Trung Quốc: tưởng vậy mà...
Về cái ăn, ta đứng giữa Hoa,
Nhật
Về cái uống, ta đứng giữa Hoa,
Nhật
Về cái ở, cái... tắm, cũng thế
Về cái mặc, cũng vậy
Về cái chơi: vẫn Hoa-Việt-Nhật
Trung dung không phải trung bình
Trung Quốc: tưởng vậy mà...
Xã hội Trung Quốc tổ chức theo
Nho giáo hơn hai nghìn năm. Ðạo
Khổng bền, hẳn có hợp với người
Tàu. Khổng Tử đề cao thái độ
trung dung. "Trung là không thái
quá, không bất cập"(1). "Dung là
bất dịch, là không thay đổi"(2).
Trung dung nghĩa luôn luôn chừng
mực. Vậy người Tàu ít cực đoan.
Chuyện hợp lý, gần đây bỗng sinh
ngờ vực. Vài quan sát ngẫu nhiên
một hôm gây thắc mắc. Bèn thử
đặt lại vấn đề.
Về cái ăn, ta đứng giữa Hoa,
Nhật
Vạn sự khởi đầu vào một cuối
tuần ăn uống khá lăng nhăng,
sáng phở bò Tiểu Sài Gòn, trưa
mì vịt tiềm phố Tàu. Dùng xong
bát mì béo ngậy, loanh quanh
giây lát giữa đám đông người Hoa
trong khu mua sắm, chợt nhận
thức có khác nhau đáng kể giữa
hai món ăn cơ bản của hai láng
giềng Á Ðông. Có phải cùng sợi,
nước, thịt, mà phở "nhẹ", "thanh",
"tươi" hơn mì?
Phở chỉ là một trong nhiều món
ngon của dân tộc. Tập hợp tất cả
món ăn phổ thông cả nước, nêu
đặc tính chung, đem so với cái
ăn bên Trung Quốc, thấy gì?
Rõ ràng thực đơn Việt gồm khá
nhiều món thịt cá dùng tái, thậm
chí sống, với gia vị tươi; trong
khi người Tàu luôn nấu thật chín
và thường ướp gia vị khô như bột
ngũ vị hương.
Trong danh phẩm My country and
my people, Lâm Ngữ Ðường tiết lộ:
"Bí quyết của nghệ thuật nấu
nướng Trung Quốc là ở cách pha
trộn hương vị."(3) Ông ví dụ món
thịt heo hầm măng và món thịt gà
xào cải. Nấu thành công thì
hương vị thịt heo / gà ngấm vào
măng / cải, hương vị măng / cải
lại ngấm vào thịt heo / gà, làm
cho cả thịt lẫn rau cùng trở nên
"hợp khẩu" hơn. Họ Lâm viết
giọng tự tin, nhiệt tình. Ngon
hơn hay không, nấu như thế hẳn
mọi thứ nguyên liệu đều chín kỹ.
Người Việt cũng không thích ăn
đơn hương, độc vị. Nhưng ta có
cách pha trộn riêng của ta. Hãy
nghe Ðinh Hùng, thuở ấy là một
thiếu niên ngưỡng mộ Tản Ðà, tả
thi sĩ tửu đồ dùng bữa: "...nhà
thơ bày la liệt những đĩa, những
chén nho nhỏ xinh xinh, đựng
linh tinh các món gia vị: chút
tương vàng óng, chút nước mắm ô
long nâu thẫm, những trái ớt đỏ
tươi, những quả chanh cốm xanh
ngắt, và đĩa rau riếp thái nhỏ
điểm lên những cánh rau thơm,
rau mùi, rau ngổ hái ngay ở vườn
nhà, và đĩa rau muống chẻ non
bẽo thứ rau muống Sơn Tây trắng
nõn như ngó cần không thiếu từ
chút hạt tiêu sọ, thêm cả một
con cà cuống băm, mấy củ hành
hoa, đĩa lạc rang, vài chiếc
bánh đa vừng..."(4) La liệt xung
quanh Tản Ðà, tóm tắt, là ngồn
ngộn hương vị rau cỏ tươi sống.
Trong tùy bút Ăn... mùi, Võ
Phiến so sánh gia vị tươi với
thành phần của một ban nhạc: "Trong
một dĩa rau thơm, mùi nọ lẫn với
mùi kia, tôn nhau lên, chế hóa
nhau: đó là một cuộc hòa tấu,
một bản nhạc mùi."(5) Chỗ lý thú
là người Tàu hòa nhạc trong chảo,
trong nồi, còn ta tấu trong
miệng, khi nhai!
Chẳng cần đông đảo linh đình,
miếng thịt bò nhúng giấm chấm
mắm nêm kèm khế, chuối chát, hay
miếng bê thui tương gừng thêm
vài lá ngổ, càng nhai thịt và
gia vị càng "tôn nhau", "chế hóa
nhau" cách kỳ diệu, ăn ngon...
mệt nghỉ.
Người Việt ăn sống hơn người Tàu,
vậy họ trung dung ta cực đoan
chăng?
Thử xem qua món sushi của người
Nhật, một dân tộc Á Ðông khác.
Dân xứ Phù Tang có thể ăn "tươi"
gần như tất cả các loài dưới
nước, kể cả tôm! Và họ ăn gần
như không gia vị: miếng hải sản
sống trăm phần trăm, mảnh rong
nướng, chút tương cải xanh, chút
xì dầu, là toàn thể "ban nhạc".
So với món gỏi cá sống của ta,
vốn dùng với rất nhiều rau thơm
để át vị tanh, thì sushi "sống
sít" hơn thấy rõ.
Về cái ăn, dường như người Tàu "thái
quá", người Nhật "bất cập",
chính người Việt mới đích thị "trung
dung"!
Về cái uống, ta đứng giữa Hoa,
Nhật
Ai cũng biết các dân tộc Á Ðông
thích uống trà. Có lẽ ít người
để ý chỗ khác nhau giữa trà Tàu,
trà Nhật, trà Việt Nam. Người
Trung Quốc uống trà lâu đời,
viết thành sách nổi tiếng: Trà
kinh. Người Nhật cũng lừng danh
thế giới với trà đạo. Người Việt,
ở đất gốc phía bắc, tuy chẳng
sách vở đạo điếc gì, cũng uống
trà nhiều như ai. Trà ta tức chè
Thái có bản sắc mạnh mẽ.
Trà Tàu chia ba loại chính, chủ
yếu phân biệt ở mức độ chế biến,
gồm hai giai đoạn ủ và sao. Chế
biến kỹ nhất là "trà đen", nước
pha màu nâu đậm; chế biến vừa là
loại trà Ô Long như Thiết Quan
Âm, nước màu vàng sẫm; chỉ sao,
không ủ, là "trà xanh", như Long
Tỉnh, nước pha vàng nhạt (6). Dù
có thuộc loại chế biến nhẹ nhàng
nhất, chén trà Tàu vẫn không còn
giữ bao nhiêu hương vị của lá
trà tươi. Nhất là vị, tuyệt đối
không còn chát.
Trà Nhật, ngược lại, hương vị
tươi sống gần như... sushi! Nhớ
đôi lần dự trà đạo, nâng chén
trà, ngắm nghía mà... ngần ngại.
Vì loại trà quý của Nhật có màu
xanh lè, xanh như ten đồng, như
nước Hồ Gươm! Nhớ trong Trà đạo,
Okakura Kakuzo có tả "cái chén
đựng chất nước xanh lục"(7) mà
đệ nhất trà nhân Rikyu dâng lên
cho chúa Taiko Hideyoshi. Ôi,
màu xanh... rùng rợn! Các loại
trà phổ thông màu sắc bình
thường hơn, xanh vàng. Trà Nhật
gần như không hương, vị chát đậm,
hơi tanh (?).
Trà Thái Nguyên của ta, nếu
giống tốt, hái đúng lứa, chọn
toàn búp và hai lá non sát búp (gọi
là hái "một tôm hai lá"), xong
đem "xao suốt", tức sao liên tục,
một hơi, trên lửa than củi đượm,
thì kết quả sẽ... vô cùng rực rỡ.
Màu "xanh anh ánh", vị vừa "chát
khiêu khích" vừa "ngọt sâu thẳm",
hương "hết sức dịu dàng"(8). Cái
hương quái lạ, "lúc chén trà
đang bốc khói, nâng lên ngang
tầm mũi, cứ tưởng như nhà ai vừa
mới mở cái nắp vung của một chõ
xôi gạo nếp cái hoa vàng"(9).
Cái hương ấy có thể thưởng thức
cách hoàn toàn không tốn kém là
mở nắp lọ chè đưa lên mũi ngửi.
A, hương chè, hay chính mộc mạc
hương quê!
Xét về độ tươi sống, hiển nhiên
trà Việt Nam đứng giữa hai thứ "trà
đạo" và "trà kinh".
Về cái ở, cái... tắm, cũng thế
Ăn, uống, tuy chuyện "phàm tục",
thường tình, vẫn thỉnh thoảng
được nhắc đến cách đặc biệt
trong văn học. Cái "ở" kém thế
hơn một chút, hiếm khi chiếm địa
vị chủ đề. Mặt khác, nhà cửa lại
là khung cảnh sinh hoạt chính
của đa số, nên viết gì thì viết,
lắm lúc văn gia không khỏi mất
đôi dòng về... cái nhà.
Trần Trọng Kim, nhân bôn ba hải
ngoại, có dịp quan sát kỹ kiến
trúc và lối trang trí nhà cửa
bên Trung Quốc. Ông phát biểu
minh bạch: "Nhà cửa ở các làng
(...) tối tăm (...) Người Tàu
thường ưa ở những cái buồng nhỏ
hẹp, khi thấy cái buồng nào rộng,
thì họ lấy gỗ ngăn làm mấy phòng
nhỏ để mấy người hay mấy gia
đình ở chứ không thích những
buồng rộng rãi và thoáng đãng.
Tôi gặp những người đã sang ở
bên ta, (cho) ta làm nhà để
buồng là phí đất. (...) Nhà cửa
hay (...) có những kiểu trang
sức rậm rạp."(10)
Okakura Kakuzo, trong lúc say
sưa thuyết giảng về lý tưởng của
trà đạo, cũng "lạc đề" qua
chuyện... khác: "những cảnh bên
trong nhà của người Nhật ngày
nay vì quá đơn giản và thuần
khiết về lối trang trí, nên có
vẻ gần như trống trải đối với
người ngoại quốc."(11)
Thế là rõ ràng. Nhà Tàu chật
chội, tối tăm, trang trí rườm rà
hơn nhà ta. Nhà Nhật lại "trống
trải", "thuần khiết" hơn tất cả
(có ta). Thế là về cái ở, lạ
thay, cũng vẫn người Tàu thái
quá, người Nhật bất cập, mà
người Việt trung dung.
Bàn nơi ăn chốn ở, tự nhiên nghĩ
chuyện vệ sinh. Trần Trọng Kim
nhận xét: "Người Tàu gọi tắm là
lấy khăn dúng vào nước rồi lau
mình chứ không phải là dúng mình
vào nước hay là lấy nước dội lên
mình."(12) Nước Nhật nổi tiếng
có những nhà tắm công cộng sạch
sẽ, nam thanh nữ tú tha hồ "dúng
mình vào nước" kỳ cọ kỹ càngỳ.
Người Việt xưa kia sở trường tắm
giếng, kéo gàu, "dội lên mình".
Tắm dúng, tắm dội, tắm lau, ô
hay, sao trong cái tắm dường vẫn
đó đây phân biệt, mà người Việt
ta lại cứ tiếp tục chen vào giữa
người Nhật, người Hoa!
Về cái mặc, cũng vậy
Tiếng Việt có nhiều từ kép bắt
đầu bằng chữ "ăn". Ðã nói chuyện
ăn uống, ăn ở, hãy thử xem qua
chuyện ăn mặc.
Chiếc kimono của Nhật, ai cũng
biết, chẳng những dài sát đất mà
còn gồm mấy lớp, quấn kín, che
phủ hoàn toàn thân thể. Áo dài
của ta tuy mỏng manh, làm rõ lồ
lộ bán thân trên, nhưng gần như
không phơi bày da thịt. Xường
xám của Trung Quốc may rất bó,
nửa trên hoặc cộc tay hoặc sát
nách, nửa dưới xẻ cao một bên,
phô gần trọn đùi: mặc xường xám
như thể mặc áo dài không tay
không quần!
Tùy bút Võ Phiến có đôi bài về
áo dài (13). Theo lối viết miên
man quen thuộc, ông bình phẩm cả
về trang phục các nước khác; và
như vô tình, giới thiệu một định
nghĩa của văn hóa. "Trang phục
là văn hóa, văn hóa là một cố
gắng cải biến thiên nhiên." Từ
góc nhìn này, chiếc kimono tượng
trưng cho cố gắng cực đoan, vì "thiên
nhiên" đã hoàn toàn bị che đậy,
vì "Thân người chỉ còn như là
cái cớ cho sự xây dựng một công
trình mỹ thuật." Về cố gắng cực
đoan đối nghịch, Võ Phiến chú ý
chiếc váy ngắn thời trang nóng
bỏng của Tây phương gần bốn mươi
năm trước. Ông gọi hiện tượng
mini-jupe là "cuộc phi nước đại
trở về tự nhiên". Thiết tưởng
xường xám dù chưa hẳn ngon trớn
"lồng" lên như thế, cũng vẫn đã
bỏ xa lắm cái phong thái "rùa bò"
của "công trình mỹ thuật". Ðặt
giữa hai thứ trang phục Á Ðông
chống đối nhau kịch liệt, chiếc
áo dài Việt Nam, không tránh
được, trở thành tiêu biểu cho "sự
dung hòa giữa tự nhiên và văn
hóa". Mặc ai nhanh ai chậm, trên
đường về nguyên thủy, chiếc áo
đơn sơ kỳ diệu của ta cứ ung
dung, thủng thỉnh vó câu.
Trường hợp cái mặc, người Nhật
chủ trương nhiều, người Tàu
thiên vị ít, người Việt lại cố ý
lửng lơ.
Về cái chơi, vẫn Hoa-Việt-Nhật
Ăn, uống, ở, mặc đều ít nhiều
thiết thực, liên hệ với nhu cầu
thể xác. Ăn chơi nhằm đáp ứng
đòi hỏi tinh thần.
Chơi, biết bao nhiêu lối. Nhạc
là chơi. Có ai để ý tiếng sáo
Nhật nó não nùng, thê lương, ma
quái, kỳ dị không sao tả nổi?
Tiếng sáo Tàu dường như tương
phản, dường như điển hình nghe
rộn ràng, ríu rít, tưng bừng,
đầy sinh khí (chẳng biết xưa
Trương Lương thổi cho quân Hạng
Vũ tan hàng là thổi thế nào?).
Người Việt Nam thổi sáo khác cả
người Nhật lẫn người Hoa: giọng
sáo ta khoan thai, bình thản,
không buồn... phi lý, không vui
bồng bột.
Thơ cũng là chơi. Luật thơ Ðường
rắc rối, cầu kỳ, luật thơ tanka
của Nhật đặc biệt đơn giản (14),
luật thơ lục bát của ta không dễ
không khó.
Có thơ, thường có rượu. Cùng làm
bằng ngũ cốc, rượu trắng Việt
Nam nặng hơn sake của Nhật, nhẹ
hơn Mao Ðài của Trung Quốc. (15)
Về cái nhạc, cái thơ, cái...
rượu, dường như ta lại vẫn duy
trì thế đứng trung dung?
Trung dung không phải trung bình
Vừa rồi, ngon trớn ví dụ liên
miên. Tạm nghỉ bút, xem lại,
không khỏi giật mình. Băn khoăn
e có chỗ lý lẽ chưa đủ thuyết
phục. Ðắn đo còn những so sánh
khác có thể giá trị hơn, liệu
nên tiếp tục đưa ra? Ngẫm nghĩ,
tự nhắc nên tránh cầu toàn, nên
vui nếu may ra chỗ nhận xét của
mình cơ bản không đi chệch hướng.
Bấy nhiêu "bằng chứng", dù chưa
hoàn hảo, có lẽ đủ cho thấy
khuynh hướng đứng giữa của phong
cách sinh hoạt Việt Nam. Ðứng
cách ý nghĩa, không phải vu vơ,
ngẫu nhiên. Ðứng bền, không thay
đổi qua bao nhiêu dâu bể thăng
trầm. Lạ chứ.
Kẻ đa nghi mỉa mai: Trung Quốc
và Nhật Bản là hai đỉnh cao của
thế giới Á Ðông. Họ tượng trưng
cho hai thái cực. Ta thấp hơn họ,
chẳng đứng giữa thì còn đứng đâu?
Chẳng riêng ta, các dân tộc khác
ở Ðông Nam Á đều thế. Lạ gì.
Ða nghi như thế dễ dãi. Từ đầu
đến đây, mới nêu cái khác, là
cái tuy vậy tương đối dễ nêu.
Giờ, chẳng đừng được, phải nói
qua chuyện thấp cao, hơn kém.
Giàu mạnh hơn không có nghĩa văn
hóa cao hơn. Ðứng giữa vẫn có
năm bảy đường. Có cái đứng ngơ
ngẩn, tình cờ; có cái đứng đầy
biểu lộ, phản ánh nội dung riêng
biệt, sâu sắc. Nên đặt vấn đề
cách cụ thể, chú trọng đánh giá
sản phẩm cuối cùng: Phở, bún bò,
chè Thái, rượu Vân, áo dài,
tiếng sáo trúc, tiếng đàn bầu,
lục bát Kiều v.v. có thấp hơn
món ăn thức uống, y phục, âm
nhạc, thi ca của Hoa, Nhật chăng?
Có cao hơn văn hóa của các anh
em Ðông Nam Á chăng?
Câu trả lời nằm trong lời tựa My
country and my people. Vào sách,
tác giả cho biết ngay sẽ không
bận tâm chứng minh những nhận
định rất thuận lợi của mình về
nước Tàu, dân Tàu. Ông nhắc nhở:
"... sự thực không chứng minh
được, mà chỉ có thể cảm thấy."(16)
Ông vung bút liệt kê, giảng giải
những điều ông cảm thấy về Ngô
thổ dữ ngô dân, rồi dõng dạc...
chấm hết.
Lâm Ngữ Ðường luận chí lý về bản
chất của sự thực, và ông hành xử
đích đáng. Có điều, ông được
hưởng lợi thế. Trung Quốc, dù
đôi khi sa cơ nhục nhã, vẫn
đường đường nền văn minh cổ duy
nhất còn tồn tại trên thế giới.
Làm người Tàu, ông thừa tư cách
để hùng hổ. Lạ, văn hóa Việt Nam
chưa mấy ai biết đến, vậy mà kẻ
làm người Việt sao cũng nhất
định hùng hổ như ông!
1 - 2003
(In trong Tìm tòi và suy nghĩ,
nxb. Của Tin, Mỹ, 2005)
-----------------------------------------
Chú thích:
(1) Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê,
Ðại cương triết học Trung Quốc,
quyển hạ, nxb. Xuân Thu, Mỹ, tr.
383.
(2) GC & NHL, sđd, tr. 394.
(3) Lâm Ngữ Ðường, My country
and my people, nxb. John Day, Mỹ,
in lần thứ bảy, 1935, tr. 340.
(4) Ðinh Hùng, Ðốt lò hương cũ,
nxb. Lửa Thiêng, SG, 1971, tr.
27.
(5) Võ Phiến, “Ăn... mùi”, Tùy
bút I, nxb. Văn Nghệ, Mỹ, 1986,
tr. 82.
(6) Theo tài liệu của công ty
trà Thiên Nhân, Ðài Loan.
(7) Okakura Kakuzo, Trà đạo (Bảo
Sơn dịch), Xuân Thu, Mỹ, tr.
136.
(8) Lê Minh Hà, Thương thế,...
ngày xưa, Văn Mới, Mỹ, 2001, tr.
90.
(9) Nguyễn Hà, Hà thành hương và
vị, nxb. Văn Hóa Thông Tin, Việt
Nam, 1999, tr. 145.
(10) Trần Trọng Kim, Một cơn gió
bụi, Vĩnh Sơn, SG, 1969, tr.
153.
(11) OK, sđd., tr. 73.
(12) TTK, sđd., tr. 154.
(13) VP, sđd., tr. 24, 30.
(14) Basil Hall Chamberlain,
Japanese things, nxb. Tuttle, Mỹ
và Nhật, in lần thứ 20, 1994,
tr. 374.
(15) Rượu sake hiệu Hakutsuru:
khoảng 30 độ. Rượu Nếp Mới:
khoảng 60 độ. Rượu Mao Ðài: 106
độ.
(16) LNÐ, sđd., tr. xiii.