Nguyễn Công Trứ
Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả, trả vay
Chí làm trai nam bắc đông tây
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể...
Đôi dòng tiểu sử
Nguyễn Công Trứ (1778-1858) hiệu là Ngộ Trai, tự là Hy Văn, quê quán tại làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ Tĩnh.
Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Cụ thân sinh là Nguyễn Tần, đỗ Hương Cống đời nhà Lê.
Buổi thiếu thời, dù sống trong cảnh hàn vi, ông luôn cố công trau dồi kinh sử để mong thi đỗ ra làm quan giúp dân, giúp nước. Sau nhiều lần thi hỏng, ông cuối cùng đậu Tú Tài năm 1813 và đậu Giải Nguyên năm 1819.
Hoạn lộ của ông lắm bước thăng trầm: ông làm quan ở nhiều tỉnh, nhiều vùng, có khi lên đến Binh Bộ Thượng Thư, nhưng cũng có lắm lần bị dèm pha giáng chức. Ông giúp triều đình nhà Nguyễn đàn áp nhiều cuộc khởi nghĩa lớn (Lê Duy Lương, Nông Văn Vân, Phan Bá Vành...); làm Doanh Điền Sứ, giúp dân khai khẩn đất hoang (1828)...
Ông mất ngày 7 tháng 12 năm 1858 tại chính quán, thọ 81 tuổi, được phong tước Dinh Bình Hầụ
Nguyễn Công Trứ để lại nhiều tác phẩm chữ Hán (câu đối, sớ) cũng như chữ Nôm (thơ, hát nói, phú, câu đối, ca trù...). Thơ văn Nguyễn Công Trứ phản ảnh khá trung thực sự biến chuyển tâm lý của một nhà nho cổ điển qua từng giai đoạn đời sống. Phần lớn các tác phẩm hào hùng và ngạo nghễ, biểu lộ một bản lĩnh vững chắc, một chí khí mạnh mẽ, và thái độ cầu tiến, vươn lên. Lúc về già, sáng tác của ông lại tìm về tư tưởng an nhàn, hưởng lạc.
Tác Phẩm Chọn Lọc
Than Nghèo
Đi Thi Tự Vịnh
Chí Nam Nhi
Chí Làm Trai
Phận Sự Làm Trai
Gánh Gạo Đưa Chồng
Ngất Ngưởng
Kẻ Sĩ
Cây Thông
Vịnh Hàn Tín
Chữ Tình
Chữ Nhàn
Cầm Kỳ Thi Tửu
Thoát Vòng Danh Lợi
Vịnh Tiền Xích Bích
Vịnh Hậu Xích Bích
Tương Tư
Vịnh Thúy Kiều
Già Cưới Nàng Hầu
Tài liệu tham khảo
Việt Văn Độc Bản, Đàm Xuân Thiều & Trần Trọng San.
Nguyễn Công Trứ, Con Người và Sự Nghiệp, Chu Trọng Huyến.
Nguyễn Công Trứ -- Đạo Làm Người, Vũ Ký.
Hy Văn Tướng Công Di Truyện, Lê Xuân Giáọ
Việt Nam Thi Văn Giảng Luận, Hà Như Chị
Việt Nam Ca Trù Biên Khảo, Đỗ Bằng Đoàn & Đỗ Trọng Huề.
Văn Học Việt Nam Nửa Cuối Thế Kỷ XIX, Nguyễn Lộc.
Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Dương Quảng Hàm.
Đại Nam Liệt Truyện, Quốc Sử Quán nhà Nguyễn.
Theo Thăng Long
---
Phận Sự Làm Trai
Vũ trụ chức phận nội (1)
Đấng trượng phu một túi kinh luân. (2)
Thượng vị đức, hạ vị dân, (3)
Sắp hai chữ "quân, thân" mà gánh vác,
Có trung hiếu nên đứng trong trời đất
Không công danh thà nát với cỏ cây.
Chí tang bồng hồ thỉ (4) dạ nào khuây,
Phải hăm hở ra tài kinh tế (5)
Người thế trả nợ đời là thế
Của đồng lần thiên hạ tiêu chung,
Hơn nhau hai chữ anh hùng.
===
(1) Chức phận mình ở trong vũ trụ.
(2) Kinh luân: Trong việc kéo tơ, lấy tơ chia ra gọi là kinh, hợp những sợi tơ lại mà se thì gọi là luân (chỉ những người giỏi việc chính trị).
(3) Trên vì người có đức (tức vua), dưới vì dân hưng lợi.
(4) tang bồng hồ thỉ: cung bằng gỗ dâu, tên bằng cỏ bồng. Theo Lễ Kinh: cha mẹ mới sinh con trai, lấy cung tên bằng gỗ dâu và tên bằng cỏ bồng treo ở ngoài cửa, có ý mong cho con mình sau này lấy cung tên làm nên sự nghiệp vang thiên hạ.
(5) Kinh tế: từ cụm từ kinh bang tế thế -- giúp nước cứu đời.