|
Trong quá trình nghiên cứu
về nguồn gốc và sự phát
triển của ngôn ngữ và văn
hóa Đông Sơn tôi đã đi đến
một luận điểm là: người Lạc
Việt là một nhóm Lava (Lawa)
cổ, và người Âu Việt là một
nhóm thuộc khối Thái lai
Lava cổ [1] .
Sau đây là hệ thống các bằng
chứng bước đầu cho phép đặt
ra và chứng minh luận điểm
đó.
1. Lava=Lo/Luo Yue=Lạc Việt
Lava-trong sách báo tiếng
Anh thường ghi Lawa/Lwa/Lua/Luaq
hiện là một tộc ít người
sống chủ yếu ở hai tỉnh
Chieng Mai và Mae Hong Son
thuộc miền bắc Thái Lan. Tuy
nhiên các tộc gần gũi với
người Lava còn có ở Vân Nam
Trung Quốc với các tên gọi
Kawa/Wa, Bulang [2] .Về mặt
ngôn ngữ, tiếng Lawa thuộc
nhóm Palaungic, dòng Môn-Khmer,
hệ Nam Á.
Tên gọi Lava được coi là tên
được gọi từ người Thái, tức
người Xiêm tộc người chủ thể
của Thái Lan, trong khi tên
tự gọi của người Lava thực
ra là Lavua/Lavia/Ss-va/Rave(t)
[3]
Cholthira dẫn Vicit cho biết
người Lava còn được gọi là
Cao/Lua và người Lào hiện
nay chính là người Thái lai
Lava [4] . Mặt khác, theo
Cầm Cường: người Lào lúc đầu
còn được gọi là Thay Lava,
sau thành Thay Lao=Người Lào
[5] .
Condominas cho hay: Loh=tên
gọi người Lava từ người
Karen-một tộc Tạng-Miến. Một
tên gọi khác của họ là
Milakkha, thường được hiểu
là người man di [6] .
Trước hết, có thể thấy các
tên gọi Lavia /Lavua/Lao/Lua/Lo
là những biến thể của Lava,
trong đó hai tên gọi Lua, Lo
hoàn toàn trùng hợp với cách
ghi Lo/Lua=Lạc trong tiếng
Hoa thuộc dòng Hán-Tạng.
2. Lavaraja-Lạc Vương,
Lua-Lạc dân...
Cholthira dẫn Luong Vicit
Vaathakaan - một trong các
nhà sử học hàng đầu, nổi
tiếng của Thái Lan coi các
nhóm Khom (Khmer)-Lava-Môn
là 3 nhóm người bản địa
tương tự nhau của vùng lục
địa Đông Nam Á, trong đó
người Lava là cư dân bản địa
không chỉ của miền bắc Thái
Lan mà còn của cả Thái Lan
và một số vùng của Lào hiện
nay. Ba quốc gia cổ của
người Lava trước khi có sự
bành trướng và thống trị của
người Thái, Khmer là:
ang hay Yonok với trung tâm
là Mường Ngeun Yang nằm bên
sông Mêkông, tức ở phía bắc
Chiềng Sén ngày nay, lãnh
thổ của Yonok xưa gồm toàn
bộ vùng bắc Thái Lan ngày
nay.
Dvaravati (thế kỉ 4-11) với
Nakhon Pathom là trung tâm,
Lavo (Lopburi) và Siam (Sukhotai)
là hai thuộc quốc [7] chính.
Gotarapura/Phanom=Funan (Hán)=
Phù Nam (Hán-Việt) có Nakhon
Phanom là trung tâm và lãnh
thổ bao trùm hai tỉnh Udon
Thani và Nakhon Ratchasima
ngày nay.
Cũng theo Cholthira, thành
phần tộc người của Dvaravati
hiện là vấn đề còn gây tranh
cãi. Đa số học giả dựa vào
những bi kí chữ Môn tìm được
trong vùng, từ lâu đã tin
rằng coi Dvaravati là vương
quốc của người Môn. Kachorn
(1964) đoán nhận cư dân
Dvaravati là một dạng Proto
Thái, nhân tố làm cho người
Thái đến sau này dễ dàng
thâm nhập vào tầng lớp thống
trị và từ đó biến vùng châu
thổ sông Menam thành xứ Thái.
Tuy nhiên, một số học giả
hàng đầu Xiêm như hoàng tử
Damrong, Luang Vicit lại coi
cư dân cổ nhất, chiếm đa số
của Dvaravati là người Lava.
Condominas cũng cho rằng
“các tổ chức chính trị Lava
có vị trí quan trọng hàng
đầu ở vùng bắc Thái lan và
nam Miến Điện [8] hiện nay,
trước khi người Môn nắm
quyền lãnh đạo và trở thành
những người duy nhất xứng
đáng được ghi lại trong các
văn tự chính thức bằng tiếng
Pali”. Ratanakul dẫn ý kiến
hai học giả Thái khác là
Sisavat và
Khanthatthatbamrong coi
người Lava là chủ nhân của
vùng phía bắc bán đảo Vàng (Mã
Lai) trước khi người Thái di
cư từ Trung Hoa tới [9] ...
Riêng Cholthira cũng cho
rằng vương quốc Dvaravati
thực tế bao gồm nhiều tiểu
quốc Lava bởi tên của thành
phố Lop Buri - trung tâm của
Dvaravati được ghi trong
tiếng Pali là Lavapura=Thành
phố Lava cho thấy tộc người
chủ thể là Lava. Vị vua của
Lop Buri được gọi là
Lavoraja/Lavomaharaja (Vua
Lava/Vua lớn Lava) trong khi
vua của cư dân bị coi là man
di phía bắc cũng được gọi là
Milakkharaja/Lavaraja (Vua
của người Milakkha/Lava).
Trong biên niên sử, từ tên
vị vua đầu tiên là Pu Cao
Lava Cok với vợ là Ya Thao
Lava Cok, các con trai cai
quản các mường Sathuang,
Khvang, Khiak là Lva Kumbho,
Dassa Lakkho, Lva Gandha đến
tất cả các vị vua của triều
đại cuối cùng Lava Canka
Raja (năm 638 sau CN), đều
gắn với từ Lava và các biến
thể của nó.
Mặt khác, cũng theo
Condominas, Ratanakul, Lua/Lavia
là tên tự gọi đồng thời cũng
là từ chỉ tầng lớp bình dân
Lava.
Dễ thấy, dù các tên gọi trên
đều ít nhiều Pali hóa thì
tên gọi tộc người Lava/Lavo/
Lua vẫn được bảo lưu trong
tên gọi ông bà tổ/vua chúa,
người dân Lava. Điều này
tương ứng với các tên Lạc
Long (tổ tiên huyền thoại
của người Việt), Lạc vương,
Lạc hầu, Lạc tướng, Lạc dân...của
người Lạc Việt xưa, dù đã
được Hán hóa vẫn bảo lưu yếu
tố Lạc.
3. Yang=(Văn) Lang, Ngan
Yang=An Dương (vương), Yunok=Âu
Lạc?
Trở lại với tên của 3 quốc
gia cổ của người Lava nêu
trên, đáng chú ý nhất là tên
Yang/Yonok.
Hill coi Yonok=thành phố của
người Yuan song cũng giải
thích Yonok vốn là từ chỉ
người Yuan/Yon/Yan, sau trở
thành từ chỉ thành phố, khu
vực. Tuy nhiên, ông cho rằng
đó là từ Thái lai Pali và
chính Yonok, chứ không phải
Sukhothai là vương quốc đầu
tiên của người Thái ở Thái
Lan [10] .
Điều đáng nói là tên nước
Yang gợi nhớ đến tên nước Ya
Yang chuyển sang âm Hán -Việt
là Văn Lang/Dạ Lang/Việt
Thường của người Lạc Việt;
còn tên gọi Yuan cũng trùng
hợp với tên gọi Yuan/Doan/Duôn
là một tên gọi người Việt từ
người Khmer và các tộc Tây
Nguyên. Tên nước Yang cũng
có thể liên quan tới tên
Dương Việt (Yang Ya) vốn
cũng là một tên gọi của nước
Âu Lạc từ người Trung Hoa
[11] .
Mặt khác, tên thủ đô của
vương quốc Yonok là Ngeun
Yang cũng gần như trùng với
tên hiệu của Thục Phán là An
Dương (âm Hán-Việt,
H-V)=Ngan-Yang (âm Bắc Kinh,
BK), đồng thời tên gọi nước
Yonok hay một biến âm của nó
là Yonaka rõ ràng rất gần
với tên gọi nước Âu Lạc
(H-V)=Ou Lo (BK). [12]
Đặc biệt, theo Jumsai trong
sử biên niên Thái cổ, Yonok
là một quốc gia-thành phố ở
đâu đó tận Sipsong Chau Tai
(tức Tây Bắc Việt Nam) [13]
.
Một câu hỏi đặt ra là: phải
chăng Yang-Yonok chính là sự
phục hưng, hồi cố lại Văn
Lang-Âu Lạc của con cháu vua
An Dương khi bị mất nước đã
phải chạy về miền trung, qua
Lào, sang bắc Thái lan?
Hiện tượng cư dân của một
tộc người vì những lí do nào
đó phải di cư, di tản đến
vùng đất mới lấy lại tên đất
nước, nơi ở cũ là hiện tượng
phổ biến toàn cầu từ xa xưa
cho đến tận ngày nay.
Theo Cholthira [14] người
Tai Yuan đã cai trị người
Lava từ năm 112 tr CN đến
năm 638 sau CN (có lẽ đúng
hơn là người Yuan đã lập
nước ở vùng này từ năm 112
tr CN) trong khi nước Âu Lạc
bị mất vào tay Triệu Đà vào
năm 180 tr CN, như vậy Yonok
được lập sau khi Âu lạc mất.
Theo Ratanakul [15] một thủ
lĩnh Va nói rằng tộc Va/Lava
đã hàng ngàn năm trước di cư
dọc theo sông Mae Ping về
phía bắc và đã định cư từ
lâu ở vùng Chiềng Mai ngày
nay. Trên bản đồ, chúng ta
thấy hạ lưu Me Ping gần với
vùng Nghệ An - theo truyền
thuyết là nơi vua An Dương
sau khi chém Mị Châu đã được
thần Rùa Vàng đưa xuống biển
và là nơi được nhiều học giả
coi là quê hương của nhóm
Vietic. Đặc biệt, vương quốc
Lava Phanom/Phù Nam có thủ
đô Nakhon Phanom với lãnh
thổ bao trùm hai tỉnh Udon
Thani và Nakhon Ratchasima
vùng đông bắc Thái Lan chính
là vùng sát với tỉnh
Khammuon của Lào nơi có
nhiều tộc thuộc nhóm Vietic.
4. Yuan-Mường
Theo Hill [16] người Thái
Lanna, tức người Thái lai
Lava tự gọi là Khon Yuan và
Khon Muang tức trùng khớp
với Yuan/Duôn là một tên
được gọi của người Việt và
Kon Mon /Muan/Mường là tên
tự và được gọi của người
Mường.
Cholthira khi muốn chứng
minh Dvaravati là vương quốc
của người Lava hơn là của
người Môn đã nêu ra lí do
rằng, trong những biên niên
sử Lanna đầu tiên, không có
nêu tên Mon mà chỉ có Lava
và Meng như là hai cư dân
bản địa. Nhưng thực ra,
Meng/Mang là những biến thể
của tên gọi của người Môn và
người Mường.
Cụ thể, theo Đặng Nghiêm
Vạn, Mang là một tên của
người Thái chỉ người Mường
dựa vào tên tự gọi của người
Mường là Mon, Muan [17] .
Trong “Quắm tố mướng” cũng
hay nhắc đến “đất Mọi đất
Mang”,”người Mọi, người
Mang” (lối nói láy trong đó
Mọi=Mang). Tên này cũng rất
gần với: Rmang/Ramang=một
tên cổ của người Môn [18] .
Dù sao, sự trùng hợp các tên
gọi trên càng có ý nghĩa nếu
đặt nó trong một loạt mối
quan hệ giữa Yang-Văn
Lang/Nha Lang và Yonok-Âu
Lạc. Rất có thể, đó chính là
mối liên hệ vừa từ hiện thực
lịch sử vừa trong tiềm thức
và ý thức của những tộc
người cùng cội nguồn.
Việc các học giả không thống
nhất chủ nhân của Dvaravati
là Môn hay Lava có thể giải
thích bằng sự phân hóa
Lava-Mon, tương tự với sự
phân hóa Việt-Mường vào cùng
thời gian đó, chưa hoàn toàn
rõ rệt.
5. Nha Lang-Samang,
Khun-Cun-Hùng, Thao-Tạo
Theo Kunstadter,
samang/khun=dòng họ thủ lĩnh
ở một làng Lava nói chung;
lam=người già nhất dòng họ
cai quản mọi công việc tín
ngưỡng của dòng họ-làng [19]
.
Condominas [20] cho biết
thêm: samang là từ chỉ dòng
họ hoàng gia, quí tộc, thày
mo cao cấp, người gìn giữ
văn hóa Lava. Tuy nhiên, chỉ
có một trong số những con
trai của một samang được kế
thừa danh hiệu samang, những
người khác được gọi là kun.
Dưới samang là lam-thày cúng
cấp thấp. Tương tự, chỉ có
một con trai của lam trở
thành lam như bố. Dưới lam
là lua=bình dân. Đó là 3
đẳng cấp thế tập truyền đời
của người Lava...
Theo Cholthira [21] người
Lava có ông bà tổ là Pu Cao
Ya Thao Cok và Ya Thao Lava
Cok; có một vị vua hiệu là
Khun Vilanga mà theo
Condominas còn được ghi là
Kun Luang Wilangka,
Virangkha...
Ratanakul [22] dẫn tư liệu
của công chúa Thái lan
Rangsit theo đó xã hội Lava
ở làng Umphai, tỉnh Chiềng
Mai vào năm 1969 gồm 4 đẳng
cấp: samang=hoàng tộc,
lam=chức sắc, korit=thày
cúng, lavua=bình dân.
Trong xã hội Mường cổ, theo
Trần Từ [23] , Nha Lang=đẳng
cấp thống trị; Lang Cun
(Kun)=con trai cả chi trưởng
trong dòng họ Nha Lang; Lang
Tạo /Đạo=con trai cả các chi
dưới; Kem=người bình dân
giúp việc cho lang/quan của
vua Trời trong Mo Mường;
Mon=đẳng cấp bình dân-bị
trị.
Có thể thấy: (Nha) Lang
(Mường) tương ứng với (Sa)
mang (Lava) do cùng gốc Ya
Yang và tương ứng với Quan
(Lang=con trai quí tộc và Mi
(Nương /Nang (=Lang(Vua)
Hùng (Việt)=(Pu) Kun/Khun
(Lava); Kem (Mường)=lam
(Lava); Tạo/Đạo
(Mường)=Cao/Thao (Lava) liên
quan đến phụ đạo (H-V); cách
gọi Mon (Mường) tương ứng
với tên gọi tộc người -bình
dân Lua (Lava) và với Lạc
dân (H-V)...
6. Khun Chương-Hai Bà Trưng
Cũng theo Cholthira [24] ,
vào triều đại cuối cùng của
vua Lava Canka Raja (thế kỉ
VII), hoàng hậu Mea Ku (Mẹ
Cu) đã được giao cho việc
trị vì nước Lanna với niềm
tin rằng đất nước sẽ chống
lại được sự bành trướng của
người Miến nếu triều đình
gìn giữ truyền thống cổ.
Trong lễ lên ngôi vua, một
trong tục cổ mà Mea Ku phải
tiến hành là làm lễ
“phiithii suup chataa Khun
Chương”(?) để trở thành
Chương, người được tin là có
thể giải quyết được cơn
khủng hoảng chính trị của
đất nước (TĐ nhấn mạnh).
Ta không thể không liên hệ
phong tục này với việc Hai
Bà Trưng Trắc-Trưng Nhị đã
là hai nữ thủ lĩnh-vua đầu
tiên lãnh đạo người Lạc Việt
đứng lên chống nhà Hán dành
độc lập cho nước Việt trước
đó 600 năm (39 sau CN), vì
không còn nghi ngờ gì nữa,
Trưng chính là biến âm của
Chương.
Tại nước Việt, cũng với
truyền thống đó mà Trương
Hống và Trương Hát đã trở
thành tên gọi của hai vị
thần sông có biểu tượng là
rắn nước được nhân hóa với
tên dân gian là Ông Dài -
Ông Cụt, được phong làm là
thần làng của nhiều làng
thuộc 172 xã ven sông Cà Lồ,
sông Thương, sông Cầu, hay
còn được gọi là Thánh Tam
Giang. Theo truyền thuyết,
hai ông là hai vị tướng của
Triệu Quang Phục-tức Dạ
Trạch vương/Triệu Việt vương
(thế kỉ 6). Khi Triệu Quang
Phục bị giết, hai ông không
theo Lí Phật Tử và tự vẫn,
trở thành thần hiển linh báo
mộng-âm phù cho vua Ngô
Quyền đánh giặc Nam Hán,
được Nam Tấn vương (951-965)
phong là Đô hộ quốc thần
vương (Vua thần hộ nước),
sau giúp Lê Hoàn và Lí
Thường Kiệt đánh Tống (bài
thơ “Nam quốc sơn hà Nam Đế
cư..” được nói là được vang
lên trong đền của hai Ngài).
Tạ Chí Đại Trường, khi viết
về hai vị thần này cho rằng
”sức mạnh thiên nhiên có
công phù trợ nhà nước như
thế, đã được nhân thần hóa
thì phải mang họ của người
và tất nhiên phải là họ tôn
quí. Nhưng ông đã ”không
hiểu vì sao họ Trương lại là
tôn quí lúc bấy giờ”? mà chỉ
biết đó là họ tôn quí “qua
một bằng chứng của thế kỉ
XII: Mùa đông tháng Giêng âm
lịch (1129), thái uý Lê Bá
Ngọc, người được Lí Nhân
Tông vời đến khi hấp hối,
được trấn giữ cung điện đề
phòng bạo loạn khi Thần
Tông-lên ngôi, con người nắm
trong tay vận mệnh của dòng
họ đương quyền như thế, được
phong chức Thái sư và được
đổi làm họ Trương” [25]
Một lần nữa ta thấy ý nghĩa
tâm linh của danh hiệu
Chương/Trưng/Trương-một
truyền thống đã được người
Việt và người Lava bảo lưu
hàng ngàn năm lịch sử.
7. Mị-Mê-Mệ
Vùng bắc Thái Lan, đất cũ
của người Lava-Môn đầy các
địa danh bắt đầu bằng từ Mae
(Me) như tỉnh Me Hong Son,
huyện Me Sariang, Me Ping,
vùng Me Amlan, Me Cham.v.v.
liên quan tới các tên sông
có tiền tố Me như Meping,
Mekong...Tên gọi Me Ku-nữ
hoàng Lava được phong Khun
Chương cho thấy Me (Mẹ) ít
nhất cũng là từ chỉ hoàng
hậu, công chúa Lava tương
ứng với Mị của Mị Châu, Mị
Nương (công chúa con vua
Hùng, Thục); xa hơn tương
ứng với Mi được coi là họ
(đúng hơn là từ đi trước tên
riêng) của người Lạc Việt .
Tên gọi Mê/Mi linh - thành
đô của Hai Bà Trưng; tên
sông Mạ/Mã ở vùng Đông Sơn
rất có thể những hồi âm vang
vọng nhất và cuối cùng của
việc dùng các từ chỉ Mẹ chỉ
địa danh - một truyền thống
Môn-Lava.
Sau này, triều đình Huế
không ngẫu nhiên dùng từ Mệ
để chỉ người trong hoàng tộc
cả đàn ông và đàn bà. Cần
nói thêm văn hóa Huế còn bảo
lưu nhiều yếu tố văn hóa
Việt-Mường cổ. Trần Từ
(1996) đã từng chứng minh
món ăn Huế, kể cả món ăn
“trong Nội” (trong cung
đình) là món ăn Mường, hay
có gốc món ăn Mường.
8. Me Ku-Chăm Đêvi-Dương Vân
Nga-đạo Mẫu
Hệ thống xã hội Lava là một
hệ thống lấy người mẹ -
người đàn bà làm trung tâm
[26] tức mẫu quyền, mẫu hệ,
cư trú đằng vợ... Ya Thao
Lava Cok=bà vua tổ Lava là
người chia đất phân mường
cho các con trai. Như trên
đã nói, một hoàng hậu chấp
chính Lava có tên Me Ku. Một
nhân vật nổi tiếng khác là
Chăm Đêvi - nữ hoàng gốc
Lava được coi là người đã
sáng lập ra kỉ nguyên mới
cho vương quốc Môn
Haripunjaya (Lamphun) thế kỉ
VIII bằng cách tiếp thu Phật
giáo...
Truyền thuyết về việc 50 con
trai theo Mẹ Âu Cơ ở lại
vùng núi, lập nước Văn Lang;
về việc Trọng Thủy ở rể nước
Âu Lạc và Mị Châu được giữ
nỏ thần; hiện tượng Hai Bà
Trưng, Bà Triệu cùng các nữ
tướng lãnh đạo những cuộc
khởi nghĩa đầu tiên dành độc
lập; vai trò của nhà vợ Ngô
Quyền đối với sự nghiệp của
Dương Đình Nghệ; việc Thái
Hậu Dương Vân Nga chấp chính
thời Tiền Lê trong mối quan
hệ đặc biệt với Lê Hoàn...và
đặc biệt đạo Mẫu của người
Việt rõ ràng đều phản ánh hệ
thống đó.
9.
Lava-Lao-Giao-Keo-Swa-Java
Condominas [27] dẫn Finot
cho biết: có một thời điểm
trong lịch sử của Luông
Phrabang(?) ”người ta thấy
xuất hiện một triều đại của
các thủ lĩnh Kha” (tức những
người mông muội) do Khun Swa
(Java) sáng lập lên, sau đó
bị kẻ chinh phục người Thái
là Khun Lò cướp đoạt mất(?).
Tên của vị vua Kha đó được
đặt cho đất nước: Muon Swa
hay Java. Nước này cũng còn
gọi là Lan Xan, không biết
nguồn gốc từ này ở đâu”.
Finot còn giải thích Java là
tên được ghi trên tấm bia
của Rama Khamheng... Dựa
trên các nguồn tài liệu
Trung Hoa, Tatsuo Hoshino
cho rằng Java đó là một nhà
nước đóng vai trò chủ chốt
trong lúc giao thời của lịch
sử Khmer và rồi người ta gán
cái tên Java đó cho một hòn
đảo lớn [28] .
Theo Parkin tộc Kala /Hkala
thuộc nhóm Palaungic ở Vân
Nam và Mianma có tên tự gọi
là Ss-va [29] .
Như vậy,
Swa=Sawa=Ssva=Java=Lava=Kava=Kala.
Vương quốc của người Lava
với vị vua mang tên Lava đó
chính là tiền thân của nước
Lan Xang của người Lào.
Trong khi đó, các tên gọi
quận Giao châu, người Giao
chỉ, Keo (=người Việt) cũng
là những biến thể của
Lava/Lao.
Nguyễn Gia Phu đã chứng minh
các tên gọi quốc gia cổ ở
vùng tây Bắc-Thượng Lào Ai
Lao=Lão Qua=Nam Chưởng và
Nam Chưởng=Lan Xang [30] .
Dễ thấy, Lão Qua (cũng như
Qua Oa) là một phiên âm Hán
Việt của Lava. Đáng chú ý,
Nam Chưởng không chỉ gần gũi
với Lan Chang mà còn cả với
Lạng Chượng=thủ lĩnh /ông tổ
Thái Đen và nước Nam Cương
trong truyền thuyết “Chín
chúa tranh vua”.
Ceodès đã chứng minh ở thế
kỉ 16 tên gọi Lan Chang (Lan
Xang)=Triệu Voi mới xuất
hiện.Tên gọi này tương ứng
với Lanna=triệu ruộng - tên
nước của người Thái Yuan tức
Thái gốc Lava. Theo tôi, rất
có thể cả hai tên Lan Chang
và Lanna đều là sự Thái hóa
cả về âm và nghĩa của Ya
Yang/Nha Lang-tên các quốc
gia gắn với người Lava-Lạc
Việt.
10. Yonok-Âu Lạc-Thục Phán
Nếu vua Hùng/vua Lạc là vua
của nước Văn Lang của người
Lạc Việt/Lava cùng với người
Môn/Mường thì Thục Phán-vua
nước Âu Lạc là vua của tộc
người nào, từ đâu đến?
Sử sách Trung Hoa và Việt
Nam cổ (Giao châu ngoại vực
kí, Quảng châu kí, Việt sử
lược, Toàn thư) coi Thục
Phán là con vua Thục (thời
Xuân Thu) từ Ba Thục đến.
Học giả Trung Quốc Trần Tu
Hòa (1944) cũng cho rằng
Thục Phán là con út hoặc con
di phúc của vua Thục chạy
tránh quân Tần đến Vũ Dương
(Tứ Xuyên), rồi từ đó theo
theo sông Mân Giang xuống
Quí Châu, Vân Nam rồi lại
theo sông Lô (Hồng) xuống
chiếm Văn Lang. Đào Duy Anh
về cơ bản đồng ý với Trần Tu
Hòa, nhưng coi Thục Phán là
cháu vua Thục còn sót lại
sau một thời gian luân lạc ở
Quí Châu, Vân Nam [31] ...
Nhưng, việc Lã Văn Lô (1963)
công bố bản dịch truyền
thuyết “Chín chúa tranh vua”
do Lê Sơn phóng tác dựa trên
truyền thuyết của người Tày,
Nùng ở Cao Bằng một thời đã
làm cho một số sử gia chuyển
hướng, coi Thục Phán là vua
nước Nam Cương ở vùng Cao
Bằng, Quảng Tây của người
Tây Âu -tổ tiên của người
Tày -Nùng hiện nay(?). Nhưng
một số học giả cũng nghi ngờ
về điều này.
Dù trong cả hai trường hợp,
Thục Phán đều có nguồn gốc
Thái (nghĩa rộng bao gồm
Tày-Nùng), nhưng chúng ta
hiện có nhiều bằng chứng hơn
để đoán định rằng Thục Phán
là vua của một nước của
người Thái lai Lava hoặc
Lava Thái hóa (=Lự=Thái
Đen=Ai Lao, tức gần gũi với
người Lạc Việt) ở Vân Nam
tương ứng với nước Tây Thục
được ghi trong Hậu Hán Thư.
Không ngẫu nhiên,
Lua/Lự/Lặc/Lạc là những tên
gọi của người Thái Sip song
Panna-Vân Nam; La=tên gọi
người Thái Đen ở Vân Nam;
Lò= họ vua chúa/quí tộc của
người Thái Đen, Lào; người
Mường gọi người Thái Đen là
Rự
Cũng không ngẫu nhiên, dạng
nhà Thái Đen có mái hình mu
rùa rất gần gũi với nhà Va ở
Vân Nam. Izikowitz - nhà dân
tộc học Thụy Điển - coi Thái
Đen là một nhóm gần gũi với
người Lamet được Thái hóa
[32] . Diffloth (1980) coi
cả tiếng Lamet (hiện thuộc
Khmuic) cũng thuộc Palaungic
nhưng tên gọi
Lamet/Khamet/Khamed cũng như
văn hóa Lamet được coi là
gần gũi nhất với người Khmu.
Mặt khác, theo Tanabe, Cao
Cheng Yong-thủ lĩnh huyền
thoại của người Lava thống
lĩnh vùng Vân Nam đã trở
thành một trong những thần
bảo hộ chính của mường Hai
-mường lớn thứ hai vùng Thái
Lự Vân Nam hiện nay bởi
người Thái là tộc người đến
sau và đã hòa nhập vào với
người Lava là tiền chủ vùng
này... Rất có thể, người Côn
Minh và tên thành phố Côn
Minh hiện nay cũng có gốc từ
Con Meng=Người Môn /Mường.
[33]
Đáng xem xét ở đây là từ
nguyên của Thục Phán.
Trần Quốc Vượng có lẽ dựa
vào Cầm Trọng coi Thục Phán
có gốc Tuc/To (đánh giặc, mở
đất?) + Phắn /Phanh (mở đất
mở mường)=thủ lĩnh đánh
giặc, mở đất, mở mường trong
từ vựng Tày-Thái cổ(?) trong
khi Cầm Trọng lại dịch to
túc phăn=người thống soái
các đoàn quân chinh chiến
thời cổ. [34]
Nhưng theo tôi, có nhiều khả
năng hơn là Thục Phán=Shu
pan (Hán) có gốc Chu Phen
trong Chẩu/Chu phen đin/Chẩu
phen căm=Chúa Đất/Chúa
Người=lãnh chúa lớn cao nhất
của người Lự (Chẩu=Chủ/Chúa,
phen=1000=tượng trưng số
nhiều, đin= đất, căm
=người).
Ta biết chẩu/châu=chu, tương
ứng với zhu (BK)=chủ (H-V)
và có thể đã biến âm thành
shu=Thục. Theo Lý Lạc Nghị -
Jim Waters [35] chữ Thục
(shu) trong Ba Thục có nghĩa
gốc-tượng hình chỉ ấu trùng
một loài bướm(?!) nhưng lại
đồng âm với nhục=ai/người
nào. Điều này cho thấy, tên
gọi Thục tương ứng với
chu/chau =người [36] .
Zhu Chang Li [37] cho biết
chau phen din (Lự, Thái
Đen)=zhao pian ling (Bái -
một nhóm Thái) và trong
tiếng Bái zhao=vua/tộc người
/khu vực /đất/ruộng.
Mặt khác, phen có thể gốc
phan/pan/ban=1000 (Sipsong
phan/pan na=12000 ruộng), từ
đó phanđin=phanna chỉ lãnh
thổ.
Như vậy, Thục Phán là vua
của một nhóm hỗn chủng
Thái-Lava từ phía tây bắc.
Không ngẫu nhiên, trong ngọc
phả đền Hùng viết Thục Phán
là “bộ chúa Ai Lao” là một
trong 15 bộ của nước Văn
Lang. Mặt khác, tên gọi An
Dương (Ngan Yang) chắc hẳn
cũng có quan hệ với các tên
gọi nước Nha lang>Văn lang
(có gốc Ya Yang); với nước
Yelang=Dạ Lang ở tây Quí
Châu cũng như đến tên Yuan
>Yonok>Âu Lạc...
Có lẽ, điều này cho phép
giải thích một loạt các hiện
tượng: mối quan hệ thống
nhất giữa văn hóa Dạ Lang,
Điền (Thục Điền/Điền Việt)
hay văn hóa Tấn Ninh ở Vân
Nam với văn hóa Đông Sơn; sự
tương đồng về cấu trúc giữa
thành Cổ Loa và Xam Mứn của
người Lự; các yếu tố Thái
trong tiếng Việt... Điều này
cũng phù hợp với thông tin
của Jumsai về mối quan hệ
Yonok (Âu Lạc)- Sip Song
Chau Tay (12 châu Thái tức
vùng Thái ở Tây Bắc Việt
Nam); với quan điểm của
Kachorn (1964) đoán nhận cư
dân Dvaravati là một dạng
Proto Thái; với sự trùng hợp
tên gọi Yuan của người Việt,
Thái Lanna, Lự và một bộ
phận người Lào; với việc
phần sông Hồng - con sông
nối Vân Nam-Tây Bắc-Bắc Bộ
Việt Nam ở bên Trung Quốc
theo Kempers [38] được gọi
là Yuan Jiang=sông Yuan...
(ta biết hiện tượng tên sông
gắn với tên tộc người rất
phổ biến ở vùng Đông Nam Á
cổ).
[1]Xem Tạ Đức: “Nguồn gốc và
sự phát triển của kiến trúc
-biểu tượng và ngôn ngữ Đông
Sơn”. Hội Dân tộc học và
Trung tâm Tiền Sử Đông Nam Á
xuất bản. Hà Nội 1999. Bài
viết này, do đề tài đặc biệt
của nó chỉ là một phần nhỏ
rút ra trong cuốn sách, có
rút gọn, sửa sang và cũng
được bổ sung một số tư liệu
mới. Bị tách khỏi tổng thể,
bài viết có lẽ sẽ không
tránh khỏi gây cảm giác bỡ
ngỡ cho ai đó khi lần đầu
tiếp xúc. Do đó, để hiểu rõ
hơn một số điểm trong bài
này (nhất là về mặt ngôn
ngữ) mong bạn đọc có dịp đọc
cuốn sách trên. Dù sao, mục
đích của tác giả chủ yếu là
xới lại “một vấn đề rất hay
nhưng cũng rất khó” trong
lịch sử dân tộc này để cùng
tìm hiểu, trao đổi.
[2]Trong tên Lawa, âm w có
thể là v/u/o, do đó Lawa
>Lava//Lua/Lào. Tôi chọn
cách ghi Lava. Tên gọi Lava
/Lua/Lao...cùng với tên gọi
Việt (Yue) suy cho cùng có
gốc Ya cùng với Pu vốn là
hai từ chỉ người cổ trong
ngôn ngữ Tiền Đông Á có quê
hương từ núi Himalaya, từ đó
phát triển thành các hệ
Hán-Tạng, Thái-Kađai, Nam Á,
Nam Đảo. Chính hai từ đó là
gốc của Bai Yue =Bách Việt,
Bai Pu=Bách Bộc là tên người
Hoa dùng chỉ các tộc khác ở
Nam sông Dương Tử. Các biến
âm của Ya là
La/Nha/Ja/Cha/Xa/
Ka/Kha/Ta/Yang/Lang/Rang/
Nhang/ Chang/Yay/
Lay/Tay/Jay... còn lưu lại
trong tên tự gọi của nhiều
tộc người ở Đông Nam Á.
[3]Điều lí thú là trong
tiếng Việt ở Hà Nội của
những năm 60-70 có một cặp
từ thường chỉ dùng trong
giới trẻ để chỉ bố -mẹ là
“ông bô-bà via” tương ứng
với cặp ông bộc-bà việt (gốc
Pu Ya) nếu bỏ thanh nặng và
âm cuối c-t. Với từ Lạc Việt
nếu bỏ âm cuối c, t sẽ cho
La Vie gần đúng với tên tự
gọi của người Lava. Tương
tự, từ Liệt Ninh (H-V) bỏ
hai âm cuối t, h sẽ cho âm
Lie Nin gần đúng âm gốc
Lenin. Một sự ngẫu nhiên?
[4]Cholthira Satyawadhna,
Ethnic inter-trlationships
in the history of Lanna:
Reconsidering the Lwa role
in the Lanna scenario. Tai
culture. Vol II, No 2.
SEACOM. 1997, tr 15.
[5]Cầm Cường. Tìm hiểu văn
học dân tộc Thái ở Việt Nam.
KHXH. 1993, tr 23.
[6]Condominas, Georges.
Không gian xã hội vùng Đông
Nam Á (dịch từ tiếng Pháp).
VH. 1997, tr 248.
[7]sub-states
[8]Nay gọi là Myamar - BT
[9]Ratanakul Suriya. The
phonology of Lawa in SEA
Linguistic Studies presented
to A. G. Haudricourt.
Bangkok. 1985, tr. (264-309)
[10]Hill Ronald. C. Where
and what was Yonok ? in
Proceedings of the 4th
International Conference on
Thai studies. Kunming. 1990,
tr 286.
[11]Nguyễn Văn Tố. Đại Nam
Dật Sử. Hội Khoa học Lịch Sử
VN. 1997, tr 443.
[12]Về tên Yonaka xem
Maspero. Eveline. Porée:,
Etude sur les rites agraires
des cambodgiens. Paris
Mouton & Co La Haye.Tome 3
1969, tr 981.Về cách ghi
Ngan yang=An Dương xem
Aurousseau (1923:212),
Chamberlain (1998:14).
N.G.Phu (1992) cũng chứng
minh Ngai Lao=Ai Lao do ai
(Hán phương Bắc)=ngai (Hán
phương Nam). Ta biết, ngay
trong tiếng Việt Bắc và Nam
bộ cũng có sự tương ứng
ngoan-oan, nguyễn-uyễn.
Trong trường ca Chương Han
cũng có tên Mường Ngân
Dang=Ngan Yang trùng với tên
thủ đô Yonok...
[13]Jumsai Sumet.
Naga-Cultural Origin in Siam
and the West Pacific
Singapore. 1989, tr 24.
[14]sđd:15
[15]sđd: 265
[16]sđd, tr 283
[17]Đặng Nghiêm Vạn (chủ
biên) Tư liệu về lịch sử và
xã hội dân tộc Thái. KHXH
1977, tr 464.
[18]Parkin sđd, tr 61
[19]Kunstadter Peter: The
Lua (Lawa)...of Maehongson
Province, in Southeast Asian
Tribes...Princeton
University Press.1967, tr
656.
[20]sđd, tr 252
[21]sđd, tr18
[22]sđd, tr 265
[23]Trần Từ. Người Mường ở
Hoà Bình. Hội KHLS VN. 1996,
tr 10, 205.
[24]sđd, tr 14
[25]Tạ Chí Đại Trường. Thần,
Người và Đất Việt. Văn nghệ
-Caliorlia-USA. 1989, tr 57.
Lịch sử không chỉ biết đến
Hai Bà Chương Trắc Chương
Nhị mà còn tới Chương Han,
một anh hùng huyền thoại
Khmu, Lào, Thái Đen; tới Mơ
Trang Lơn (=Po Chương Lơn),
một anh hùng Mnông thời
chống Pháp. Danh hiệu Chương
có quan hệ từ nguyên và ngữ
nghĩa với Yang, từ chỉ thần
linh trong ngôn ngữ của
nhiều tộc người Đông Nam Á.
Trong cuốn sách, tôi cũng đã
chứng minh trong ngôn ngữ
Việt, Chăm, Thái, nhiều từ
chỉ dòng họ và họ, đặc biệt
là các họ quí tộc có gốc là
từ chỉ Người/tên tự gọi tộc
người. Họ Trương là một cách
chữ nghĩa hoá, từ đó Hán hoá
danh hiệu Chương...
[26]matri-centred system
[27]sđd, tr 280
[28]có lẽ là đảo Java ở
Indonesia. Không loại trừ
người Java là con cháu của
một nhóm Lava di cư. Java là
đảo ở Indonesia tìm thấy
nhiều trống đồng Đông Sơn
nhất.
[29]Parkin Robert. 1991. A
guide to austroasiatic
speakers and their
languages. University of
Hawaii Press.
[30]Nguyễn Gia) Phu. Tìm
hiểu các từ Ai Lao, Lão Qua,
Nam Chưởng. NC Đông Nam Á.
No 4. .1992, tr 68.
[31]Đào Duy Anh. Đất nước
Việt Nam qua các đời...
Thuận Hoá-Huế. 1994, tr 24.
[32]Parkin, sđd, tr 100
[33]Tanabe Shigeharu.
Spirits and Ideological
Discourse: The Tai Lu
Guardian Cults in Yun Nan.
Sojourn.Vol 3 No 1. 1988, tr
21.
[34]Cầm Trọng -Phan Hữu
Duật. Văn hoá Thái Việt nam.
VHDT. HN. 1995, tr 321.
[35]Lý Lạc Nghị & Jim
Waters. Tìm về cội nguồn chữ
Hán.Thế Giới. HN. 1997, tr
716.
[36]Về mối quan hệ từ nguyên
giữa các từ chỉ Người-không
gian tộc người (sông, núi,
đất, nhà, làng, nước)-đại từ
chỉ người-từ chỉ thân tộc-từ
chỉ hồn ma-thần linh, tên
tộc người-thủ lĩnh -vua
chúa... xem Tạ Đức (sđd,
phần III).
[37]Zhu Chang Li.. A
research on Pong-an ancient
Shan state in Proceedings of
the 4th international
Conference on Thai studies.
Vol I-Kunming. 1990, tr 55.
[38]Kempers. A.J.B.. The
Kettledrums of Southeast
Asia. A. A .Balkema/
Rotterdam.1988, tr 263.
|
|