|
Trong
việc tiếp tục tìm hiểu những
bước đường của Phan Khôi
(1887-1959) trong nghề viết báo,
điều tôi hiện đang muốn làm rõ
là: sau thời gian Phan Khôi làm
báo ở Huế (1935-37), ông có tiếp
tục làm báo hay không? Làm báo ở
miền Bắc hay miền Nam? Bài vở
của ông đăng tải trên những tờ
báo nào? v.v…
Có nguồn tư liệu từ gia đình ông
cho biết sau 1937 ông vào Sài
Gòn dạy học tại trường Chấn
Thanh, trường này đến năm 1941
phải đóng cửa và chuyển về Đà
Nẵng, và ông cũng về ở hẳn quê
nhà (Điện Bàn, Quảng Nam). Vậy
từ 1937 sống tại Sài Gòn, Phan
Khôi có viết cho tờ báo nào tại
đây? Điều này cần được kiểm tra
bằng việc đọc một loạt báo xuất
bản tại Sài Gòn thời gian ấy.
Việc này là rất khó và hiện tôi
chưa làm được.
Song hiện tôi đã có một số bằng
cứ chứng tỏ từ 1937 đến 1939
Phan Khôi liên tục có bài đăng
trên báo chí Hà Nội, như Đông
Dương tạp chí, Dư luận, Thời vụ,
Tao đàn.
Bài viết của Phan Khôi mà tôi
giới thiệu dưới đây là một trong
trên một chục bài của ông đăng
trên Đông Dương tạp chí, tờ báo
do Nguyễn Giang tục bản
(15.5.1937), ngay sau giỗ đầu
Nguyễn Văn Vĩnh. Các sưu tập
Đông Dương tạp chí ở các thư
viện Hà Nội đều hầu như thiếu
rất nhiều. Có thể số bài của
Phan Khôi trên tờ này còn nhiều
hơn số bài mà tôi hiện đã nắm
được. Nhân công bố một vài bài
trong số ấy, tôi muốn được các
bạn và các vị trong giới sưu tầm
sách báo cũ, nếu có nguồn xin
chỉ giúp cho, xin được cảm ơn
rất nhiều.
Lại Nguyên Ân
Bài này đáng lẽ chung một đầu đề
với bài “Nhà nho với dân chủ”
đăng trong Đông Dương tạp chí số
33, vì chỉ là một ý phụ dung của
bài ấy. Nhưng trong bài ấy tôi
vì muốn cho gọn nên đã lược bớt
cái ý ấy đi. Nay nhân có xúc cảm
bởi một cái thời sự, lại viết ra
đây; không ưng có sự chắp nối
lôi thôi, bèn cho nó đứng riêng
dưới một đầu đề khác.
Sau khi Nhật Bản lấy Hoa Bắc và
Nam Kinh xong, định rước người
cháu bảy mươi hai đời của đức
Khổng Tử tên là Khổng Đức Chương
lập lên làm vua nước Trung Hoa.
Ấy là tin có đăng trong các báo
hàng ngày.
Đừng tưởng đó là một cái sáng
kiến của người Nhật. Cái đề nghị
ấy trước kia bên Tàu đã có. Lúc
bấy giờ thấy Mãn Thanh đã đổ,
Dân Quốc thành lập sáu bảy năm
rồi mà mải lục đục chẳng yên,
một tờ báo có xướng nghị thế
này: Trung Quốc vốn không quen
cái chế độ dân chủ, mà bây giờ
muốn lập vua trở lại thì chẳng
biết lập ai cho thiên hạ phục
tình, duy có họ Khổng ở Khúc
Phụ, một thế gia đã được toàn
quốc chiêm ngưỡng hai ngàn năm
nay, nếu chọn một người đích
phái trong họ ấy mà lập làm cộng
chủ thì chắc là êm chuyện. Nhưng
tờ báo ấy bàn là bàn vậy thôi,
một việc mới quá, mới còn hơn
cái chế độ dân chủ nữa, thì
không tài nào thực hành được. Ấy
thế mà không ngờ đến ngày nay
người Nhật lại toan đem ra thực
hành. Nếu quả vậy, thật họ đã
đùa với đức Khổng Tử một cách
rất cay độc. Họ xúi giục cho
cháu bảy mươi hai đời của ngài
nhè cái chỗ ngài kiêng kỵ nhất
mà phạm tới, thật ác vô cùng.
Đức Khổng Tử có linh, tôi tưởng,
khi nghe được tin này, ngài phải
giật nẩy mình đánh thót một cái
trên ban Đại Thành Chí Thánh
Tiên Sư mà vừa xua tay lia lịa
vừa năn nỉ với người Nhật như
vầy: Xin các ông đừng làm thế!
Chúng tôi không dám! Một hai
chúng tôi không dám!
Có lẽ bạn đọc chưa hiểu tại sao
mà đức Khổng Tử không dám. Trong
bài trước tôi mới nói đến một
mặt của cái chủ nghĩa của ngài
là “thờ vua”; nhưng còn một mặt
nữa tôi chưa nói là ngài “cai
ngôi vua”. Cai, nghĩa là chừa ra
không dám mó tới. Thật thế, điều
này tuy không có chép rõ trong
sách, chứ ta xét nhận cho kỹ rồi
thấy ông tổ nhà nho như đã lập
ra một cái tín điều là: ta cứ
giữ phận làm tôi, còn vua, ai
làm để mặc họ làm. Ấy chính vì
cái tín điều ấy nên khi ngài
nghe tin cháu ngài sắp được chọn
làm Hoàng đế Trung Hoa mà ngài
giật mình đánh thót vậy. Nên kèm
vào chỗ này một câu cho rõ: Tôi
viết bài này cốt để cắt nghĩa
cái chủ nghĩa của nhà nho đối
với quân chủ về một mặt sau.
Ta nên biết nhà nho đối với quân
chủ có một cái trung thành rất
đặc biệt mà kẻ khác không thể
có. Kẻ khác thờ vua thì họ vẫn
thờ, nhưng gặp dịp có thể thì
chính họ cũng nhảy lên ngôi vua
mà không từ chối. Duy nhà nho
thì không bao giờ có thể. Đó là
một cái bí truyền mà chính đức
Khổng đã phát minh ra và lưu lại
cho đời sau.
Tại sao đức Khổng đoạn tuyệt với
tư tưởng đế vương thì ta không
hiểu được. Cứ theo sách thì ngài
không khi nào có hy vọng làm vua
mà chỉ hy vọng làm quan. Bình
sinh ngài cứ than thở không ai
dùng mình và ước ao nếu có ai
dùng mình. Một cỗ xe với hai con
ngựa, ngài đi hết nước chư hầu
này tới nước chư hầu khác để tìm
cho được vua mà thờ. Túng quá,
có khi bọn loạn thần tặc đảng
mời ngài mà ngài cũng toan đến.
Mình đọc sách, nhiều khi thấy mà
đâm tức, chừng như muốn bàn với
ngài: không thì Phu tử nổi cách
mạng quách thử xem!
À, không nói bỡn, theo thời thế
và địa vị của ngài, việc ấy có
thể được lắm đa! Ở vào thời buổi
đã lâu lắm không có minh vương,
Khổng Tử lại có đức lớn hơn
Nghiêu Thuấn; gia dĩ trong tay
có ba ngàn đồ đệ: tay chính trị
có, tay quân sự có, nhà tư bản
có, nhà ngoại giao có, đủ thế
lực vận động một cuộc cách mạng
dễ như chơi. Một cuộc cách mạng
đưa ngài lên ngôi thiên tử, rồi
tha hồ mà độ thế cứu dân; thế
sao ngài không làm mà cứ mong kẻ
khác dùng mình? Ngài từng nói:
“Nếu có ai dùng ta, ta sẽ làm
Đông Chu”; “Nếu có ai dùng ta,
giáp năm đã thấy khá, ba năm thì
nên việc”. Ngài đã quả quyết như
thế, sao không làm quách cho
mình, lại cứ chực làm cho người
khác? Người khác là người, ngài
cũng là người. Người khác làm
được, ngài há không làm được? Có
lẽ nào những kẻ xưng đế xưng
vương từ xưa đến giờ đều là
giống siêu nhân ở trên trời sa
xuống hay sao?
Giá mình có bàn với ngài như vậy
chắc ngài cũng không nghe. Tôi
đã nói rồi, ngài giữ vững cái
chủ nghĩa: cái chủ nghĩa chỉ có
làm tôi một người chứ không dám
làm chúa nhiều người. Đến đây,
bạn đọc ắt phải tin như tôi rằng
nếu đức Khổng Tử không chính
chuyên với chủ nghĩa thì ngài đã
nổi cách mạng rồi mới phải.
Cũng đồng là cái điều răn của
tông giáo có nghĩa về tiêu cực,
nhưng có cái khó giữ, có cái dễ
giữ. Như cái điều răn “đừng uống
rượu” của Phật giáo mà hoặc giả
có ông thầy tu phạm phải, chứ
cái điều răn “đừng làm vua” thì
tôi biết chẳng hề có nhà nho nào
phạm tới, từ xưa đến nay!
Sau đức Khổng, những người dám
cầy cục tạo ra cái ngai vàng rồi
nhảy lên mà ngồi, đều không phải
nhà nho; còn hễ đã là nhà nho
thì dù cho có muốn làm vua mấy
đi nữa cũng kiêng kỵ mà không
dám. Cho được chứng thực lời ấy,
tôi xin trưng ra ít nhiều người
trên lịch sử.
Lúc cơ nghiệp nhà Tần sắp đổ,
những mặt anh hùng nào đã đuổi
con hươu chốn trung nguyên?
Người thứ nhất, ta phải kể là
Trần Thiệp, dù y ở ngôi vương
chỉ có mấy năm. Trước là một tên
dân cày, sau là một tên lính
thủ, cái đầu Thiệp chưa hề đội
qua mũ chương phủ lần nào nên
mới có thể đội ngay mũ miện. [1]
Rồi đến Tây Sở Bá Vương, Hạng
Vũ, người hồi nhỏ đi học chữ mới
vừa biết “thủ ký” liền bỏ đi học
gươm. Ai nữa? Lưu Bang. Một anh
đình trưởng ở Tứ Thượng, từng
chơi khăm đái vào mũ một anh nhà
nho, trong chỉ có năm năm đã
“ngảnh cái sang Hoàng đế” và tạo
nên bốn trăm năm của nhà Hán!
Hai người này có chí cướp lấy
ngôi vua từ lúc còn thiếu niên
bần tiện: Khi đi coi Tần Thuỷ
Hoàng giá ngự, Hạng Vũ thì nói:
“Hắn có thể cất đi mà thay vào!”
Lưu Bang thì nói: “Trượng phu
phải làm nên như thế chứ!” Giá
Khổng thánh ở vào lúc đó, miệng
ngài không ngớt tung hô vạn tuế,
còn bụng dạ nào dám nghĩ đến hai
câu nói oanh liệt kia?
Dòng dõi của Lưu Bang là Lưu Tú
(Quang Vũ hoàng đế) và Lưu Bị
(Chiêu Liệt hoàng đế) cũng chỉ
nhờ thuở nhỏ nhà nghèo, đi học
qua loa rồi bỏ, về sau mới đủ
can đảm mà gây cái nghiệp phi
thường. Hai ông tổ khai cơ của
nhà Đường nhà Tống cũng vậy. Lý
Uyên (Đường Cao tổ) là một viên
lão tướng, bình nhật chỉ biết
sai đâu đánh đó; Triệu Khuông
Dẫn (Tống Thái tổ) cũng võ phu,
“vị thường vi học”. Hai ông vua
đầu của nhà Nguyên và nhà Thanh,
vốn ở Mông Cổ và Mãn Châu, cái
xứ mà người Tàu kêu là di địch,
chưa hề triêm nhiễm đến nho
giáo, cố nhiên, chẳng nói làm
gì. Vua Minh Thái tổ ở Trung
Quốc dấy lên, nhưng cái lý lịch
ngài hoặc là đầu trộm đuôi cướp,
hoặc là thầy chùa, giá không làm
vua để có dịp tế Thánh bằng lễ
thái lao thì cả đời ngài quyết
chẳng dám lấp ló đến bên ngoài
cửa Khổng! Mà có thế, cái tên
Chu Nguyên Chương mới trở nên
Thái tổ Cao Hoàng đế của nhà Đại
Minh!
Đó là mới lược kể qua dăm ba ông
vua triều chánh thống mà thôi.
Nếu cử ra cho hết các đế vương,
đến những ông làm vua trong xó
hoặc một thời thì còn nhiều lắm,
mà thật, chẳng hề có một ông nào
xuất thân từ nhà nho hết. Thân
thế các ngài hoặc là kẻ vô lại,
hoặc là tay võ tướng, hoặc là
phường trộm cướp, không nữa, là
mọi rợ, man di.
Ở nước ta, các vua sáng nghiệp
Đinh, Lê, Lý cùng đức Thái tổ
bản triều [2] đều xuất thân từ
võ tướng. Riêng có nhà Trần thì
là một cậu công tử đẹp trai do
từ tên lính hầu mà lên ngôi cửu
ngũ. Còn đến anh em các ông Tây
Sơn thì là các tay lái buôn trầu
ở miệt nguồn Bình Định đổi nghề
đi ăn cướp, rồi đến mỗi người
làm chúa tể một phương.
Nào, hãy xem, có ông nghè, ông
cống, ông cử, ông tú nào đã dám
làm như các ông lái buôn Tây Sơn
ấy không? Cố tìm lắm mới thấy
một người là Tào Tháo, thì lại
rụt rụt rè rè, chưa dám làm vua
hẳn.
Các tay quyền thần tiếm thiết ở
bên Tàu như Vương Mãng, ở bên ta
như Hồ Quý Ly, Mạc Đăng Dung,
đều không phải nhà nho nên mới
có gan ngồi lên ngai thiên tử.
Tào Tháo cũng một loại người ấy,
thế lực y lại còn lớn hơn nữa,
mà chỉ vì cước vai hai chữ “hiếu
liêm” tức cử nhân hồi đời Hán,
nhà nho ấy đã chịu cả đời làm
tôi vua Hiến đế và để phần việc
thoán đoạt lại cho con. Nghĩ va
cũng muốn đích thân làm vua cho
sung sướng chứ, nhưng vì trọng
cái tín điều của nho giáo hơn,
bần thần không dám.
Mới hồi Tự Đức đây có ông Cao Bá
Quát cử binh ở đất Bắc, dám đề
cờ rằng “Bình Dương Bồ Bản vô
Nghiêu Thuấn, Mục dã Minh điều
hữu Võ Thang”. Ai không biết,
tưởng ông nhà nho kiết, chân cử
nhân được bổ đi Giáo thụ ấy muốn
làm như vua Thang vua Võ. Không
phải đâu, ông Quát chỉ làm quân
sư phò một người con cháu nhà
Lê.
Thật, từ bấy đến giờ, nhà nho đã
giữ trọn điều răn của đức Khổng
Tử, ai nấy đối với quân chủ đã
trung thành thì chớ, lại còn giữ
được chữ “cai” của ngài nữa.
Từ thế kỷ XIX giở về trước, cái
phẩm trật giữa xã hội loài
người, duy có vua là cao quý hơn
hết. Đức Khổng có đức lớn, được
thiên hạ tôn sùng mà ngài lại
không làm vua, ấy là điều mà bọn
tín đồ của Nho giáo lấy làm bất
mãn. Vì lẽ ấy, Hán Nho bắt đầu
xưng ngài là “Tố vương”, nghĩa
là “ông vua không có ngôi”. Họ
tưởng xưng như thế là xứng đáng
lắm, không biết rằng cái huy
hiệu ấy phản đối với cái chủ
nghĩa của ngài, chắc ngài không
chịu nhận.
Về sau có nhà vua phong đức
Khổng làm Văn Tuyên vương, cũng
làm trái ý nghĩa nữa. Nhưng có
nhà vua khác hiểu chỗ bí truyền
của nho giáo nên đã trừ khử cái
tước hiệu ấy đi mà trên bài vị
thờ ngài chỉ đề là “Đại Thành
Chí Thánh Tiên Sư Khổng Tử”, và
quen xưng như thế cho đến ngày
nay.
Thế là phải. Thế là hợp với cái
tín điều đức Khổng đã lập ra.
Cũng bởi cái tín điều ấy mà xưa
nay các vị đế vương vốn không
phải nhà nho, nhưng lúc đã lên
làm vua rồi thì đều quy y Nho
giáo và nhận nó làm quốc giáo.
Phải, Nho giáo đã dập tắt cái tư
tưởng tranh vương tranh đế trong
lòng mọi người, đỡ cho nhà vua
nhiều lắm, thì tôn sùng là phải.
Tin cuối cùng: Khổng Đức Chương
đưa thư cho người Nhật từ chối
sự làm vua nước Trung Hoa.
À, có thế chứ! Lẽ đâu cả nhà nho
bên Tàu lẫn bên An Nam đều vâng
phục cái tín điều của đức Khổng
mà một người cháu bảy mươi hai
đời của ngài lại dám trái đi?
-------------------------------------------------------------------------
[1]Chương phủ là mũ của nhà nho;
miện là mũ của vua (nguyên chú
của Phan Khôi).
[2]“đức Thái tổ bản triều”: Tác
giả viết “bản triều” vì khi viết
bài này (1938) thì ông vẫn đang
là thần dân triều Nguyễn; “đức
Thái tổ” nói ở đây là Nguyễn
Hoàng (1525-1612), được tôn xưng
là Nguyễn Thái tổ (LNÂ)
Nguồn: Đông Dương tạp chí, Hà
Nội, số 36 (20 Janvier 1938),
tr. 9-11. |