
Ngô Quyền sinh năm 898, mất năm
944 quê ở Đường Lâm, Ba Vì (Hà
Nội ngày nay). Ông là con trai
của quan mục Đường Lâm là Ngô
Mân, sau trở thành bộ tướng và
con rể của Tiết độ sứ Tĩnh Hải
quân Dương Đình Nghệ (931 -
937), được giao cai quản Ái Châu
(Thanh Hóa ngày nay).
Bối cảnh lịch sử
Từ năm 907 ở Trung Hoa, nhà
Đường mất, lần lượt nổi lên là
các nhà Hậu Lương, Hậu Đường,
Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu tranh
nhau làm vua. Mỗi nhà được mấy
năm, gồm tất cả là 52 năm, gọi
là đời Ngũ Quí hay là Ngũ đại.
Năm 911, Lưu Cung làm Nam Bình
Vương do nhà Hậu Lương phong cho,
kiêm chức Tiết độ sứ Quảng Châu
và Tĩnh Hải, có ý để lấy lại
Giao Châu. Được ít lâu nhân có
việc bất bình với nhà Hậu Lương,
Lưu Cung tự xưng đế, quốc hiệu
là Đại Việt. Đến năm Đinh Sửu
(917) cải quốc hiệu là Nam Hán.
Năm Quí Mùi (923)[1] Lưu Cung
sai tướng là Lý Khắc Chính đem
quân sang đánh bắt được Khúc
Thừa Mỹ (khi đó chấp nhận làm
Tiết độ sứ của nhà Hậu Lương tại
Giao Châu mà không thần phục nhà
Nam Hán), rồi sai Lý Tiến sang
làm thứ sử cùng với Lý Khắc
Chính giữ Giao Châu.
Năm Tân Mão (931) Dương Đình
Nghệ là tướng của Khúc Hạo ngày
trước (cha của Khúc Thừa Mỹ) nổi
lên, mộ quân đánh đuổi bọn Lý
Khắc Chính và Lý Tiến đi, rồi tự
xưng làm Tiết độ sứ. Được gần 7
năm, Dương Đình Nghệ bị nha
tướng là Kiều Công Tiễn giết hại
để cướp quyền.
Sự nghiệp
Lăng Ngô Quyền (Đường Lâm - Sơn
Tây)Trong thời gian cai quản Ái
Châu, ông đã đem lại yên vui cho
đất Ái Châu, tỏ rõ là người có
tài đức.
Năm 938, ông tập hợp lực lượng
hào kiệt trong nước tiến ra bắc,
hạ thành Đại La, tiêu diệt Kiều
Công Tiễn. Sau đó, ông chỉ huy
trận Bạch Đằng nổi tiếng, đánh
bại quân Nam Hán do Hoằng Thao (có
sách viết là Hoằng Tháo) chỉ huy,
giết chết Hoằng Thao.
Mùa xuân năm 939, ông xưng là
Ngô vương (tức là Tiền Ngô vương),
đóng đô ở Cổ Loa (thuộc thành
phố Hà Nội ngày nay). Tuy chỉ
xưng vương nhưng ông có thể coi
là người có công lớn trong việc
giành được độc lập cho đất nước
sau nghìn năm Bắc thuộc.
Năm 944, ông mất, thọ 47 tuổi.
Sử sách gọi ông là Tiền Ngô
vương. Sách Thiền Uyển tập anh
gọi ông là Ngô Thuận Đế, có lẽ
chỉ là cách tôn lên vì đương
thời ông chưa từng xưng đế.
Trận Bạch Đằng lịch sử
Bài chi tiết: Trận Bạch Đằng,
938
Năm 937, Dương Đình Nghệ bị Kiều
Công Tiễn sát hại. Ngô Quyền kéo
quân ra thành Đại La tiêu diệt
kẻ phản bội. Do lo sợ bị tiêu
diệt, Kiều Công Tiễn đã cầu cứu
nước Nam Hán. Vua Nam Hán lúc
bấy giờ là Lưu
Cung cho con trai
là Hoằng Tháo kéo quân theo
đường thủy sang giúp (thực chất
là nhân cơ hội chiếm lấy Giao
Châu).
Đầu mùa đông năm 938, Ngô Quyền
dẹp xong bọn phản loạn Kiều Công
Tiễn và chuẩn bị toàn lực để đối
phó với sự xâm lăng của quân Nam
Hán.
Vào một ngày cuối đông năm 938,
trên sông Bạch Đằng, vùng cửa
biển và hạ lưu, cuộc kháng chiến
chống quân xâm lược Nam Hán đã
diễn ra ác liệt và kết thúc rất
nhanh gọn. Cả một đoàn binh
thuyền của địch vừa vượt biển
tiến vào cửa ngõ Bạch Đằng đã bị
quân ta dẫn dắt vào trận địa bố
trí sẵn và bị tiêu diệt gọn
trong một thời gian rất ngắn.
Ngô Quyền đã cho quân sĩ đóng
cọc có bịt sắt nhọn xuống lòng
sông Bạch Đằng và nhử quân địch
vào khu vực này khi thủy triều
lên.
Quân giặc thấy
quân của ông chỉ có thuyền nhẹ,
quân ít tưởng có thể ăn tươi,
nuốt sống lên hùng hổ tiến vào.
Đợi đến khi thủy triều xuống ông
mới hạ lệnh cho quân sĩ đổ ra
đánh. Thuyền chiến lớn của giặc
bị mắc cạn và lần lượt bị cọc
đâm thủng gần hết. Quân giặc
thua chạy, còn Hoằng Thao bỏ
mạng cùng với quá nửa quân sĩ.
Vua Nam Hán đang cầm quân tiếp
ứng đóng ở biên giới mà không
kịp trở tay đối phó. Hắn kinh
hoàng khủng khiếp, đành "thương
khóc thu nhặt quân còn lại mà
rút lui" (Đại Việt sử ký toàn
thư). Từ đó nhà Nam Hán bỏ hẳn
mộng xâm lược.
Ý nghĩa lịch sử
Chiến thắng Bạch Đằng có thể coi
là trận chung kết toàn thắng của
dân tộc Việt trên con đường đấu
tranh chống Bắc thuộc, chống
đồng hóa, đấu tranh giành lại
độc lập dân tộc. Phải đặt trong
bối cảnh Bắc thuộc kéo dài sau
1117 năm (179 TCN - 938) mới
thấy hết ý nghĩa lịch sử vĩ đại
của nó.
Hơn thế nữa, trong hơn 1000 năm
Bắc thuộc đó, kẻ thù của dân tộc
Việt là một đế chế lớn mạnh bậc
nhất ở phương Đông với chủ nghĩa
bành trướng Đại Hán đang lúc
phát triển cao độ, nhất là dưới
thời Hán, Đường. Tiếp tục công
cuộc bành trướng của Tần Thủy
Hoàng, nhà Hán đã chinh phục Bắc
Triều Tiên chiếm đất đai các bộ
lạc dụ mục phía Bắc, mở rộng
lãnh thổ về phía Trung Á, xâm
lược các nước Hạ Lang, Điền ở
Tây Nam. Đầu thế kỷ thứ 7, nhà
Tùy bành trướng mạnh về phía
Đông, chinh phục Triều Tiên, Lưu
Cầu, Đài Loan, Giao Châu, Lâm Ấp,
Tây Đồ Quốc..., nhà Đường mở
rộng bành trướng về mọi phía,
lập thành một đế chế bao la như
Đường Thái Tông đã từng tuyên bố:
"Ta đã chinh phục được hơn 200
vương quốc, dẹp yên bốn bề, bọn
Di Man ở cõi xa cũng lần lượt về
quy phục" (theo Đường thư).
Từ đầu Công nguyên, dân số của
đế chế Hán đã lên đến 57 triệu
người. Thời gian đó, dân số của
Việt Nam chỉ độ một triệu. Sau
khi chiếm được Việt Nam, mưu đồ
của nhà Hán không phải chỉ dừng
lại ở chỗ thủ tiêu chủ quyền
quốc gia, bóc lột nhân dân, vơ
vét của cả, mà còn tiến tới đồng
hóa vĩnh viễn dân tộc Việt, sát
nhập đất đai vào Trung Quốc.
Chính sách đồng hóa là một đặc
trưng nổi bật của chủ nghĩa bành
trướng Đại Hán, đã được thực
hiện từ thời Hán và đẩy mạnh tới
nhà Đường. Trong toàn bộ tiến
trình lịch sử Việt Nam, đây là
một trong những thời kỳ vận mạng
dân tộc trải qua một thử thách
cực kỳ hiểm nghèo.
Ngô Quyền - người anh hùng của
chiến thắng Bạch Đằng năm 938 -
xứng đáng với danh hiệu là "vị
tổ trung hưng" của dân tộc như
Phan Bội Châu lần đầu tiên đã
nêu lên trong Việt Nam quốc sử
khảo.
Sau chiến thắng Bạch Đằng, Việt
Nam bước vào thời kỳ xây dựng
đất nước trên quy mô lớn. Đó là
kỷ nguyên của văn minh Đại Việt,
của văn hóa Thăng Long, kỷ
nguyên phá Tống, bình Nguyên,
đuổi Minh, một kỷ nguyên rực rỡ
của các nhà Lý, Trần, Lê. Nhà sử
học Ngô Thì Sĩ đã đánh giá: "Trận
thắng trên sông Bạch Đằng là cơ
sở cho việc khôi phục quốc thống.
Những chiến công đời Đinh, Lê,
Lý, Trần sau này còn nhờ vào uy
danh lẫm liệt ấy để lại. Trận
Bạch Đằng vũ công cao cả, vang
dội đến nghìn thu, há phải chỉ
lẫy lừng ở một thời bấy giờ mà
thôi đâu" (Việt sử tiêu án).
Mấy bà Dương hậu?
Từ trước tới nay, theo thông tin
từ chính sử thì Ngô Quyền có
người vợ là bà Dương hậu là con
gái Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ,
em gái (hoặc chị) của Dương Bình
vương Tam Kha.
Cuốn Lịch sử Việt Nam, tập 1 của
Nhà xuất bản Đại học và giáo dục
chuyên nghiệp năm 1991 còn đề
cập tới Càn Lương phu nhân, một
"người vợ khác" cũng mang họ
Dương của Ngô Quyền, quê ở dòng
sông Đáy, qua mấy câu trong
Thiên Nam ngữ lục:
Như ai đã hẹn ai đâu
Qua miền Thượng Phúc, tới cầu Ba
Trăng
Như vậy là Ngô Quyền được kết
luận có hai bà vợ cùng mang họ
Dương. Qua thần tích đền An Nhân
huyện Chương Mỹ (Hà Tây), bà họ
Dương thứ hai quê ở sông Đáy có
tên là Dương Phương Lan.
Cuốn Phả hệ họ Ngô Việt Nam do
Ban liên lạc họ Ngô Việt Nam
soạn cũng căn cứ vào những nguồn
tài liệu này khẳng định về thân
thế hai bà vợ Ngô vương:
Bà Dương Như Ngọc là con gái
Dương Đình Nghệ, thân thế của bà
xưa nay đã được khẳng định trong
sử sách. Theo GS. sử học Lê Văn
Lan giải thích trong cuốn Hỏi
đáp về lịch sử Việt Nam thì tên
Như Ngọc thực ra cũng chỉ là tên
do giới "kiếm hiệp" đặt ra vào
thế kỷ 20 để phân biệt bà Dương
hậu này với bà Dương hậu khác -
được đặt tên văn nghệ là Dương
Vân Nga.
Bà Dương Phương Lan, người con
gái bên dòng sông Đáy, gặp Ngô
Quyền ở cầu Ba Trăng. Sách Phả
hệ họ Ngô Việt Nam còn phỏng
đoán hai người con nhỏ của Ngô
Quyền là Nam Hưng, Càn Hưng (chính
sử có chép tên hai người này) có
thể do bà Phương Lan sinh ra.
Tuy nhiên, giả thuyết tồn tại "hai
bà hoàng hậu cùng mang họ Dương"
của Ngô Quyền không vững chắc,
nếu cũng căn cứ đoạn sau của
sách Thiên Nam ngữ lục. Đoạn sau
cho thấy hai bà họ Dương này
thực ra là một người.
Theo Thiên Nam ngữ lục:
Sau đoạn mô tả Ngô Quyền và bà
họ Dương gặp nhau ở cầu Ba Trăng,
tuyệt nhiên Thiên Nam ngữ lục
không hề nhắc tới người phụ nữ
nào khác của Ngô Quyền. Nhưng
Thiên Nam ngữ lục lại chỉ để cho
nàng Phương Lan nói với Ngô
Quyền rằng "cha nàng họ Dương"
mà không nói rõ người đó chính
là ông Dương Đình Nghệ. Do đó
người đọc vẫn có thể nghi hoặc:
có thể ông họ Dương này không
phải là Đình Nghệ.
Đến câu 3340 – 3342, khi Ngô
Quyền sắp mất, tin dùng Dương
Tam Kha vào việc triều chính:
Việc chuyên bày đặt mặc dầu Tam
Kha
Với Dương hậu cùng một cha
Ngoài dinh tướng tá, trong nhà
anh em
Mấy câu này cho thấy Dương hậu
là em Tam Kha, nhưng vẫn có thể
khiến người đọc nghi hoặc: có
thể đến đây tác giả Thiên Nam
ngữ lục mới nhắc tới bà Dương
hậu thứ hai ngoài bà Phương Lan,
tức bà Như Ngọc con Dương Đình
Nghệ.
Nhưng tới câu 3349 – 3352, đoạn
Ngô Quyền lâm chung thì không
còn phải bàn cãi:
Thôi bèn hồn phách phất phơ
Cầm tay Dương hậu u ơ dặn rằng:
"Thương vì thuở gặp Ba Trăng
Chi phiền cho bỏ đạo hằng nuôi
nhau..."
Qua 4 câu này thì chắc chắn bà
Dương hậu được vua Ngô cầm tay
này là bà Phương Lan, vì đây là
người "gặp Ba Trăng". Và bà lại
là người em của Tam Kha (qua ba
câu phía trên). Như vậy bà
Phương Lan và bà Như Ngọc phải
là một người, chứ không thể là
hai người. Cả chính sử (Đại Việt
Sử ký Toàn thư, Việt sử thông
giám cương mục...) lẫn Thiên Nam
ngữ lục đều chỉ nói tới duy nhất
một bà Dương hậu của Ngô Quyền
chứ không hề nói có người phụ nữ
họ Dương nào khác trong đời
ông[2].
Hệ lụy của giả thuyết hai bà
Dương
Do nổi lên thông tin về việc có
tới hai bà hoàng hậu họ Dương
của Ngô Quyền, một số tài liệu
sách vở gần đây tỏ ra lúng túng
trong vấn đề xử lý việc "đứng
chung" giữa hai bà này trong
cung đình triều Ngô, như: hai bà
hòa thuận với nhau không? Trong
4 người con trai của Ngô vương (Xương
Ngập, Xương Văn, Nam Hưng, Càn
Hưng), ai thuộc về từng bà? Sau
này, khi Ngô vương đã mất, còn
một dấu hỏi nữa đặt ra là: tại
sao cả hai bà thái hậu cùng vốn
là nữ tướng "vũ dũng" như vậy mà
để cho Dương Tam Kha "hoành hành"?
Bà Như Ngọc với Tam Kha là người
nhà, nể anh đã đành, còn bà
Phương Lan vì sao vẫn không có
thái độ cứng rắn?
Khi đã xác định được rằng hai bà
họ Dương chỉ là một người, mọi
vấn đề trên hoàn toàn có thể
được lý giải.
Vậy câu chuyện giữa Ngô Quyền và
bà họ Dương có thể được diễn
giải như sau: Sau khi cha mất,
Ngô Quyền rời quê nhà Đường Lâm
vào Ái châu theo Dương Đình Nghệ,
giữa đường lại gặp chính con gái
ông là nàng Dương thị, em gái
Dương Tam Kha, tại cầu Ba Trăng.
Hai người quen nhau và yêu nhau
từ đó, sau được Dương Đình Nghệ
chấp thuận cho lấy nhau. Việc bà
Dương vợ Ngô Quyền được lập đền
thờ ở vùng sông Đáy, nơi không
phải quê hương bà không có gì là
bất bình thường.
Sự khác nhau giữa những cái tên
Phương Lan và Như Ngọc chỉ là
sản phẩm "chế tác" của đời sau (trong
đó có một cái tên được đặt tận
thế kỷ 20), như trường hợp "tam
sao thất bản" giữa những cái tên
"Dương Ngọc Vân" và "Dương Vân
Nga" của bà hoàng hậu hai triều
Đinh, Lê sau này mà thôi. Giáo
sư sử học Lê Văn Lan, trong cuốn
Lịch sử Việt Nam - hỏi và đáp
(2004) đã chỉ rõ rằng: "tên các
nhân vật lịch sử trong thần phả
tại các đền thờ phần nhiều do
các nhà nho soạn vào khoảng từ
thế kỷ 17 trở đi và nhiều khả
năng cũng chỉ là sản phẩm của sự
chế tác từ các nhà nho này mà
thôi, nhất là tên các nhân vật
nữ".
Như vậy, việc tìm hiểu nguồn gốc
những cái tên của các nhân vật
lịch sử, xem tên đó được đặt
trong hoàn cảnh nào và thời gian
đặt, do ai đặt là điều cần thiết
khi nghiên cứu lịch sử.
Gia quyến
Ngoài Dương hậu, giai thoại dân
gian ghi nhận Tiền Ngô vương còn
có một người vợ họ Đỗ, ở Dục Tú,
Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Bà họ
Đỗ không có con cái.
Theo Phả hệ họ Ngô Việt Nam, con
cả Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập,
trước khi sinh ra Ngô Xương Xí
đã sinh ra Ngô Xương Tỷ (Khuông
Việt đại sư) năm 933. Đây là
người cháu lớn nhất của Ngô
Vương. Từ khoảng cách năm sinh
giữa Ngô Quyền (898) và cháu nội
Xương Tỷ cùng việc Xương Ngập có
dự trận Bạch Đằng năm 938, có
thể suy đoán Xương Ngập sinh
khoảng năm 915, trước khi Ngô
Quyền gặp Dương hậu - con Dương
Đình Nghệ. Do đó Xương Ngập là
con một người vợ cả của Ngô
Quyền, có thể đã mất sớm và
không được sử sách nhắc tới.
Sử sách ghi Tiền Ngô vương còn
có 2 người con trai nữa là Ngô
Nam Hưng và Ngô Càn Hưng. Phả hệ
họ Ngô Việt Nam chỉ nhắc tới con
cháu của Xương Ngập và Xương Văn
mà không nhắc tới con cháu của
Nam Hưng và Càn Hưng. Những căn
cứ trên cho thấy: Tiền Ngô Vương
có 3 người vợ và 4 người con
trai. Xương Ngập là con một
người vợ đầu (chưa rõ tên tuổi)
mất sớm; Xương Văn, Nam Hưng,
Càn Hưng đều là con Dương hậu;
bà Đỗ thị không có con.
Nhận định
Các nhà sử học Việt Nam thời
phong kiến như Lê Văn Hưu (tác
giả cuốn Đại Việt sử ký), Phan
Phu Tiên (tác giả cuốn Đại Việt
sử ký tục biên), Ngô Sĩ Liên
đánh giá rất cao công trạng của
Ngô Quyền. Trong Đại Việt sử ký
toàn thư bản Ngoại kỷ, quyển 5
của Ngô Sĩ Liên đã chép lại lời
bình của Lê Văn Hưu về ông như
sau:
Tiền Ngô Vương có thể lấy quân
mới họp của đất Việt ta mà phá
được trăm vạn quân[3] của Lưu
Hoằng Tháo, mở nước xưng vương,
làm cho người phương Bắc không
dám lại sang nữa. Có thể nói là
một cơn giận mà yên được dân,
mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy.
Tuy chỉ xưng vương, chưa lên
ngôi đế, đổi niên hiệu, nhưng
chính thống của nước Việt ta,
ngõ hầu đã nối lại được.
Loạn "Ngũ Đại Thập Quốc" ở
phương bắc kéo dài hơn nửa thế
kỷ là cơ hội lớn cho Việt Nam
thoát khỏi tay phong kiến Trung
Hoa. Trung Quốc chia năm xẻ bảy,
không đủ sức mạnh duy trì chiến
tranh thường trực, tổng lực với
phương nam. Trước Ngô Quyền, dù
các chính quyền họ Khúc, họ
Dương đã xây dựng nền tự chủ
nhưng trên danh nghĩa, chức Tiết
độ sứ vẫn bao hàm nghĩa là một
phiên trấn của "thiên triều"
phương bắc, dù không thuộc về
Nam Hán liền kề nhưng vẫn "nằm
trong tay" của "Ngũ Quý" ở Trung
nguyên (nhà Hậu Lương 907-923,
nhà Hậu Đường 923-936, nhà Hậu
Tấn từ 936).
Thất bại lần thứ hai ở Việt Nam
khiến Nam Hán phải bỏ hẳn ý định
xâm chiếm, khẳng định sức mạnh
của "Tĩnh Hải quân" không sút
kém so với các chư hầu trong "Thập
quốc" lúc đó. Sau trận Bạch Đằng,
Ngô Quyền tự mình xưng vương
hiệu, thành lập hẳn một triều
đại, có triều đình, quan chức,
chính thức xác lập nền độc lập
của Việt Nam. Đây là một bước
ngoặt quan trọng trong lịch sử
Việt Nam mà sau này các nhà sử
học vẫn gọi ông là "ông tổ phục
hưng" cho nền độc lập tự chủ.
Điều kiện khách quan chưa cho
phép ông xưng đế và đặt quốc
hiệu như hơn 20 năm sau Đinh
Tiên Hoàng làm. Chỉ xưng vương
cũng là một cách làm khôn khéo,
"biết mình biết người" của Ngô
Quyền; giống như trước đây Khúc
Hạo đã không xưng vương để giữ
yên bờ cõi vừa vuột khỏi tay
người Bắc, Ngô Quyền không xưng
đế khi chưa đủ "thế" và "lực".
Kinh nghiệm của những người đi
trước và những tấm gương tày
liếp của các triều đại phương
Bắc thay đổi xoành xoạch lúc đó,
sớm dựng chiều đổ khiến ông có
sự thận trọng cần thiết. Trong
hơn 10 nhà cai trị Việt Nam thế
kỷ 10, ông cùng Đinh Bộ Lĩnh và
Lê Hoàn là những người được nhắc
tới nhiều nhất.
Chú thích
^ Có tài liệu ghi năm 930
^ Truyền thuyết dân gian còn kể
về một người con gái họ Đỗ,
người Cổ Loa, từng là vợ Ngô
Quyền
^ Đây là cách nói phóng đại,
theo sử sách đạo quân này chỉ có
2 vạn người
Tài liệu tham khảo
Đại Việt Sử ký Toàn thư
Lịch sử Việt Nam, tập 1 – Phan
Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Lương
Ninh, Hà Văn Tấn, NXB Đại học và
giáo dục chuyên nghiệp, 1991
Thiên Nam ngữ lục – NXB Văn học,
2001
Phả hệ họ Ngô Việt Nam – Ban
liên lạc họ Ngô Việt Nam, NXB
Văn hoá thông tin, 2003
-------------------------Theo
Wiki - Lịch sử VN----------------- |