|
1. Đặt
vấn đề
Không chỉ trong quá khứ, mà cho tới
tận hôm nay, nhiều thế hệ người Việt
vẫn xăm soi từng dòng từng chữ của
kinh Thi, kinh Thư, Sử ký… mong tìm
dấu vết tổ tiên Việt. Sáu bảy trăm năm
trước, Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên viết:
“Hoàng Đế dựng muôn nước”. Nhiều người
khác cho rằng cội nguồn người Việt từ
bộ lạc Hạ của Hạ Vũ. Hôm nay lại có
người dùng thủ thuật “quay nhanh băng
vidéo” kéo các Vua Hùng về năm 330 TCN
cho vừa với Sở Việt của Khuất Nguyên,
Tây Thi…
Một ý tưởng dai dẳng suốt quá trình
dài lâu như vậy, tất có nguyên do của
nó. Chính vì đó là những thư tịch đầu
tiên, của đất nước đông dân nhất, được
coi là có lịch sử sớm nhất, lại là
“đồng chủng đồng văn” với người Việt.
Về hình thức thì vậy, còn nội dung,
dường như ai cũng thấy trong đó phảng
phất những gì gần gũi về văn hóa,
phong tục tập quán, tâm linh với người
Việt.
Tuy vậy cũng có sự thực, những thư
tịch đó chỉ là tấm chăn hẹp, dù co kéo
cách nào đi nữa, thì cũng không đắp
kín cái cơ thể lịch sử tộc Việt mà
chúng ta cảm nhận. Chính do mâu thuẫn
này, nhiều thế hệ Việt càng khắc khoải
hơn khi tìm về nguồn cội. Đồng thời
cũng có những người tìm cách nhận thức
lại giá trị thực của những cuốn sách
trên.
2. Nhận thức lại
Nhận thức của con người là một quá
trình, phụ thuộc vào tư liệu được tích
lũy và sự trưởng thành của trí tuệ.
Ngày nay, với những phát hiện mới về
sự hình thành của tộc Việt, tộc Hán,
chúng ta có đủ điều kiện nhận thức lại
giá trị đích thực của những sử liệu
trên.
Chúng ta biết rằng, khoảng 40.000 năm
trước, khi khí hậu phía Bắc được cải
thiện, người Việt cổ đã từ Việt Nam đi
lên khai phá đất Trung Hoa rồi sau đó
di cư sang châu Mỹ. Người Việt đã mang
công cụ Đá Mới rồi cây trồng và vật
nuôi lên xây dựng nền nông nghiệp trên
đất Trung Hoa. Khảo cổ học phát hiện
Hang Xianren tỉnh Giang Tây và hang
Dốc Đứng tỉnh Hồ Nam, thuộc đồng bằng
sông Dương Tử là hai địa điểm trồng
lúa cách nay 12000 năm, sớm nhất ở
Trung Quốc, cũng có nghĩa sớm nhất thế
giới, mà chủ nhân là ngưởi Việt cổ.
Đến thiên niên kỷ IV TCN, trên địa bàn
Đông Á, người Bách Việt xây dựng nền
nông nghiệp phát triển hàng đầu nhân
loại.
Khoảng 2600 năm TCN, người Mông Cổ du
mục từ Tây Bắc Trung Quốc vượt sông
Hoàng Hà vào chiếm đất của người Bách
Việt. Tại đây, kẻ xâm lăng từ bỏ lối
sống du mục, học canh tác nông nghiệp
của người bản địa để dựng nền chính
thống của nhà nước Hoàng Đế. Người du
mục Mông Cổ chiếm được đất của người
Việt vì họ là đội quân thiện chiến.
Nhưng số dân của họ ít và văn hóa chưa
phát triển. Sau một vài trăm năm sống
với lê dân – những người bản xứ chủng
Australoid da đen – họ bị người bản
địa vừa đông hơn, lại có văn hóa cao
hơn đồng hóa cả về huyết thống lẫn văn
hóa. Đến thời Đường, Ngu, trên địa bàn
Cửu Châu gần như đồng nhất một chủng
người Mongoloid phương Nam. Thực hiện
chủ trương tôn chính thống, kẻ xâm
lăng cải tiến chữ viết của người bản
địa rồi độc chiếm biến thành văn tự
Trung Hoa và cấm những loại chữ khác.
Những sách, sử như kinh Thi, Thượng
thư chỉ ghi lại những sự kiện từ thời
Đường, Ngu mà bỏ qua lịch sử của dân
bản địa. Với thời gian, phần lớn người
Việt bản địa trở thành người Hoa Hạ.
Người gốc Việt trong cộng đồng Hoa Hạ
ngưỡng vọng tổ tiên Việt của mình nên
đưa các tiền hiền như Toại Nhân, Phục
Hy, Thần Nông vào truyền thuyết. Do
lịch sử hình thành như vậy nên người
Hoa Hạ cũng nhận những vị trên là tổ
của họ.
Trong ba thư tịch đã nêu thì Sử ký do
Tư Mã Thiên viết, hai cuốn còn lại do
Khổng Tử san định. Kinh Thi rõ là được
tập hợp vào thời nhà Chu, trong đó có
thể nhiều câu lưu truyền trong dân
gian từ trước. Điều chưa rõ là Thượng
thư được viết từ bao giờ? Tôi đồ rằng,
sớm nhất cũng được viết vào giữa đời
Thương, khoảng 1000 năm sau cuộc xâm
lăng của Hoàng Đế, và 700 năm sau thời
Nghiêu. Là một nhà giáo dục, khi san
định kinh, Khổng Tử chú ý quá nhiều
vào việc truyền dạy đạo lý mà lược bỏ
nhiều sử liệu. Đấy cũng là điểm yếu
của Thượng Thư.
Trong bản kinh Thư hiện có, Thái Trầm
người đời Tống Ninh tông (1202-1225)
làm sách Tập tuyện, viết: “Đức Khổng
Phu Tử khảo luận ba sách Phần, tức Tam
Phần (sách này chép những công việc
đời Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế và
5 sách đời Thiếu Hiệu, Chuyên Húc, Cao
Tân, Đường, Ngu). Ngài ngắt lấy từ đời
Đường Ngu trở xuống, tức là tách của 4
đời Ngu, Hạ, Thương (Ân), Chu. Ngài
bớt những chỗ phiến loạn đi, nêu những
điều đại cương để làm khuôn mẫu cho
đời sau.”
Theo tôi, những lời trên chỉ đáng tin
phần nào. Ta biết rằng, xuyên suốt quá
trình dựng nền chính thống, người Hoa
Ha chỉ ghi chép sự kiện của nhà nước
Hoàng Đế. Bằng chứng là trong kinh
Thi, nghề trồng lúa ở Trung Hoa chỉ
bắt đầu khoảng 2100 TCN, muộn hơn 8000
năm so với dữ liệu khảo cố học. Điều
này là bằng chứng cho thấy không có
chuyện sách Tam phần viết về Toại
Nhân, Phục Hy, Thần Nông tổ tiên xa
xưa của người Việt bản địa.
Sự việc dường như sáng rõ hơn nhờ Mao
Tiệm khi đi sứ phía Tây, tới Đường
Châu tìm được trong dân gian “Tam phần
thư” gồm có Sơn phần, Khí phần, Hình
phần. Sơn phần là Liên Sơn Dịch của
Thiên hoàng, họ Phục Hy; Khí phần là
Quy tàng Dịch của Nhân hoàng, họ Thần
Nông; Hình phần là Kiền Khôn Dịch của
Địa hoàng họ Hoàng đế. Mỗi bộ Dịch đều
có 8 quẻ; dưới mỗi quẻ lại đều có 7
quẻ nữa, tổng cộng 8 x 8 = 64 quẻ. Như
vậy Tam phần là Dịch thời Tam Hoàng.
Chúng có những cái tên Liên Sơn, Qui
Tàng, Kiền Khôn và có 64 quẻ, gọi là:
“Quân, Thần, Dân, Vật, Âm, Dương,
Binh, Tượng; Qui, Tàng, Sinh, Động,
Trưởng, Dục, Chỉ, Sát; Thiên, Địa,
Nhật, Nguyệt, Sơn, Xuyên, Vân, Khí”
tức là Kiền, Khôn, Chấn, Tốn, Khảm,
Ly, Cấn, Đoài (1).
Từ sự kiện này, ta có thể đoán định:
Khổng Tử thấy trong Tàng thư các nhà
Chu sách Tam phần và Ngũ điển. Ông đã
san định một phần Ngũ Điển thành kinh
Thư. Còn Tam phần thì bỏ vì trước ông
500 năm, Văn Vương đã san định thành
Dịch. Như vậy là Tam phần chỉ là sách
bói truyền từ thờì Tam Hoàng chứ không
phải sách ghi sự việc như Ngũ điển.
Cũng có nghĩa là, không hề có cuốn sử
về các thời Phục Hy, Thần Nông. Ngay
sử của thời Hoàng Đế cũng không được
ghi chép. Sau này ta chỉ biết những
thời đại trên qua truyền thuyết như
Toại Nhân làm ra lửa, Phục Hy làm
Dịch, Thần Nông dạy trồng lúa. Nhưng
những huyền thoại như vậy không phản
ánh sự thật, mà là dân gian quy những
công trạng của quá khứ xa xăm cho vị
tổ gần nhất của mình. Rõ ràng không
phải lửa được phát hiện khoảng 3000
năm TCN và lúa được trồng tử trước
thời Thần Nông rất xa...
3. Kết luận
Từ phân tích trên, ta có thể kết luận:
Thi, Thư cũng như Sử lý là những cuốn
lịch sử sớm nhất của dân tộc Trung
Hoa. Dân tộc Trung Hoa sinh sau tộc
Việt nhiều vạn năm nên không thể tìm
trong lịch sử của họ nguồn gốc dân tộc
Việt. Thực tế cho thấy, qua nhị thập
tứ sử, tức 24 cuốn sử, người Trung Hoa
cũng chưa biết đích xác nguồn cội tổ
tiên họ là ai. Vì vậy ý định tìm tổ
tiên Việt qua sử Trung Hoa chỉ là
hoang tưởng.
Tuy nhiên, do lịch sử được hình thành
như vậy nên, về mặt khách quan, những
thư tịch kể trên lưu lại những dấu
tích cho thấy thân phận của người Việt
dưới danh xưng rợ Tam Miêu, Đông Di,
Nam Man… Mặt khác, trong quá trình
hinh thành dân tộc Trung Hoa, một bộ
phận quan trọng người Việt đã hóa Hán
và đóng góp văn hóa Việt trong việc
hình thành văn minh Trung Quốc mà bộ
lạc Hạ là thí dụ tiêu biểu. Vì vậy,
những con mắt xanh có thể tìm ra những
hồi quang văn hóa Việt trong văn minh
Trung Quốc qua những thư tịch trên như
cách ứng xử nhân, nghĩa của vua
Nghiêu, Thuấn, Vũ; tinh thần của Việt
tộc nông nghiệp trong kinh Thi. Ta có
thể nhận ra những mảnh vụn của nước
Xich Quỷ của Việt tộc xưa qua những
dòng về nước Sở, Việt với Khuất
Nguyên, Ly Tao trong Sử ký.
1. Lý Quá: Tây Khê Dịch thuyết. Tứ khố
toàn thư trân bản. Thương vụ ấn quán,
Thượng Hải, bài tựa, quyển 1, trang
5,6,7. Dẫn theo Nguyễn Hữu Lương- Kinh
Dịch với vũ trụ quan phương Đông. Sài
Gòn 1971, trang 107. |