|
11. Thành Ốc: Cổ Loa -Lamphun...
Theo Condominas [1] công
trình quân sự được gọi là
“lăng mộ Lua” (kơvah Loh
trong tiếng Karen) ở vùng
bắc Thái Lan mà ông khảo sát
có dáng gần gũi với các công
trình hình tròn - một dạng
thành bằng đất đắp của cư
dân Môn-Khmer - cư dân
nguyên thủy Đông Dương còn
vết tích trên một vùng rất
rộng ở Thái Lan, Cămpuchia,
cao nguyên Thượng Lào, Nam
Việt Nam.
Có thể thấy, thành Cổ Loa,
kinh thành của nước Âu Lạc,
còn được gọi là Kiển thành (thành
hình kén) chính là một dạng
thành hình tròn nói trên.
Theo Higham, thành Cổ Loa
được dựng cùng thời với các
thành đất đắp ở thung lũng
sông Mun (Thái Lan) tức vào
khoảng 400 năm tr CN đến 200
năm sau CN và giữa hai vùng
có sự tiếp xúc trao đổi qua
dãy Trường Sơn. Thành có
nhiều vòng thành nhất hiện
còn là thành Noen U Loke với
5 vòng. Đặc biệt, kết cấu
thành Ban Chiang Hian rất
gần gũi với thành Cổ Loa [2]
. Tên sông Mun cho thấy chủ
nhân vùng này là người Mun/Môn
tức người Mường cổ.
Về mặt kiến trúc, thành Cổ
Loa có lẽ là thành lớn nhất
trong số các thành đất đắp
hình tròn của cư dân Môn-Khmer
cổ còn dấu tích dày dặc ở
Đông Nam Á lục địa và
Madagasca có niên đại cách
đây 1500-2500 năm trong đó
nhiều thành có đặc điểm
tương tự thành Cổ Loa với sự
kết hợp chức năng phòng thủ
với chức năng chứa nước, dẫn
nước, giao thông...
Vấn đề là, trong các sách
tiếng Hán xưa của cả Trung
Quốc và Việt Nam như Nam
Việt chí (Cựu Đường thư), An
Nam chí lược, An Nam chí
nguyên, Việt Kiệu thư, Lĩnh
Nam chích quái, Dư địa chí,
Hoàng Việt dư địa chí, Đại
Việt sử kí toàn thư thì
thành được ghi bằng nhiều
tên Hán Việt khác nhau là:
Khả Lũ, Khả Lưu, Loa Thành,
Côn Lôn, Tư Long, Quỉ
Long...
Về tên gọi thành này có
nhiều quan điểm.
Stein, khi xem xét mối quan
hệ về mặt từ nguyên giữa các
biểu tượng mang tính vũ trụ
như quả bầu, hang, núi Côn
Lôn trong văn hóa Trung Hoa
và Việt đã cho rằng từ Côn
Lôn có gốc klong (Tây Tạng)=rộng
lớn, một thể hỗn mang, một
làn sóng, mọi vật lượn sóng
(ví dụ những nếp uốn của vỏ
sò), sự rộng mênh mông về
không gian và chiều sâu tinh
thần, điểm trung tâm... Từ
đó, thành Cổ Loa đã được
dựng theo mô hình huyền
thoại Côn Lôn với hình xoắn
của vỏ sò...
Trong một cuốn sách năm
1990, ông cũng đưa ra các
bằng chứng về việc Phạm Lãi
khi dựng thành cho vua nước
Việt Câu Tiễn cũng đã mô
phỏng mô hình vũ trụ khởi
nguyên - núi Côn Lôn tương
ứng với với thiên văn (tượng
của trời). Đặc biệt, ở phía
mặt lớn của thành, Phạm Lãi
còn cho dựng Qui Sơn=Núi Rùa
có vai trò là “quái du đài”
- tức nơi để xem bói mu rùa
và quan sát thiên khí. ...
Cũng theo Steine, trong tâm
thức Trung Hoa, núi Côn Lôn,
nơi khởi nguồn của sông
Hoàng Hà, cũng được coi là
ngọn núi khởi nguyên và
trong nhiều trường hợp được
đồng nhất và chia sẻ nhiều
đặc tính với núi Meru của Ấn
Độ, núi Sumeru Tây Tạng.
Đặc biệt núi Côn Lôn cũng
được quan niệm có 9 tầng (theo
chiều dọc) hay 9 vòng quanh
co hình xoáy ốc thể hiện 9
khúc quanh co của sông Hoàng
Hà (theo chiều ngang). Đó là
nơi trú ngụ của các con rồng
bay lên trời cũng theo hình
xoáy ốc. Tương tự núi Meru,
Côn Lôn là cột trụ nối trời
với đất, là trục của vũ trụ
và của 9 tầng trời được dựng
trên lưng rùa, nơi chứa đựng
linh khí, nơi thành hôn của
Phục Hi và Nữ Oa - cặp vợ
chồng khởi nguyên vốn là hai
anh em ruột và là ông bà tổ
của người Trung Hoa.
Mặt khác, ông cũng vạch ra
mối liên hệ giữa truyền
thuyết Rùa Vàng giúp việc
dựng thành Cổ Loa với quan
niệm về vai trò trấn thủy,
bảo hộ đê điều của các biểu
tượng rùa-trâu-ốc thể hiện
qua tục yểm hay ném xuống
sông hồ tượng các con vật
trên đúc bằng kim loại, tục
thờ thần Trấn Vũ (Rùa=Huyền
Vũ) ở Trung Quốc và Việt
Nam; mối quan hệ biểu tượng
và từ nguyên giữa
rùa-trâu-ốc sên (rùa có hai
cái bướu ở đầu như sừng của
trâu và ốc sên, trong tiếng
Hán ốc sên được gọi là ốc
ngưu (H-V)... [3]
Trong mối liên hệ đó, theo
Taylor, việc dựng thành Cổ
Loa và truyền thuyết rùa
vàng cũng gợi nhớ đến việc
nhà Tần xây dựng Thành Đô ở
Tứ Xuyên sau khi chiếm nước
Thục một thế kỉ trước đó.
[4]
Cần nói thêm, hình xoáy ốc
tương ứng với hình cuộn tròn
của mình rắn cũng chính là
hình thế của núi khởi nguyên
Meru/Sumeru/Himalaya cũng
được coi là mô hình của các
đền tháp Ấn Độ và Đông Nam Á
cũng như của kim tự tháp của
người Indien Aztec ở Mexico.
[5]
Rõ ràng, việc dựng thành Cổ
Loa theo sử sách có hình
xoáy ốc với 9 vòng thành đã
nằm trong một truyền thống
chung của kiến trúc tiền sử
nhân loại. Đó là tạo ra các
công trình gắn với các huyền
thoại khởi nguyên và mô
phỏng một mô hình, một biểu
tượng vũ trụ khởi nguyên....
Trong khi đó, Đào Duy Anh
[6] , một mặt, coi tên gọi
Loa Thành là “do người Trung
Quốc đặt ra để gọi thành xưa
của An Dương Vương mà tập
truyền cho là hình xoáy ốc (loa=ốc),
vì thấy nó có vòng trong
vòng ngoài, được miêu tả là
“có 9 lớp, chu vi 9 dặm”. Từ
tên Loa thành đó mới có tên
làng Kẻ Loa=người làng có
thành Loa, có tên thành là
Kẻ Loa rồi sau phiên âm
thành chữ Hán là Cổ Loa/Khả
Lũ”, mặt khác cũng ngờ rằng
Loa thành với Kiển Thành (thành
hình kén) do Mã Viện cải tạo
là một.
Trần Quốc Vượng, tuy cũng mô
tả “thành Cổ Loa gồm nhiều
lũy đất quanh co xoáy ốc có
kè đá” nhưng lại coi tên gốc
của thành là Klủ>Chủ, liên
quan tới các từ dân gian gọi
Cổ Loa là Kẻ Chủ, thành Chủ;
tên An Dương Vương là vua
Chủ, trong đó Chủ=Chẩu=thủ
lĩnh và tương ứng với vai
trò kinh đô, nơi vua ở của
thành, còn tên Cổ Loa thì
chỉ là”một lời lí giải kiểu
ông đồ” [7] ...
Bùi Văn Nguyên [8] khi coi
Thành Đông/Loa Thành/Việt
Vương Thành có thể ở xã Diễn
An, huyện Diễn Châu, tỉnh
Nghệ An, nơi cũng có đền An
Dương Vương lại cho rằng tên
Loa Thành =Thành ốc có thể
là thành xây bằng gạch vỏ ốc
chứ không chắc là thành có
hình xoáy ốc vì ở chính vùng
này ở dưới đất có nhiều vỏ
sò, ốc kết thành tảng có thể
dùng để xây tường thành chắc
như gạch (!).
Mặt khác, Hà Văn Tấn cho
hay: học giả Anh Davidson từ
hiện tượng Rùa Vàng là thần
bảo hộ cho thành Cổ Loa
trong truyền thuyết Mị Châu
-Trọng Thủy, cho rằng tên Cổ
Loa rất có thể tương ứng với
kara (Chăm)=kroa (Giarai)=kula
(Proto IN)=rùa=kula/karac
(Proto Nam Đảo) = con trai...
[9]
Tuy nhiên, được biết: ốc=klo
(Khmu)=lo (Proto Va,
Lava)=lo (BK)=loa (H-V)...
Điều này cho thấy tên thành
Cổ Loa cũng như các tên gọi
khác như Khả Lũ, Côn Lôn, Tư
Long...có nhiều khả năng đều
là sự chuyển âm Hán Việt của
từ cổ klo với hai âm đầu k-l
và nhiều nghĩa trong đó một
nghĩa=ốc hiện còn được bảo
lưu trong tiếng Khmu. Điều
lí thú là nhiều địa danh
quanh Cổ Loa như sông Cà Lồ,
bến đò Lo, làng Lủ (Việt)=
Kim Lũ (H-V)= tên làng Cổ
Loa; vùng/huyện Phù Lỗ...và
cả tên người làm nỏ thần
trong truyền thuyết Loa
Thành là Cao Lỗ ... đều có
thể có quan hệ từ nguyên với
klo.
Có thể thấy, từ klo/lo=ốc có
họ hàng với một loạt từ chỉ
sông nước, tiếp đó chỉ các
con vật gắn với sông nước và
trở thành các biểu tượng cho
sông nước khác như klung (Tây
Tạng cổ điển, Môn)=krong (Bahnar,
klo (Karen, Toraja)=klu (Arem)=
kung/kang/giang (H-V)=gang (Skr)=
sông/kênh; >klu (Tây Tạng)=klu/khú
(Mường)=rồng (Việt, Khmer cổ)=long
(H-V)=vua rắn nước /cá sấu;
klu (Mường)= tru (Việt Trung
bộ)=trâu (Việt Bắc Bộ); ro (Mường)=rùa
(Việt)=kroa (Giarai); khu (Mường)=cá
sấu/rồng...
Tương tự, ya (Lê)=ia/ea (Êđê,
Jarai)=ayar (Malay)=aek (Tạng
-Miến)=he (BK)=hà (H-V)...=sông/nước
>ya (Lê)=tha/xà (H-V)=naga (Skr)=
rắn/rồng....
Cần nhấn mạnh rằng, trong
ngôn ngữ Đông Nam Á cổ, các
từ klu/klo... hay ya/đa/đak/nak...
vốn là các từ có gốc từ chỉ
Người (Pu-Ya), sau chuyển
thành các từ chỉ sông/nước
như một dạng không gian cư
trú gắn với người, tiếp đó
là từ chỉ các con vật biểu
tượng cho sông nước rồi dần
mới phân hóa thành các từ
chỉ rắn, trâu, rùa, cá sấu,
ốc, trai, rồng... [10]
Vấn đề là, theo Jumsai [11]
, bình đồ của thành phố
Hariphunchay (Lamphun) vào
thế kỉ 7 và 8 sau CN có hình
con ốc. Một biên niên sử
Thái có tên gọi là
Jamthewiwong cho biết, hai
đạo sĩ là Vasuthep (hay
Sutheva) và Sukkathanta
chính là hai người đã thiết
kế và xây dựng thành phố đó.
Cả hai đã cùng quyết định
coi hình ốc là hình dạng
thích hợp nhất cho thành phố
và nhờ một đạo sĩ thứ ba có
tên là Phra Satchnalai tìm
cho con ốc ở tận đáy biển
làm mô hình mẫu. Khi thành
phố Hoàn thành, hai nhà đạo
sĩ mời Jamthevi, một hoàng
hậu từ phía nam về cai quản.
Sau đó, Jamthevi lại cùng
với hai đạo sĩ dựng lên một
thành phố khác có tên là
Khelangnakhon hay Lampang
ngày nay cũng có hình thù
giống với vỏ ốc.
Ngoài ra, các thành phố khác
trong vùng như Chiang Mai,
Phrae cũng có hình vỏ ốc...
Khi chuẩn bị xây dựng thủ đô
Ayudhya (của người Xiêm),
người ta cũng phát hiện được
vỏ ốc ở lòng đất chính ở nơi
dự định xây, và điều này
được coi là một điềm lành.
Người Xiêm coi vỏ ốc chính
là biểu tượng chiến thắng
của Narai, được coi là hiện
thân của thần Visnu, vị thần
chủ của naga. Cũng ở thời
Dvaravati, vỏ ốc được coi là
một biểu tượng của nước, sự
phồn thực và được dùng trong
các nghi lễ lớn của triều
đình.
Chính ở đây, chúng ta cũng
có thể kết nối từ Klo/Cổ Loa
với từ Krung, từ đứng trước
từ Ayudhya, tên thủ đô của
nước Xiêm từ 1531 đến 1767.
Jumsai [12] nhận xét: từ
krung có gốc kreung (Môn)=
sông/ kênh. Ai thống trị
được sông nước cũng sẽ là
người thống trị được đất
nước và từ krung trở thành
đồng nghĩa với nơi trị vì
của vua chúa hay thủ đô.
Cũng cần nói thêm, trong khi
tên các nhánh sông Hồng như
Cà Lồ/Lô tương ứng với Klo
thì một tên cổ của sông Hồng
là Phú Lương, cũng như tên
sông Đuống có thể tương ứng
với krung /klung.
Vấn đề là, theo Condominas
[13] : Lamphun chính là tên
thành và tên một vương quốc
của người Lava; Jamthevi,
một biến thể của Camadevi/Chamtevi/Camdevi
chính là một hoàng hậu gốc
Lava (trong khi Coedes coi
là người Môn) và đạo sĩ
Vasudesa, cũng là người
Lava, chính là cha nuôi của
nàng; nàng là mẹ của hai vua
Môn sau này là Haripunjaya (Lamphun)
và Khelanga (Lampang)...
Như vậy, ta lại thấy có sự
tương đồng về tính biểu
tượng ốc giữa thành Cổ Loa
của người Lạc Việt và tiếp
đó của người Âu Lạc với
những thành trì của người
Lava-Môn-Xiêm (Thái lai Môn).
Điều lí thú là theo Parkin
[14] Khalo/Kalo một thời
cũng là từ người Việt gọi
chung các tộc miền núi Quảng
Bình thuộc nhóm Vietic và
hiện vẫn là tên của một số
nhóm Palaungic và Katuic.
Như vậy không loại trừ đã có
mối quan hệ “đồng thanh
tương ứng” giữa tên gọi gốc
của thành Cổ Loa là Klo với
tên gọi tộc người Klo/Kalo
cũng như với tên sông Cà Lồ/Lô
của sông Hồng, con sông bồi
đắp nền văn minh Việt cổ.
Điều này lại cho phép kết
nối quan điểm coi tên gọi
Lạc=Lo/Lua=Người với các
quan điểm: a- của Nguyễn Kim
Thản -Vương Lộc (1974) coi
Lạc=nác/rác/nước; b- của học
giả Nhật Goto Kimpei (1975)
coi Lạc=lạch, rạch; c- của
học giả Lào Kham Banh (1994)
coi Ai Lao có gốc Cẩu Lổng=Cửu
Long=Chín Rồng... Cần nói
thêm là người Toraja
(Indonesia) có dạng nhà gần
gũi nhất với dạng nhà sống
võng trên trống Ngọc Lũ lại
có từ klo=kênh /rạch...
Về Cao Lỗ, Tạ Chí Đại Trường
[15] nhận xét: ”Truyện của
Việt Điện U Linh... coi Cao
Lỗ là bầy tôi của An Dương
Vương nhưng (ông) lại là một
vị thần được thờ cúng, trong
khi An Dương Vương vắng mặt
trên đền đài của các triều
vua buổi đầu độc lập; ít ra
thì tính cách thiêng liêng
của Cao Lỗ đã nổi bật hơn,
nếu không nói là khuynh loát
An Dương Vương, nghĩa là sự
thờ cúng Cao Lỗ đã là của
truyền thống ăn sâu vào
trong thời gian khiến con
người quan tâm đến thần linh
địa phương như Cao Biền...
đã phải lưu ý mà lập đền thờ”...
Mặc dù trong văn cảnh của
truyền thuyết, tên Cao Lỗ
từng được gắn với Nỗ=nỏ song
có nhiều khả năng hơn Cao Lỗ/Cao
Thông chính là biến âm của
Klo/Klong=tổ tiên-thần bảo
hộ thành Cổ Loa có gốc Klo/Klong=sông/nước/ốc/rùa/trâu/rắn/rồng
và đồng thanh tương ứng với
tên tộc người Lava/Kala/Kalo=Lạc
Việt. Không ngẫu nhiên, Cao
Lỗ còn được coi là thần rồng
đá (Giáp Mão Thạch Long).
Sau này, vị thần-tổ tiên đó
đã mang tên Hán hóa là Lạc
Long Quân...
Ngoài ra, cũng có thể kết
nối Cao Lỗ/Cao Thông với các
từ Cổ Long, Côn Lôn là các
từ trong sử sách Trung Hoa
dùng để chỉ vua, quan đại
thần, cư dân Phù Nam, Chăm,
Khmer, Mã Lai... tóm lại các
cư dân khác Hán [16] . Đáng
chú ý ở đây là tên gọi này
cũng lại trùng khớp với tên
núi Côn Lôn...
Mặt khác, suy cho cùng rắn/rùa/ốc/cá
sấu..., các hiện thân cụ thể
của rồng cũng là các biểu
tượng của vua chúa - chủ
thành - chủ đất nước và ở
trung tâm đất nước. Chính
quan điểm này kết nối và
thống nhất các quan điểm của
Stein - Trần Từ - Trần Quốc
Vượng - Davidson về từ
nguyên Cổ Loa. Ngoài ra,
việc truyền thuyết kể Rùa
Vàng giúp Thục Phán xây
thành, cho móng làm lẫy nỏ
giữ thành cũng là một sự
phát triển của mô típ rùa
dạy người làm nhà trong
huyền thoại khởi nguyên
Mường.
Trong mối quan hệ đó, như
một truyền thống, nhiều tên
gọi thủ đô của nước Việt sau
Cổ Loa không chỉ kế thừa
truyền thống kĩ thuật mà còn
cả biểu tượng rồng thể hiện
qua tên gọi như Long Biên,
Long Đỗ (Bụng/Rốn Rồng) và
nhất là Thăng Long...
12. Trống đồng
Trong một chuyên khảo về
trống đồng ở Đông Nam Á,
Kempers [17] dẫn tư liệu từ
nhiều học giả cho biết:
a. Trống đồng (yàan) là nhạc
cụ quí nhất của người Yuan
Kammu (có lẽ một nhóm Yuan
Khmu hóa) ở Lào. Từ yàan (Kammu)
rất gần với từ yang (Karen)
và yang deang (dùng ở Thái
Lan). Quan niệm phổ biến của
người Kammu là trống đồng
được mua ở Miến Điện, trống
do người Lwa/Lva (Lava) đúc.
Tại vùng Yuan ở Lào cũng có
một làng Lva ...
b. Trong đời sống xã hội và
tín ngưỡng của người Lamet,
trống đồng có vai trò rất
quan trọng. Người Lamet tiếp
thu từ chỉ trống đồng=klo từ
người Karen và mua trống từ
vùng bắc Thái Lan. Chắc chắn,
người Lamet không tự đúc
được trống mà mua nó từ
người Niang - có thể là một
nhóm Karen - ở Muong Kiem,
gần Chiêng Mai Thái Lan...
c. Người Karen thường nói họ
mua những trống đồng cổ nhất
từ người Yu ở Vân nam hoặc
người Wakawtha (Vakaotha)
hay Swa...
d. Trống Ongbah (loại I
Hegerl) được phát hiện ở
hang Ongbah - tỉnh
Kanchanaburi, vùng giữa hai
con sông Me Khwae Noi và
Khwae Yai, theo Parkin [18]
vùng này là đất của người
Lava.
Trong ba trường hợp đầu, tộc
người đúc trống đồng được
coi là Lva, Niang, Yu và
Vakaotha/Swa. Ta đã thấy ở
trên Swa=Java=Lua=Lava. Tên
gọi Niang Yang của nhóm được
ngờ là người Karen cũng gợi
tới Lang có gốc Yang tương
tự với Yuan>Yunok/Yonok. Tên
gọi Yang của người Karen ở
bắc Thái Lan cũng nằm trong
trường hợp này. Không loại
trừ đây là một nhóm Lava
Tạng Miến hóa (tiếng Karen
hiện được xếp hoặc vào nhóm
Tạng Miến, hoặc vào nhóm
Tạng-Karen thuộc dòng
Hán-Tạng). Đáng chú ý là từ
chỉ sông của người Karen,
theo Hoàng Thị Châu là klo,
rất gần gũi với từ chỉ sông
của người Arem là klu cũng
như với tên sông Cà Lồ, sông
Lô, sông Lừ là những nhánh
của sông Hồng gắn với các
vùng đất Lạc Việt cổ. Trường
hợp cuối cho thấy rất có thể
chủ nhân trống đồng Ongbah
là tổ tiên người Lava ở vùng
đó. [19]
Như vậy Lạc Việt=Lava=Lão=Yang=Yuan
là một tộc người có truyền
thống đúc trống đồng nổi
tiếng ở Đông Nam Á. Điều này
lại tương ứng với việc theo
Kampers [20] , khu vực Bắc
Việt nam liền kề với nam
Trung Hoa và Vân nam (đều là
đất của người Lava/Lạc Việt
xưa) được coi là ứng cử viên
sáng giá nhất cho đến nay
cho danh hiệu quê hương của
những trống loại Heger I cổ
nhất. Đáng lưu ý là các từ
gọi trống đồng yan/yang/ klo
lại gần như trùng khớp với
tên gốc tộc người, tên nước,
tên sông và tên thủ đô của
người Lava-Lạc Việt.
13. Gừng
Cũng theo Cholthira [21] ,
trong lễ Songkran (lễ gốc
Lava-Môn có cả ở người Lự
Vân Nam), vua Chiềng Mai/Lanna
cùng với triều thần từ hoàng
cung ra sông, tới một thủy
đình dựng giữa sông Me Ping,
xuống sông tắm gội sạch sẽ
rồi lên mặc trang phục
truyền thống. Sau đó, các
quan làm lễ té nước lên
người vua cầu phúc. Trong
dịp này, người Lava và người
Yang (Karen) sống ở Mae
Sariang và vùng phụ cận tới
dâng tặng vua hoa, thuốc lào
và điếu. Nhà vua nhận các lễ
vật, hút thuốc. Một lễ vật
đặc biệt khác là gừng. Theo
quan niệm của người Lava,
khi nhà vua nhai gừng và
phun bã lên người họ, sẽ đem
lại cho họ nhiều điều tốt
lành.
Trong Mo Mường có đoạn kể
khi đúc trống đồng không
được, cho rằng trống bị ma
ám, thợ đúc trống phải đi
tìm gừng bỏ vào miệng nhai
phun vào trống đồng để đuổi
ma, nhờ đó mới đúc được
trống [22] .
14. Quan hệ
Vietic-Palaungic-Bahnaric-
Katuic-Monic qua tên gọi tộc
người
Theo Haudrricourt, vị trí
đúng của tiếng Việt (hay của
cả nhóm Vietic) phải là
trong họ Nam Á, giữa nhóm
Palaung-Wa (Palaungic) ở tây
bắc và khối Môn -Khmer ở tây
nam. [23]
Diffloth [24] coi nhóm
Vietic gồm các tiểu nhóm:
bắc (Việt, Mường, Nguồn);
tây bắc (Toum, Lihà, Phọng/Cham);
tây (Ahoc, Ahao, Ahlao);
đông nam (Chứt, Rục, Sách,
Mày/Cuối); tây nam (Aten,
Thémaru, Arao/Ahao/Ahlao,
Makang, Malang, Maleng, To’e);
nam (Kri, Phọng, Mlengbrou).
Parkin [25] cho hay: nhóm
Palaungic gồm các tộc
Palaung, Puman/Bulang, Pouma,
Riang/Lang/Yang, Mảng, Danaw,
Wa/Va/Vu/Kava/Lave/Ravet/Krak,
La, Khalok/Kha lo, Kala,
Samtau (Xam tao), Kon Keu
hiện ở Thái Lan, Miama, Vân
Nam -Trung Quốc, Việt Nam.
Cần nói thêm, theo Nguyễn
Văn Lợi [26] người Pơlju ở
Quảng Tây có tên tự gọi
Pơlju, được người Hán gọi là
Lai /Hlai và được các học
giả Trung Quốc xếp vào tộc
Klao (Chú ý Lao=Lai=Lju và
Pơlju=Klao). Tiếng Pơlju
được Benedict xếp vào Vietic
nhưng được N.V.Lợi và đồng
nghiệp xếp cùng nhóm
Palaungic cùng với tiếng
Mảng.
Có lẽ, khối Môn -Khmer ở tây
nam đó trước hết có nhóm
Katuic, bởi theo Diffloth,
trong hệ Nam Á, Katuic là
nhóm gần gũi Vietic nhất và
cách đây hơn 4000 năm có một
khối ngôn ngữ Vietic-Katuic
chung [27] .
Ngoài ra, theo tôi, có thể
đưa nhóm Bahnaric vào khối
Môn-Khmer ở tây nam trên dựa
trên sự gần gũi cuả các từ
cơ bản trong họ từ Người của
nhóm này với nhóm Vietic.
Mặt khác, tên tự gọi và được
gọi Mon /Mwon/Mol/Mwal/Mang
của người Mường về cơ bản
tương ứng với tên tự gọi của
người Môn/Mun/Man (Monic) có
gốc rmang/ramang/rmeng/rang/reng
[28] cũng như với tên gọi
người Mảng (Palaungic).
So sánh các tên gọi tộc
người, bao gồm các biến thể
và tên các nhóm địa phương
của các nhóm
Palaungic-Vietic-Katuic-Bahnaric-Monic
ta thấy nhiều mẫu số chung:
a. Từ Nha (Nha Chứt, Nhà
Làng (Vietic)-Nha Kur (Monic)
-Nha Hon-Langnha (Bahnaric).
b. Từ Lang (Talaing/Môn =
Kriang/Khiang (Katuic) =
Taliang /Tariang /Triêng
/Prang /Salang (Bahnaric) =
Malang /Maleng /Mlengbrou /Nhà
Làng /Salang /Xolang (Vietic)
=Bulang /Palaung /Riang
/Lang /Yang (Palaungic) =
Rang (Monic)...
c. Từ La/Lo và các biến thể
của nó: Khalo=Chứt (Vietic)=Kaloq
/Nor /Loar (Katuic)= Khalok
/Khalo /La /Va (Palaungic) =
Laya = Alak = Bri La = Zava
= Ro (Bahnaric)...
d. Từ Kuoi: Cuối (Vietic)=Kui/Kuoy
(Katuic)=Keu (Palaungic)=Kuoi/Kuy/Kui/
Kuoy=Người=tên tự gọi của
người Pear (Khmerric).
Sự trùng giống tên gọi trong
một chừng mực phản ánh một
quan hệ cội nguồn, phân tán
và đan xen của các tộc người
trên.
15. Nhà, làng, giềng, mường
Ta có: nha/nya (Va-Lava)=nhà
(Việt, Mường); lang (Lava)=hlang
(Proto Va-Lava)=từ loại chỉ
nhà (sau chuyển hóa thành từ
chỉ làng trong tiếng Việt);
yong/yung/yuang/yueng=làng (nhỏ)
là gốc của giềng (từ Việt cổ)=
làng trong từ ghép láng
giềng và liên quan tới bồ
chính /bồ đình (H-V)= chánh
tổng (liên làng) của người
Việt trước 1945 [29] .
Theo Cholthira [30] tên gọi
các đơn vị hành chính Lava
mà Yaa Thao Laawa Cok (bà tổ
của người Lava) chia cho các
con trai là Muang Sathuang,
Muang Khwang và Muang Khiak.
Như vậy các từ chỉ những đơn
vị xã hội cơ bản nhất của
người Lava về cơ bản trùng
hợp về cả âm và nghĩa với
các từ Việt -Mường. Điều lí
thú là tên gọi các mường
Lava cũng rất gần gũi với
tên gọi 3 trong số 4 mường
lớn của người Mường ở Hòa
Bình là Thang, Vàng, Bi (chú
ý sự tương ứng b/p/k/kh).
16. Lúa, ruộng, cơm, gạo,
cám, rau, thịt
Cũng theo Diffloth [31] hngo
(Proto Va-Lava=PWL)=ngo (Va)=go
(Lava)=ló (Việt Trung Bộ)=lúa
(Việt Bắc Bộ); keng (PWL)=kơng
(Lava)=ruộng lúa nước, vùng
đồng bằng, đất nước; rngko (PWL)
= kao /gao (Lava)= gạo; kam=cám;
ti=thịt, tau=rau. Theo
Ratanakul [32] : kuen som
aop (Lava)=con ăn cơm với
kuen=con, som=cơm, aop=ăn.
Có thể thấy: do sự tương ứng
ng/g/n/l (ví dụ: ngáy/gáy,
gái/nái) nên ngo=go=ló/lúa;
keng /kung /kong có gốc
krong/krung=sông và cũng
tương ứng với ruộng (Việt)
và roong (Mường), tương tự
krong (Bana, Chăm)=kong (Hoa
Nam cổ)=thông (Tày)=sông /kênh
/mương tương ứng với từ kênh
(rạch) trong tiếng Việt Nam
Bộ. Ta lại nhớ đến một nhận
xét của N.Từ Chi rằng “kiểu
thủy lợi Nam Bộ (dựa theo
chế độ thủy triều) ứng với (kiểu
thủy lợi được) miêu tả trong
“Thủy kinh chú” của người
Lạc Việt” [33] . Không loại
trừ do sự tương ứng r/l/d/t/th/s
từ tồng (Thái)= đồng (Việt)
cũng có gốc krong/rong.
Cholthira [34] cũng cho biết
cok (Lava)=cuốc (Việt).
Như vậy, từ chỉ các phương
tiện sống quan trọng nhất
của người Lava cũng rất gần
với các từ Việt.
17. Các từ khác
Một sự so sánh nhanh từ vựng
Lava/Vaic [35] với tiếng
Việt hiện đại (chủ yếu là
tiếng Việt Bắc bộ) đã cho
thấy khá nhiều sự gần gũi (nhất
là ở các trạng từ, tính từ
và động từ khá cơ bản) giữa
hai ngôn ngữ đã cách biệt
hàng ngàn năm với nhiều biến
động này. Các từ Vaic/Lava (bên
trái) trong nguyên văn được
ghi bằng kí hiệu ngôn ngữ
học sẽ được chuyển về chữ
latinh thông thường. Các từ
được chọn là những từ của
nhóm khác nhau nhưng gần gũi
nhất với tiếng Việt (bên
phải).
• Tính từ và trạng từ: ngom=ngon
ngọt, song=đắng, soy=thối,
nga=ngấy, saic=(cảm giác) se
se, sak=sặc (sụa), snga/sanga=sạch,
te/đê= (gần) kề, ngai=xa (ngái),
hlong/long=(cao) lồng lộng
/(cao) vống, thiơm=thấp, rau=sâu,
ngeng=ngắn, cia=xa, sa ngai=(xa)
ngái, (c)yong = (nhẹ) nhàng,
ngoic=ngột=nóng, long=lạnh,
ek/iak=ít, hoen/hoh/hun=hơn
(nhiều), yit /et = út /ít,
ra/ya=to/lớn, pu=(dày) bự,
rga=gày, hril=(mỏng) dính,
teo=(bé) teo, nok=no, dem
/tem=tém=ngắn, thấp (tóc tém=tóc
ngắn) ngieng=ngắn, lang=lằng
(nhằng) =dài, ling /lơin=lâu,
nok/kro=no, sau=đau, hlat=nhát,
ntuk/duk=đui (mù), rang=(rõ)
ràng, eit/oet=mệt, hnge=nghén=có
mang, hoc/hait=hết, sin=chín,
plang=trong (sáng), sngal =
xanh, pang=trắng (bong),
khuat/kut=khụ= (người) già,
soh=khô, tom/sam=đăm=bên
phải, jie=dễ, som=đêm (tối),
ndơ=(đù) đờ (câm lặng), kle=lười,
rwuy/rawuy=(tóc) rối, long=lạnh,
soh =khô, nhac=nhả/nhớt (trong
cơm nhả=cơm nhão=nhiều nước),
taip=thường, o=nỏ (Nghệ Tĩnh)
=không, gat=rất, nhơ=nhé/nhớ
(Bắc Bộ)=nghe (Nam Bộ)= từ ở
cuối câu chỉ sự nhấn mạnh (đi
nhé, đi nghe), ư/ơ=ừ/ ờ=vâng
/dạ, nih=nghỉ (đợi)...
• Động từ: ot/aik=ở, mah=là,
koe/kay/kuy/koi=có, se=sẽ (trước
động từ chỉ hành động trong
tương lai), eah/aih=ăn, yu/nyu/nyau=nhậu
(uống), tuat/nduat=nuốt, pu/bu=bú
(tí), rmo /lomo = mơ (mộng),
ho/hu=đi=họ (hiện chỉ còn là
từ dùng để giục trâu đi),
luen/lun=lượn (đi, lại), coi=quay
(đi), ngaom=ngồi, lau/lao=nói,
kok/goug=gọi, ke=cãi, mong=mảng
(tiếng Việt cổ =nghe), hnge/ngeht=nghe,
meh=mến, mong=mong (đợi),
kaya=cười, rak=rên, ngan =ngắm,
yo=ngó (nhìn), len=(trông)
nom, yep/yip=díp (nhắm mắt),
hum/haim=tắm, sak=giặt quần
áo, gen=găm (giữ), tuk=tóm (tay),
vung=vung (ném), len=ném,
dơih =đá, dac=đạp (dẫm hạt),
ci=xía (chọc), cok=chọc, toh/ta=giã
(gạo), jieng=giành (giật),
hloh=lấy, poh=mở, nghih =nghiêng,
chong=chống (đỡ), kok=gọi,
hit/het=hít, hngap=ngáp, mok=mổ,
ceh=xé, taic=đặt, tek=đè,
yin=ấn, yok/yuak=nhấc, puk=bục,
ngom=ngồi, glak=la (liếm),
haic=gãi, hok=hơ (làm khô),
mok=ho, thok=khạc (nhổ), hol=nôn
(mửa), tut=tụt (kéo), lot=rút,
sat=(xát) chải, sak=giặt (quần
áo), puk/bơk =buộc, jeng=ràng
(buộc)= khâu, kah=cởi, jung/chong=
dựng/chống, hong=hong (thổi
nấu xôi, cơm), tang/tain=đan,
peng=bắn, dut =đứt, suet/saviat=(xoắn)
xuýt, hlat=nhát/sợ, nghlat=(doạ)
nạt, dap=đắp/lợp (đường/mái
nhà), kut=cản, kiat=cắn,
hui-ik=húc, roh=rú (sủa),
way/vay=vay (mượn), ros/roh=(chọn)
lựa, hsam/sum=chăm=trồng (cây),
da/thia=tãi /thia lia, ream=rẫy
(cỏ), pơ=nở (hoa), da=té (nước),
so=đổ/xối (nước), pu/pun/peu=bay,
mor=bò, gah/kah=(cho) gả,
ceh=xé, mơn =mân (mê), klaie=quấy
(đảo) ndah=đập, lih=lìa (rơi,
đi khỏi), lah=(cắt) lát,
haic=gãi, koic=cạo, soh=xới
(cỏ), thơi=thắp (ngọn đèn),
tuk=tắc (nghẽn), koic=cạo,
bo=bỏ (thêm), tak=(tỉa) tót,
baih=(được) bào (nhẵn), tok=tựa/giống...
• Số từ: la/lay=hai, pon=bốn,
lua/liah=sáu, satai/tai=tám,
tim=chín...
• Từ loại: ke/ka/kau/kai=cơ
thể, từ loại chỉ người, động
vật=con/cái /kẻ, plah=lá (loại
từ cho các vật mỏng như lá
cờ, lá bài).
• Đại từ: no=nó, ma/me=má/mẹ,
ba/pia/phia=ba (bố), me/mi/mai/
may=mi/mày, ta =ông /người
già (Mường /Việt Bình Trị
Thiên), meng/mouing=(vợ)=
mình (trong cách gọi mình ơi),
te=tê (Nghệ-Tĩnh)=( cái) kia=đi
(từ cuối câu chỉ mệnh lệnh
như ăn đi)...
• Giới từ: ngraum/gruim=dưới,
may/mai=mới=(cùng/với), seh=sệ
(xuống)...
• Danh từ chỉ bộ phận cơ thể:
tai/tay=tay, kliak=nách,
ngeune=ngón (tay), hna=nạ (mặt),
mus/muh=mũi, spa/pa=má, kap=cằm,
muang/moeng=miệng, tak/lak=lưỡi,
ngok=cổ (gốc của từ ngóc cổ?),
hak=da, wac/vaik=dạ (bụng),
huk=tóc, siang=xương, hmaing/mem=móng
(tay), hrang=răng, lmpan/mwa=vai,
chuong/cuang=(chân) cẳng,
nong=hông (eo), krong /kraung=
(sống) lưng, tis/tơs /tơh=tí
(=vú trong từ bú tí), viek=ruột...
• Danh từ chỉ hệ thân tộc:
ya=dạ/già (bà), kon/kun/kuan=con
(cái), hsau/sou=cháu, o=chị
cả (?), mlay/plia=(chàng)
trai, ntoi=(trẻ) mồ côi...
• Các sản phẩm văn hóa:
king/kaung/kong=vùng, đồng
bằng, ruộng lúa, kmme /lammi
/rami=mía, nha/nya=nhà, sato=(lụa)
là/sa, kra/kha=(đường) xá,
klong/kraung=trống (kl=bl>tr),
wic=(dao) nhíp, pleh/piao=lê
(trong lưỡi lê)=cái lao,
grai=chày, pol=cối, sa=cái (rổ)
rá, tom=tấm (gỗ, bảng), mok=mũ,
ntay/lai=(cái) váy, nge/ngai=ngày,
nơm /num = năm, tang=chuồng
(nơi nhốt súc vật), nting/teng=tường
(vách), long=săng (quan tài),
ramoit/ramaik=mồ/mả, hon=ống...
• Các sản phẩm tự nhiên:
maik=mây, sinum=sấm, rayong=cầu
vồng, klong=sông, bing /mbơin
=bùn, kte/kate=đất, nong/noung=rừng,
doi=đồi (núi), mlong=(núi)
non, rang/laang=hang, ka=cá,
ktam=(cua) rạm, rich=(con)
vích (rùa), so=chó, mok=bò,
rok=cóc, sep=rết, tep=(bọ)
chét, roy=(con) ruồi, ang=ong,
mrung/maruin=rệp, si=chí (chấy),
saơng= xởng (Mường) = thạnh
(Nghệ-Tĩnh)=(con) rắn, rway/kawai=khái
(Nghệ Tĩnh)= hổ, sim=chim,
akou /sikau = chim bồ câu,
lak/ak=quạ, kong=công, be/pe/le=dê,
lik/lơic=lợn, klun/klơn=trăn,
ryol = vượn, nga=ngà (voi),
reng/rung=sừng, ti/to=thịt,
ktom/tom=trứng, ko/kao/kau=cây,
kak = cành, ple/plai=trái (quả),
hla=lá, lo=vỏ (cây), kat=gai
res/reh=rễ, bre/phre=(rừng)
rú, khoi = củi (>khói), po=bó,
bong=măng, phlo/phlu=trầu,
phria/phrua=(cây) dừa, plong=tranh
(lợp nhà), to=lỗ/tổ (nghĩa
gốc là cái lỗ), sa=(buổi)
sáng...
Tạm kết luận
Nguyễn Từ Chi [36] trong một
bài nghiên cứu về Vua Chủ
(An Dương Vương) từng viết:
“Tài liệu hiện có chưa cho
phép nói chắc rằng người
“cởi trần...xưng vương” ở
nước Âu Lạc, cùng cư dân
dưới quyền ông (tức người Âu
Việt và người Lạc Việt)
thuộc khối tộc người nào...”
Tuy nhiên, trong một bài
giảng của mình [37] ông cũng
viết:“tạm thời có thể kết
luận”: trước Bắc thuộc có
một cộng đồng người ở xa
sông Hồng (có thể là
Hán-Thái hay Tạng-Miến) đã
đến vùng đầu tam giác châu (thổ
sông Hồng), dựng nhà nước,
xây thành Cổ Loa, người đứng
đầu tự xưng là An Dương
Vương [38] .
Về người Lạc Việt, những
bằng chứng nêu trên tuy chưa
cho phép “nói chắc” nhưng
cũng cho phép tạm kết luận
nữa rằng: người Lạc Việt (tổ
tiên trực tiếp của người
Việt) thuộc về khối tộc
người Lava cổ, là tộc người
chủ thể bao gồm người Môn (là
tổ tiên trực tiếp của người
Mường) đã dựng nước Ya Yang/Nha
Lang/Văn Lang ở vùng Bắc Bộ
Việt Nam như một trung tâm
của khối Lava-Môn-Khmer của
khu vực Nam sông Dương Tử.
Trong khi đó, cần nói thêm,
tuy người Âu Việt thuộc về
khối Thái (có thể coi như là
một khối Malay cổ gần gũi và
đã Hán -Tạng hóa hoặc như
một khối Hán Tạng đã Malay
hóa) nhưng trước khi lập
nước Âu Lạc đã có sự hòa
nhập nhất định với khối Lava
-Môn ở Vân Nam, Quảng Tây và
là tổ tiên trực tiếp của các
tộc Thái Đen, Lào, Lự và cả
một số nhóm Tày -Nùng hiện
nay [39] .
Đương nhiên, các điều tạm
nói trên cần tiếp tục được
chứng minh, nhưng điều cần
nhấn mạnh ở đây là, trong
việc xác định nguồn gốc tộc
người, các tư liệu ngôn ngữ
luôn có vai trò quyết định.
[1]sdd, tr 252
[2]Higham Charles.. The
bronze Age of Southeast
Asia. Cambridge Univesity
Press. 1996, tr 217.
[3]Stein Roft. Jardins en
miniature d’extrême -Orient.
BEFEO. XVII. 1937, tr
54,136; The world in
miniature. Stanforf
University Press.
Califorrnia. 1990. Chú ý:
trong nguyên văn viết ốc
ngưu, theo trật tự từ tiếng
Việt (?).
[4]Taylor K.W. The birth of
Vietnam. University of
California Press. 1983.
[5]Jumsai, sđd, tr 12, 20,
22
[6]sđd: tr 32
[7]Trần Quốc Vượng. Cổ Loa,
truyền thuyết và lịch sử,
trong Hùng Vương dựng nước,
t 4, KHXH 1974
[8]Bùi Văn Nguyên. Dã sử nói
về An Dương Vương. KCH.No 2.
1978, tr 67.
[9]Hà Văn Tấn. The citadel
of Cổ Loa. Việt Nam News -Avril
4. 1999, tr 5.
[10]Một ví dụ điển hình cho
hiện tượng từ chỉ người
chuyển thành các từ chỉ
không gian sống của người là
banua/panua/wanua/fenua/vanua...
(các tộc Nam Đảo)=người /người
bình dân /nhà/làng /thị trấn
/thành phố /đất/đảo /lục địa
/trời/thế giới /vũ trụ. Xem
Benedict, Paul.K.
1975-Austro-Thai, Language
and culture, with a glossary
of roots. HRAF PRESS, tr
416. Waterson. Roxana. The
living house-an antropology
of architecture in
South-East Asia.
Singapo.1997, tr 92-3.
[11]sđd, tr 149
[12]sđd, tr 161
[13]sđd, tr 254-6
[14]sđd: 89, 105
[15]sđd: 38
[16]Maspero: sđd, tr 786
[17]sđd, tr 389-401
[18]sđd, tr 108
[19]Hoàng Thị Châu. Mối liên
hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông
Nam Á qua một vài tên sông.
Thông báo khoa học Văn
học-Ngôn ngữ. T.II. GD.
1966, tr 98.
[20]sđd, tr 213
[21]sđd, tr 9
[22]Vương Anh (chủ biên): Mo
Mường. VHDT. 1997, tr 1487.
[23]Haudricourt A.G. 1991.
Vị trí của tiếng Việt....
T/c Ngôn ngữ No1.
[24]Dẫn theo Chamberlain.
James.R. The origin of the
Sek, implication for Tai and
Vietnamese History. The
International Conference on
Tai Studies. Thailand. 1998,
tr 9.
[25]sđd:105
[26]Nguyễn Văn Lợi. (đồng
tác giả). Vị trí của tiếng
Mảng. NN.No 3. 1998.
[27]Dẫn theo Nguyễn Tài Cẩn..
Giáo trình lịch sử ngữ âm
tiếng Việt. Giáo dục. 1995
[28]Maspero: sđd, tr 724
[29]Các từ Lava lấy từ
Diffloth. G. The Wa
languages, Linguistics of
the Tibeto-Burman area.
1980, tr 99, 131.
[30]sđd, tr 13
[31]sđd, tr 99, 124, 97, 100
[32]sđd, tr 269
[33]Nguyễn Từ Chi. Góp phần
nghiên cứu văn hoá và tộc
người. VHTT. 1996 , tr 422.
[34]sđd, tr 11
[35]từ tư liệu của Diffloth
và Ratanakul.
[36]sđd, tr 168
[37]sđd, tr 423
[38]Từ Chi cũng đã có lần
nhắc tới hiện tượng klu là
từ chung chỉ loài rắn lớn có
mào, được coi là vua nước -
thế giới bên dưới của cả
người Tây Tạng và Mường. Ta
cũng đã thấy klo (Karen)=sông/trống
đồng=klu (Chứt)=tên sông Cà
Lồ/thành Cổ Loa và sự tương
ứng mô hình Cổ Loa-Côn Lôn...
Các nhân tố
Thái-Hán-ạng-Miến trong việc
dựng nước Âu Lạc, thành Âu
Lạc chắc không chỉ có thế...
[39]Thực ra, quan điểm coi
Lạc Việt=Lão đã là quan điểm
có từ lâu của các học giả
Trung Quốc, Việt Nam như
Trần Tu Hoà, Từ Tùng Thạch,
Vưu Trung, Trần Quốc Vượng,
Hà Văn Tấn (theo Nguyễn Linh:
Trở lại vấn đề nước Thục...
trong Hùng Vương dựng nước,
tr. 2, 1972, tr 194). Một
khi Lava=Lao=Lão như đã thấy
thì Lava=Lạc Việt chỉ là một
hệ quả. Xét rộng hơn, tên
gọi Lava có quan hệ nguồn
gốc với nara (Skr)=người
cũng như tên gọi các tộc
Malava (Ấn Độ), Malaya,
Java, Dayak, (To)raja
(Indonesia); tên gọi Mon (Mường)
có quan hệ cội nguồn với các
tên gọi Munđa (Ấn Độ), Mian
(Mianma), Môn, (Yu/Yao) Mien
(Dao), Mong/Meo, Mian (quần
đảo Banggai, Indonesia) đều
có nghĩa đen=Người. Điều lí
thú là tên gọi Lava/Lao/Va
và Mon tương ứng với hai nửa
tách ra từ Malava, Malaya và
Yao Mien (ta đã biết tên Keo
của người Việt có gốc Giao
gắn với tên Giao Châu). Sử
Trung Hoa gọi các tộc khác
Hán vùng Lưỡng Quảng, Bắc
Việt Nam, Vân Nam là Man Lão/Man/Lão,
rất có thể là sự phiên âm
tên tự gọi của họ là Malava/Mon/Lava/Lao.
Ta cũng đã thấy chủ nhân của
Dravati được học giả này coi
là người Lava, học giả khác
coi là người Môn. Rõ ràng,
sự tách biệt Lava-Môn hay
Việt-Mường đã diễn ra cùng
với sự tách biệt tên tự gọi
mang ý thức tộc người này. |
|