|
Khi chọn Nguyễn
Trãi làm chủ đề cho trại Về
Nguồn lần thứ 12, chúng tôi được
một số vị tán thưởng và đồng
thời cũng nhận được lời khuyến
cáo là sẽ gặp phải khó khăn vì
đề tài quá rộng lớn. Nguyễn Trãi
không chỉ là một nhà quân sư lỗi
lạc, một chiến lược gia có tài
mà còn là một nhà văn hóa vĩ
đại: Ở ông là một kho tàng lớn
về thi ca, âm nhạc và hội ho.a.
Rất nhiều cuốn sách, bài báo nói
về ông, ca tụng ông mà vẫn không
thể nói hết được về con người
tài hoa ấy.
Chúng tôi cũng rất dè dặt nên
chỉ đề cập thô thiển, ngắn gọn
trong phạm vi bài chủ đề cốt để
các bạn thanh niên thấy được nhờ
đâu mà nắn đúc được con người
thiên tài đó và con người đó đã
thể hiện một cách toàn vẹn
truyền thống dân tộc qua cuộc
sống, qua sứ mệnh cứu dân cứu
nước và qua nhân sinh quan. Đó
có phải là truyền thống NHÂN
BẢN, NHÂN CHỦ xuyên suốt từ thời
vua Hùng dựng nước
đến thời đại Lý, Trần qua sự
dung hóa tam giáo Nho-Phật-Lão
thành một đặc thù tư tưởng của
người Việt. Lời không đạt ý và ý
cũng không đạt hết tư duy của
Nguyễn Trãi, một con người xuất
chúng, nên chúng tôi kính mong
quý vị chỉ điểm cho những sai
sót của chúng tôi.
Sau đây chúng tôi xin đề cập đến
thân thế và sự nghiệp của Nguyễn
Trãi, kế đến là ba giai đoạn của
cuộc đời ông liên quan đến đặc
thù tư tưởng Việt và sau cùng là
vài nhận định của chúng tôi.
Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn
Trãi
Nguyễn Trãi sinh ra ở Thăng Long
vào năm Canh Thân 1380, hiệu Ức
Trai, người gốc làng Nhị Khê,
huyện Thường Phúc, tỉnh Hà Đông.
Thân phụ ông là Nguyễn Ứng Long
(sau khi ra làm quan với nhà Hồ
đổi tên là Nguyễn Phi Khanh),
thân mẫu là bà Trần Thị Thái con
gái quan Tư đồ Trần Nguyên Đán.
Năm lên sáu tuổi mồ côi mẹ,
Nguyễn Trãi khi thì sống với cha
ở Nhị Khê, khi thì về với ông
ngoại ở Côn Sơn (tức núi Hanh,
làng Chi Ngãi, tỉnh Hải Dương)
để học hành.
Năm Mậu Thìn 1388, cha ông cùng
với một số sĩ phu trong đó có
ông nội và bác ruột của ông là
Nguyễn Công Luật và Nguyễn Bát
Sách âm mưu lật đổ bè cánh gian
thần của Hồ Quý Ly bị bại lô.
Mọi người đều bị giết duy có cha
ông và ông nội trốn thoát vào
Thanh Hóa. Sau một thời gian yên
ổn mới dám trở về Nhị Khê. Mùa
đông năm 1390, ông buồn rầu thê
lương vì vừa qua tang mẹ, đến
tang ông nội và ông bác, nay lại
là tang ông ngoại, người mà ông
rất mực kính yêu và đã ảnh hưởng
rất nhiều đến cuộc đời ông. Năm
Canh Thìn 1400, sau khi bàn bạc
cùng cha đặt nợ nước trên tình
nhà, hai cha con ông đã đồng ý
ra hợp tác với nhà Hồ. Năm ấy
ông đỗ tiến sĩ. Năm sau ông được
cử làm Chánh Chưởng Ngự Sử Đài,
còn cha ông được cử làm Học Sĩ
Hàn Lâm Viện kiêm chức Tư Nghiệp
Quốc Tử Giám.
Từ khi thoán đoạt ngôi vua Trần
Thiếu Đế, Quý Ly đổi từ họ Lê
sang họ gốc là Hồ Quý Ly, lấy
quốc hiệu là Đại Ngu, khởi sự
nhiều cuộc cải cách gấp rút, táo
bạo trong nước gây bất bình, oán
thán khắp nơi, nhất là giới
hoàng tộc nhà Trần. Đây là cơ
hội cho nhà Minh lợi dụng danh
nghĩa "phù Trần diệt Hồ" để đem
quân xâm lăng nước ta. Tuy nhà
Hồ có phòng bị nhưng vì chưa kịp
thu phục nhân tâm và củng cố
chính quyền nên quân Minh đánh
đâu thắng đó. Cuối cùng cha con
Hồ Quý Ly và một số quan chức bị
bắt dẫn đi đày trong đó có
Nguyễn Phi Khanh. Nguyễn Trãi
theo hầu cha đến cửa ải Nam
Quan, được cha dặn dò về lo việc
phục quốc và báo thù nhà. Khi
giã biệt cha trở về, Nguyễn Trãi
trải qua nhiều gian nan, nguy
hiểm đi khắp nơi đằng đẳng 10
năm trời, ông chứng kiến bao
cảnh hãi hùng, thê lương mà quân
Minh áp đảo đầy đọa nhân dân,
bao nhiêu đền đài miếu mạo bị
phá hủy, bao nhiêu sách vở văn
hóa bị đốt sạch:
"Độc ác thay trúc Nam Sơn không
ghi hết tội,
Dơ bẩn thay nước Đông Hải không
rửa hết mùi ..."
(Bình Ngô Đại Cáo)
Trong nước nhiều nhóm khởi nghĩa
như Giản Định Đế (Trần Ngỗi),
Trần Quý Khoáng, Đinh Tôn Nhân,
Lê Văn Linh... đã nổi lên ở từng
địa phương đều bị quân Minh đàn
áp dã man. Sau khi nghiên cứu
tình hình địch và các nhóm kháng
chiến, Nguyễn Trãi đã quyết định
cùng với người em bên họ ngoại
là Trần
Nguyên Hãn (cháu nội Trần Nguyên
Đán) vào Lam Sơn phò Lê Lơ.i.
Ông dâng lên Lê Lợi tập "Bình
Ngô Sách" và thuyết phục Lê Lợi
dùng nhân nghĩa đối với tướng
sĩ, dùng công tâm để lấy thành.
Ông đề ra ba phương sách uyển
chuyển giữa quân sự và chính
trị: công tâm là thượng sách,
vừa công thành vừa công tâm là
trung sách, công thành là hạ
sách (ba phương cách này phù hợp
với ba đường lối trị nước là đế
đạo, vương đạo và bá đạo). Đinh
Liệt có ghi lại bài thơ ca tụng
Bình Ngô Sách, được dịch ra quốc
âm như sau:
Nguyễn Trãi thực uyên bác,
Diệu kế đánh vào lòng (công tâm)
Lá rừng thành thiên hịch
(Nguyễn Trãi cho dùng mật viết
lên lá rừng câu "Lê Lợi vi quân,
Nguyễn Trãi vi thần" để kiến đục
thành chữ). Bình Định Vương Lê
Lợi phong cho Nguyễn Trãi chức
Tuyên Phụng Đại Phu thừa chỉ học
sĩ Hàn Lâm Viện. Nguyễn Trãi đưa
ra nhiều chiến lược, sách lược
cho Lê Lơ.i. Năm 1423 Nguyễn
Trãi khuyên Lê Lợi rút quân về
Lam Sơn để bảo toàn và gây dựng
thêm lực lượng, một mặt ông viết
thư hòa hoãn với tướng Minh là
Trần Trí và Sơn Tho.. Năm 1424
ông đề nghị nghĩa quân dùng kế
hư thực, giả danh tiến đánh Nghệ
An nhưng thực ra đại quân chia
ba ngả tiến đánh Trà Lung. Đồng
thời bằng đường ngoại giao
Nguyễn Trãi viết thư cho Sơn Thọ
nêu lên điều cơ bản làm người
trung nghĩa và danh tiết và vạch
những mâu thuẫn để chia rẽ
đi.ch. Ông dùng lời lẽ lúc cương
lúc nhu và cũng không màng nguy
hiểm trực tiếp gặp các tướng
Minh để thuyết phục. Tướng Minh
là Thái Phúc mở cửa xin hàng,
giao thành Nghệ An cho nghĩa
quân. Từ đó quân ta thắng liên
tiếp mọi nơi. Năm 1427 Lê Lợi tổ
chức hội
thề Đông Quan (Thăng Long) tha
cho quân Minh về nước theo lời
bàn nhân nghĩa của Nguyễn Trãi.
Đầu năm 1428 , Lê Lợi lên ngôi
hoàng đế, miếu hiệu Thái Tổ,
niên hiệu Thuận Thiên, quốc hiệu
là Đại Việt. Nguyễn Trãi được
phong tước Quan Phục Hầu. Nhưng
chưa đầy hai năm sau nhà vua
nghe bọn nịnh thần Đinh Bang
Bảng, Lê Quốc Chí ... bức tử
tướng Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn
Xảo còn Nguyễn
Trãi bị đưa đi an trí ở Côn Sơn.
Đến năm 1434 sau khi vua Lê Thái
Tổ (Lê Lợi) băng hà, vua Lê Thái
Tông lên ngôi, cho vời Nguyễn
Trãi về phục chức cũ. Ông khuyên
nhà vua lấy nhân nghĩa làm gốc
trị dân. Đồng thời ông hăng hái
đề nghị cải tổ xã hội, xây dựng
nền giáo dục quốc âm và soạn
thảo văn hiến dân tộc. Chẳng bao
lâu bọn quần thần tham ô nhũng
lạm lại tìm cách ngăn cản phá
hoại, quốc sách của ông không
thực hiện được, ông chán nản xin
về ẩn ở Côn Sơn.
Năm 1442 vua Lê Thái Tông trên
đường tuần du, ghé thăm Nguyễn
Trãi ở Côn Sơn, Nguyễn Trãi
thẳng thắn tâu trình vua việc
dân việc nước. Khi nhà vua rời
Côn Sơn, Nguyễn Trãi bận đi kinh
lý Bắc Đạo, chỉ có Nguyễn Thị
Lộ, người thiếp của Nguyễn Trãi,
đi hộ giá nhà vua cùng đoàn tùy
tùng. Đến Lệ Chi Viên (trại
trồng vải) nhà vua ngã bệnh băng
hà. Nguyễn Thị Lộ bị vu oan giết
vua và Nguyễn Trãi bị chu di tam
tộc.
Qua thân thế, sự nghiệp và các
tác phẩm còn sót lại của Nguyễn
Trãi, chúng tôi xin chia cuộc
đời ông thành ba giai đoạn:
Giai đoạn ý thức tinh thần dân
tộc trong thời niên thiếu: Trong
thời niên thiếu, mẹ mất sớm,
Nguyễn Trãi có lúc ở với cha, có
lúc ở với ông ngoa.i. Chính qua
sự dạy dỗ của cha và ông ngoại,
Nguyễn Trãi đã hấp thụ tất cả
nét tinh hoa của nền văn hóa Lý,
Trần. Đặc biệt nền giáo dục đã
qua sự đãi lọc và dung hóa tinh
hoa của Nho, Phật, Lão thành một
tư tưởng độc đáo dưới hai triều
đại này. Ông đã được hun đúc và
trưởng thành trong tư tưởng ưu
việt đó và sau này chính ông đã
hành xử một cách sáng tạo để
giúp dân giúp nước. Chúng ta
thấy rõ lối cư xử này của ông
khi ông cùng cha ra giúp nhà Hồ
xây dựng nền quốc học mà không
phân biệt mình là thân nhân dòng
họ Trần và sau đó ông đã cùng
Trần Nguyên Hãn lặn lội vô Lam
Sơn giúp Lê Lợi khởi nghĩa chống
quân Minh.
Nhiều người khi nhận định về
Nguyễn Trãi cho ông là một nhà
Nho lỗi lạc và gán ép cho ông là
tác giả của "Gia Huấn Ca", cũng
như một số vị cho ông là một
thiền sư hay một đạo sĩ của Lão
giáo. Nhưng thật ra ở ông chúng
ta đã thấy, qua các tác phẩm,
qua cuộc đời ông, ông hành xử
một cách uyển chuyển, theo từng
giai đoạn chứ không cố chấp hay
gò bó theo một khuôn mẫu nào. Tư
tưởng này không phải
được hình thành trong một thời
gian ngắn mà phải qua một quá
trình thử thách và chuyển hóa
tâm thức của người Việt. Chúng
ta tự hỏi tại sao dân tộc ta lại
có cơ may để có thể dung hóa các
tư tưởng lớn thành một tinh anh
của dân tộc? Nhìn qua lịch sử,
qua các huyền thoại, ca dao, tục
ngữ, chúng ta thấy văn hóa Việt
là một nền văn hóa mở rộng,
không khép, không giáo điều, dựa
vào hai yếu tố căn bản dó
là tinh thần NHÂN CHỦ và NHÂN
BẢN. Nhờ quá trình định cư, định
canh sớm của nghề trồng lúa
nước, tổ tiên chúng ta sớm hình
thành xóm làng dưới thời vua
Hùng, quây quần thương yêu đùm
bọc nhau trong một đại gia đình
gọi nhau bằng cô dì, chú bác,
cậu mơ.... Huyền thoại Lạc Long
Quân-Âu Cơ
lấy nhau sinh ra một bọc trứng
trăm con đã nói lên tất cả nền
văn hóa ưu việt đó. Đó là tinh
thần bình đẳng, thương yêu,
không phân biệt hay kỳ thị chủng
tộc. Một bằng chứng khác là Lục
Tổ Thiền Huệ Năng, một người
Việt đất Lĩnh Nam thất học đã
thẳng thắn trả lời sự khinh miệt
của học giả miền Bắc bằng câu:
Bắc Nam tuy có khác, song nhân
tính Bắc Nam đâu có khác (*).
Theo các công trình khảo cứu,
người Việt là một chủng tộc mang
trong người dòng máu di dân. Tổ
tiên chúng ta sống rải rác khắp
miền Hoa Nam từ miền Động Đình
Hồ, phía nam sông Dương Tử vốn
mang tính tự do phóng khoáng,
không chịu sự hà khắc của những
kẻ du mục hung hãn nên đã dần dà
xuôi nam tìm nơi nắng ấm và dễ
dàng cho việc canh tác. Khi xuôi
nam, nhờ đặc tính nhu thuần và
chăm lo ruộng đồng, tổ tiên
chúng ta đã tiếp xúc và chung
sống với dân bản địa một cách
hài hòa. Sách Trung Dung Mạnh Tử
có viết: "Khoan nhu dĩ giáo, bất
báo vô đạo, nam phương chi cường
dã, quân tử cư chi. Nhẫn
kim cách, tử chi bất yếm, bắc
phương chi cường dã nhi cường dã
cư chi" ("Khoan nhu mà dậy, tha
thứ kẻ vô đạo, đó là cái cường
của người phương nam, người quân
tử theo đó. Nằm trên áo giáp
binh khí, chết mà không sợ, đó
là cái cường của người phương
bắc, người anh hùng theo đó ").
Trong ca dao dân tộc ta có câu
"bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy
rằng khác giống nhưng chung một
giàn" đã nói lên tinh thần nhu
thuận và bao dung của người
Việt. Người Việt vốn có đầu óc
sáng tạo, tính tình hài hòa, cho
nên mỗi khi định cư trên vùng
đất mới hay khi tiếp xúc với các
nền văn hóa khác đều là những cơ
hội cho họ làm một cuộc dung
hóa, cuộc dung hóa sau tốt đẹp
hơn cuộc dung hóa trước. Nhưng
cuộc dung hóa đáng kể nhất là
cuộc dung hóa của thiền sư Vạn
Hạnh trước sự giao lưu của các
nền văn hóa Ấn-Hoa. Vạn Hạnh đã
không cố chấp trong chiếc áo tu
hành, và gạt đi ấn tượng dị giáo
với các tôn giáo khác, ông dày
công dung hóa các tôn giáo
Nho-Thích-Lão thành một tư tưởng
đặc thù
của dân tộc làm nền tảng văn
minh của hai triều đại Lý-Trần.
Người ta thường nhắc đến câu
"Vạn Hạnh dung tam tế " mỗi khi
nhớ đến công lao của ông.
Với truyền thống nhân bản, nhân
chủ trong giòng máu, với cơ
duyên đặc biệt hiện nay của
người Việt, chúng ta tin tưởng
rằng thế hệ tương lai của chúng
ta sẽ thai nghén một cuộc dung
hóa mới vĩ đại hơn không những
lợi ích cho dân tộc mà còn mang
lại một nền hòa bình đích thực
cho nhân loa.i.
Giai đoạn hai: Nguyễn Trãi mang
tinh thần dung hóa áp dụng vào
cuộc đấu tranh kháng Minh và xây
dựng đất nước.
Trước khi tìm đến Lê Lợi, Nguyễn
Trãi đã chịu bao gian nguy, bao
sự khổ nhục suốt mười năm đằng
đẳng đi khắp nơi tìm hiểu tình
hình địch, phân tích tâm lý từng
tên quan Minh cai trị, tìm hiểu
từng nhóm kháng chiến, cơ sở
cũng như các cấp lãnh đạo kháng
Minh để biết rõ ưu và khuyết
điểm của ta và đi.ch. Cuối cùng
ông đúc kết nên tập "Bình Ngô
Sách" và trao cho Lê Lợi, người
mà ông tin tưởng có thể
thực hiện được. Ông đã phân tích
đặc tính các cuộc xâm lăng của
phương Bắc vào nước ta và nhận
thấy rằng cuộc xâm lăng lần này
của quân Minh mưu mô hơn, tàn
độc hơn vì chính họ đã có kinh
nghiệm kháng chiến chống Nguyên
Mông và kinh nghiệm cai trị sau
một thời gian dài bị đô hô.. Họ
đã khôn ngoan dùng chính sách mị
dân và đào tạo người địa phương
làm tay sai với chiêu bài "phù
Trần- diệt Hồ". Miệng họ nói
khai hóa dân ta mà thực chất là
thủ tiêu văn hóa Việt và biến
nước ta dần dà thành quận huyện
của ho.. Nhưng bọn quan quân cai
trị tham lam vơ vét, hống hách
cộng thêm sự những lạm của bọn
bán nước cầu vinh đã không che
đậy được bề mặt giả nhân giả
nghĩa của ho.. Nhờ tính kiên
nhẫn, nhu thuận, người Việt cắn
răng chịu đựng nhưng trong xóm
làng ngầm dạy nhau giữ nếp sống
tổ tiên và nung đúc ý chí quật
cường. Dưới một hoàn cảnh đặc
biệt như vậy, Nguyễn Trãi đã đề
ra chính sách vừa tâm lý vừa
quân sự, khi cương khi nhu, tùy
nơi tùy lúc. Nguyễn Trãi luôn
luôn hành động sáng tạo để đưa
nghĩa quân từ thế yếu thành thế
mạnh, từ hoàn cảnh hiểm nghèo ra
thế xung kích đi.ch. Ông đã xử
dụng ngòi bút linh hoạt, lời nói
khôn khéo để hòa hoãn với địch
hay kêu gọi địch đầu hàng để
không tổn hại đến lực lượng ta.
Bí quyết của Nguyễn Trãi không
phải chỉ chiến thắng địch trên
chiến trường mà biết xử dụng một
cách quyền biến bằng tư tưởng
sinh động của dân tộc, Nguyễn
Trãi đã
nhìn sâu vào lòng mình để hòa
mình vào cảnh ngộ của địch. Địch
với ta là một, cũng là con
người. Bắc Nam tuy có khác nhưng
nhân tính đâu có khác. Chỉ vì
lòng tham lam của một thiểu số
cầm quyền đã đưa đẩy họ vào nơi
thù hận chém giết.
"Giữ ý kiến một người gieo họa
cho bao nhiêu kẻ khác tham công
danh một lúc, để cười cho tất cả
thế gian" (Bình Ngô Đại Cáo)
Với tấm lòng nhân từ, đại nghĩa,
vua Trần Nhân Tôn đã không cho
phép quân mình truy kích địch
khi địch bỏ chạy, và đối xử tử
tế với tù binh địch, tiếp tế cho
họ lương thực, phương tiện để họ
về nước dầu địch có hành động dã
man, giết người cướp của. Dân
tộc ta luôn luôn tỏ lượng bao
dung nhân ái mà tha chết cho
ho.. Cũng với tấm lòng đại nghĩa
đó, trong Bình Ngô Đại Cáo,
Nguyễn Trãi đã viết:
"Thần vũ chẳng giết hại, thể
lòng trời ta mở đức hiếu
sinh
Vương Thông, Mã Anh phát cho vài
nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà
vẫn tim đập, chân run! Họ đã
tham sống sợ chết, mà hòa hiếu
thật lòng Ta lấy toàn quân là
hơn, để nhân dân nghỉ sức"
Nhờ hun đúc trong một nền văn
hóa như vậy, người Việt hình như
đã cảm nhận sâu sắc trước những
nỗi đau khổ của kẻ khác. Chúng
ta ít thấy dân tộc nào thương kẻ
thù sa cơ như chính thương mình
vâ.y. Bài thơ của Trạng Nguyên
Lý Tải Đạo nói lên tình thương
đối với kẻ thù bị bắt:
"Chích máu thành thư muốn gởi
lời
Lẽ bay nhạn buốt ải mây khơi
Đêm nay mấy kẻ nhìn trăng nhỉ
Đôi ngã lòng chung một vời vợi"
("Khóa huyết thư thành dục ký âm
Cô phi hàn nhạn tái vân thâm
Kỷ gia sầu đối kim tiêu nguyệt
Lưỡng xứ mang nhiên nhất chủng
tâm")
Cũng tấm lòng đại nghĩa đó mà
Nguyễn Trãi đã cảm hóa được
tướng Thái Phúc từ kẻ thù thành
bạn, Thái Phúc đã giúp nghĩa
quân kêu gọi quân Minh ra đầu
hàng và cả tổng binh Vương Thông
trước khi kéo bại quân về nước
đã qua dinh Lê Lợi, Nguyễn Trãi
tâm sự suốt đêm cho đến sáng.
Khi chiến tranh chấm dứt, hòa
bình ló dạng trên quê hương,
Nguyễn Trãi hăm hở lo mở trường
thi tuyển chọn nhân tài, kiến
thiết lại đất nước sau những năm
bị chiến tranh tàn phá. Ông nhấn
mạnh giai đoạn võ lực đã hết,
tương lai phải trông cậy vào văn
trị "yêu trọng người dân là của
cải", vào xây dựng một xã hội
công bằng, bác ái, nhân nghĩa
hơn là dùng pháp tri.. Ông đã
khuyên vua "xin bệ hạ yêu nước
yêu dân để cho các nơi làng mạc
không có tiếng oán hận than sầu,
đó là không mất cái gốc của nhạc
vậy".
Lý tưởng của Nguyễn Trãi là muốn
xây dựng một nền thịnh trị
Nghiêu Thuấn lâu dài, nước có
văn hiến, vua dân hòa mục
"Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu
Thuấn
Dường ấy ta đà phỉ thửa nguyền"
(Quốc Âm Thi Tập, Tự Thán)
Suốt đời Nguyễn Trãi làm việc
với tinh thần không mệt mỏi, tận
tụy trách nhiệm với dân với nước
"Còn có một lòng âu việc nước
Đêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung"
Ông quan niệm người anh hùng cao
cả trong thời bình không như
người anh hùng trên lưng ngựa
dưới lằn tên mũi đạn:
"Trừ độc trừ tham, trừ bạo ngược
Có nhân có trí mới anh hùng"
(Quốc Âm Thi Tập, Báo Kính Cảnh
Giới)
Chí nguyện ông muốn rải hết tấm
lòng của mình đến tận người dân
đang đau khổ khắp bốn biển
"Nguyện bả lan thang phân tứ hải
Tùng kim tảo tước cựu ô dân"
(Đoan Ngọ Nhật)
(Nguyện đem nồi nước hoa lan gội
hết cho trần gian được sạch làu)
Ông hòa đồng với mọi người, ông
không còn phân biệt khách thể
hay chủ thể nữa. Ông cởi bỏ tất
cả để hòa tan vào sâu thẳm niềm
đau của thế nhân. Tâm hồn của
ông không chỉ là một tâm hồn vị
tha mà còn là tâm hồn của một
người đắc được yếu tính vô vi
của Lão, tính vô tướng, vô tác
của Phật. Qua cuộc đời và các
tác phẩm của ông chúng ta thấy
ông hành xử uyên thâm tam giáo.
Càng về già ông càng ngán ngẩm
với lối xử thế "cực quanh co"
với "cửa quyền hiểm hóc":
"Ta dư cửu bị nho quan ngộ
Bản thị canh nhàn điếu tịch
nhàn"
(Thương ta bị cái mũ nhà nho làm
ta lầm lẫn từ lâu Ta vốn người
cày trong chốn nhàn nhã, câu nơi
vắng vẻ) Ông coi công danh phú
quý như nước chảy qua cầu, như
chất bẩn đục làm ông buồn nôn,
như trâu suyển khi thấy trăng
lên "Tục cảnh kinh tâm suyển
nguyệt ngưu" dầu tình ý ông lúc
nào cũng gắn bó với dân với
nước. Điều này làm ông băn khoăn
giữa hai đường xuất xử
"Lấy đâu xuất xử lọn hai bề
Được thú làm quan, mất thú quê"
(Quốc Âm Thi Tập, bài 109)
Giai đoạn về ẩn Côn Sơn:
Dường như tự thâm tâm ông luôn
luôn nghe tiếng réo gọi quay về
nơi chốn tĩnh mịch có non xanh,
nước biếc, chim kêu vượn hú
"Vấn quân hồ bất quy khứ lai ?
Bán sinh trần thố trường dao ốc"
(Hỡi ai nào chẳng sớm quay về
Nửa đường vùi mãi trong lầm đục)
Lòng ông nao nao muốn trở về nhà
xưa cảnh cũ nơi một thời ông
sống với ông ngoại Trần Nguyên
Đán ở Côn Sơn
"Côn Sơn có suối nước trong
Ta nghe suối chảy như cung đàn
cầm
Côn Sơn có đá tần vần
Mưa tuôn đá sạch ta nằm ta chơi
Côn Sơn thông tốt ngất trời
Ngả nghiêng dưới bóng ta thời tự
do
Côn Sơn trúc mọc đầy gò
Lá xanh bóng rợp tha hồ tiêu
dao"
(Côn Sơn Ca - Bản dịch của
Nguyễn Trọng Thuật)
Ông vui với cảnh thanh nhàn
không vướng chút bụi trần ai
"Hà thời kết ốc vân phong hạ ?
Cấp giản phanh trà, chẩm thạch
miên ?"
(Ức Trai Thi Tập)
(Bao giờ nhà dựng dưới núi mây
Múc nước suối pha trà và gối đá
ngủ) và ông vui với cảnh đạm bạc
"ngày tháng kê khoai những sẵn
hàng
tường đào ngõ mận ngại thung
thăng"
(Quốc Âm Thi Tập, bài 23)
Ông chẳng ngại ngùng
"Một cày một cuốc thú nhà quê
Áng cúc lan chen vãi đậu kê"
(Quốc Âm Thi Tập, bài 48)
Đôi khi để được những miếng ăn
rau cải hằng ngày, ông gởi nhờ
"Ao quan thả gởi hai bè muống
Đất bụt ương nhờ một luống mùng"
(Quốc Âm Thi Tập, bài 68)
(mùng = rau dọc mùng để nấu canh
chua)
Những món ăn hương quê đã giúp
cho ông có kinh nghiệm canh tác:
"Nước dưỡng cho thanh trì thưởng
nguyệt
Đất cày ngõ ải, lãnh ương hoa"
(ngõ, lãnh là hai tiếng xưa miền
Trung. Ngõ = hầu cho, lãnh =
luống, ải = cuốc đất cho tơi ra)
Nhà ở, áo quần giản dị đạm bạc:
"Chốn ở trên gian lều lá "
"Mùa qua chằm bức áo sen"
"Hài cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh"
(Quốc Âm Thi Tập, bài 124)
Vậy mà lúc nào ông cũng cảm thấy
sung túc giàu có
"Kho thu phong nguyệt đầy qua
nóc
Thuyền chở yên hà nặng vạy thêm"
(Quốc Âm Thi Tập, bài 69)
Ông còn hóm hỉnh để lại cho con
cháu mai sau
"Thong thả lại toan nào của
tích:
Bạc mai, vàng cúc để cho con"
(Quốc Âm Thi Tập, bài 49)
Bạn bè vui công danh nơi cao
sang quyền quý, còn ông thì bạn
tri âm với
"Án sách, cây đèn hai bạn cũ
Song mai yên trúc một lòng
thanh"
(Quốc Âm Thi Tập)
Trong cuộc sống quy ẩn ông thoải
mái, tiêu dao với cảnh đẹp thiên
nhiên, khi xem hoa nở, khi chờ
trăng lên, thiên nhiên quấn quýt
với ông trong từng bước chân,
từng hơi thở như người bạn đường
quen thuộc
"Quét trúc bước qua làn suối
Thưởng mai về đạp bóng trăng"
(Ngôn Chí, bài 15)
"Say minh nguyệt chè ba chén
Dịch thanh phong lều một gian"
Thiên nhiên là nguồn sống của
ông với cái bao la bất tận, hồn
nhiên tự tại
"Đạp áng mây, ôm bó củi
Ngồi bên suối gác cần câu
Giang sơn mặt thấy nên quen
thuộc
Danh lợi lòng nào ước chác cầu"
hay trong bài "Túc sự ở Ức Trai
Thi Tập" ông đã tán thán sự
thảnh thơi buông chèo theo sóng
nước
"Thương ba giang thượng nhàn
thùy điếu
Lục thụ âm trung tính khán thư
Vũ quá tình lam khuy hộ dũ,
Phong lai tuyết lãng vũ đình
trừ"
(Thuyền câu sóng nước buông chèo
Bóng cây đọc sách những chiều
thảnh thơi
Mưa trong cửa sổ tạnh rồi
Ngoài sân gió thổi, tuyết rơi
đầy thềm)
Nguyễn Trãi bốn trăm năm về
trước và Nguyễn Công Trứ bốn
trăm năm sau đó có khác chi đâu.
Nguyễn Trãi và hậu sinh của ông
đã sống nếp sống quen thuộc của
người Việt, dầu thời thế, hoàn
cảnh có khác. Nguyễn Trãi trải
qua tuổi thanh niên trong cảnh
ngoại xâm, nước mất nhà tan,
bương chải tìm con đường cứu
nước cứu dân. Nguyễn Công Trứ
trải qua tuổi ấu thơ trong loạn
lạc nội tranh. Nhưng cả hai đều
nhìn con đường đi lên bằng học
vấn, rồi đem học vấn đấu tranh
cho đời, và cuối cùng trở về nơi
thôn dã vui với thiên nhiên, an
bần lạc đa.o. Nguyễn Trãi giang
tay góp phần dựng lên một triều
đại rồi chính ngay triều đại đó
nhận chìm ông xuống tận bùn đen.
Ba họ nhà ông bị chết thê thảm
dưới bàn tay của những kẻ gian
tham bạo ngược, đại diện cho
tinh thần Tống Nho rỗng nát du
nhập ngoại lai (Quân xử thần tử,
thần bất tử bất trung) và vì
những tranh giành quyền lợi cung
đình.
Cả Nguyễn Trãi và Nguyễn Công
Trứ dầu cách nhau đến bốn trăm
năm lịch sử đều biểu tượng cho
cốt cách đạo sống Việt. Đạo sống
đó được lưu truyền từ đời này
sang đời nọ bàng bạc qua các
huyền thoại, ca dao và tục ngữ
của người Việt. Đạo sống đó được
biểu hiện qua người nông dân
chất phác là đạo làm người, đạo
vợ chồng, đạo thờ kính cha mẹ,
thương anh chị em trong nhà,
láng giềng chòm
xóm:
"Thường thường phải đạo thì thôi
Đừng săn mà đứt, đừng lơi mà
chùng"
hay biểu lộ qua cuộc sống
"Ở sao cho vẹn cho toàn
Giao nhau chớ phụ, nghĩa vàng
chớ vong"
họ quan niệm rằng
"Người còn thì của cũng còn
Miễn là nhân nghĩa vuông tròn
thì thôi"
hay "Nghèo nhân nghèo nghĩa thì
lo
Nghèo tiền nghèo bạc chớ cho là
nghèo"
Cho nên cuộc sống họ
"Tri túc tiện túc đãi túc hà
thời túc"
(Nguyễn Công Trứ)
Đạo Việt phổ vào cuộc sống mà
không công thức, không giáo
điều, không biên cương, cho nên
đạo sống Việt không săn (căng),
không chùng, không thêm, không
bớt, thư thái, tự nhiên, gồm
thâu tất cả mà cũng mở rộng ra
khắp tất cả. Nhờ ưu điểm đó nên
suốt ngàn năm đô hộ Tàu, trăm
năm đô hộ Tây, bản sắc dân tộc
Việt không mất đi. Nhờ áp dụng
những nét tinh hoa đó Nguyễn
Trãi đã đem lại những lợi ích
thiết thực cho dân tộc. Nhưng
tiếc thay, từ khi lên ngôi vua,
Lê Lợi đã manh nha dùng chính
sách nô dịch Tống Nho trong việc
trị dân và thi cử để củng cố
vương quyền. Cái chết của Nguyễn
Trãi là cái tang chung cho đất
nước và đánh dấu sự cáo chung
của nền văn hóa Việt trong nếp
sinh hoạt và tư duy của giới quý
tộc và sĩ phu Việt. ......(Xin
ph'p ta'c gia? ddu+o+.c phe'p
ca('t pha^`n na^`y dde^? tra'nh
pha^`n tranh lua^.n chi'nh tri.
hie^.n dda.i trong trang ca dao)
Qua những trang sử hào hùng của
tổ tiên, qua những ngày tháng
tang thương của dân tộc, chúng
ta suy ngẫm và bừng tỉnh rằng
chúng ta đã đánh mất một nền văn
hóa tinh hoa mà tổ tiên chúng ta
đã dày công xây đắp. Chúng tôi
ước mong thế hệ chúng ta, con
cháu chúng ta trong cũng như
ngoài nước cố gắng
khôi phục lại cội nguồn dân tộc
để khỏi hổ thẹn là một người
Việt Nam.
Đó là ý nghĩa duy nhất mà bài
học Nguyễn Trãi mang lại cho
chúng ta.
-------------------------------------------------------------------------
Ghi chú:
* Chúng tôi dùng chữ "nhân tính"
cho thanh niên dễ hiểu thay vì
"Phật tính" cùng nghĩa. Trích
câu nói trong Kinh Pháp Bảo Đàn
do thiền sư Thích Mãn Giác dịch:
Lúc Huệ Năng tìm đến tu học với
thiền sư Hoằng Nhẫn, Hoằng Nhẫn
mắng Huệ Năng "Mi là dân Lĩnh
Nam, vốn đồ mọi rợ, làm thế nào
thành Phật được" (phân đoạn 3,
bản Đôn Hoàng) Huệ Năng nói "Con
người tuy có Nam Bắc, Phật tính
chẳng có Bắc Nam. Tuy thân mọi
rợ không giống với thân Hòa
Thượng, Phật tánh trong chúng ta
có gì là sai biệt"
o Tâm tánh ví như ly nước đục,
để yên chất đục bẩn lắng xuống
đáy, hiển hiện chất nước trong
suốt đó chính là Phật tánh.
o Trong Cựu ước kinh Thiên Chúa
giáo, lúc ông Adam và bà Eva
chưa ăn trái cấm, nhân tính hiển
hiện trong hai người, không có
phân biệt nhị nguyên: tốt xấu,
thiện ác... nhưng sau khi ăn
trái cấm, phần nhân tính bị che
lấp trong đám ô trọc, như ly
nước trong bị đục bụi bùn. Cố
gắng tu luyện thì phần nước
trong, nhân tính sẽ hiển lô..
o Trong Khổng giáo có nói "Nhân
chi sơ tánh bổn thiện", con
người khi sơ khai vốn tánh không
bị nhiễm đục. Chữ thiện vẫn còn
là nhị nguyên, nhưng chắc không
còn chữ nào để mô tả sự uyên
nguyên của con người nên tạm
dùng chữ thiện.
o Trong Lão giáo, nhân tính được
dùng như chữ Đa.o. Trong Thượng
Thiên, Lão Tử viết: "Có vật trộn
lộn mà thành. Nó sinh ra trước
trời đất, vừa trống không vừa
yên lặng, đứng một mình mà không
biến cải, trôi khắp mọi nơi mà
không mỏi, có thể làm mẹ của
thiên ha.. Ta không biết tên nó
là gì nên mới đặt cho nó là đạo,
gượng gọi nó là lớn...
Trong vũ trụ có bốn cái lớn mà
người là một." Đạo đây là cái
tính uyên nguyên cũng là nhân
tính hay Phật tính vâ.y.
------------------------------------------------------------------------
Sách tham khảo:
- Đại Cương Triết Học Trung Quốc
(Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê)
- Kinh Pháp Bảo Đàn (thiền sư
Thích Mãn Giác dịch từ bản Đôn
Hoàng)
- Ức Trai Tập (Nguyễn Trãi)
- Nguyễn Trãi Và Bản Hùng Ca Đại
Cáo (Bùi văn Nguyên)
- Nguyễn Trãi - Sinh Thức Và
Hành Động (Võ Văn Ái)
- Nguyễn Trãi - Về Tác Gia và
Tác Phẩm (Nguyễn Hữu Sơn tuyển
chọn)
- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Hoàng
văn Lân dịch và chú thích)
- Vua Trần Nhân Tông - Thân Thế
Và Sự Nghiệp (Lê Mạnh Thát)
(Trích E Cadao) |