Thoi-Nay - Giai Tri va Doi Song

Trang chính
Tài liệu và biên khảo

Mục lục

Nhật Bản:

Do Thái:

TL&BK:

Tài liệu và biên khảo- Phụ trách TN. 7/2009.  

Nhận thức lại cổ thư Trung Hoa

(Hà Văn Thùy)

 

1. Đặt vấn đề

Không chỉ trong quá khứ, mà cho tới tận hôm nay, nhiều thế hệ người Việt vẫn xăm soi từng dòng từng chữ của kinh Thi, kinh Thư, Sử ký… mong tìm dấu vết tổ tiên Việt. Sáu bảy trăm năm trước, Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên viết: “Hoàng Đế dựng muôn nước”. Nhiều người khác cho rằng cội nguồn người Việt từ bộ lạc Hạ của Hạ Vũ. Hôm nay lại có người dùng thủ thuật “quay nhanh băng vidéo” kéo các Vua Hùng về năm 330 TCN cho vừa với Sở Việt của Khuất Nguyên, Tây Thi…

Một ý tưởng dai dẳng suốt quá trình dài lâu như vậy, tất có nguyên do của nó. Chính vì đó là những thư tịch đầu tiên, của đất nước đông dân nhất, được coi là có lịch sử sớm nhất, lại là “đồng chủng đồng văn” với người Việt. Về hình thức thì vậy, còn nội dung, dường như ai cũng thấy trong đó phảng phất những gì gần gũi về văn hóa, phong tục tập quán, tâm linh với người Việt.

Tuy vậy cũng có sự thực, những thư tịch đó chỉ là tấm chăn hẹp, dù co kéo cách nào đi nữa, thì cũng không đắp kín cái cơ thể lịch sử tộc Việt mà chúng ta cảm nhận. Chính do mâu thuẫn này, nhiều thế hệ Việt càng khắc khoải hơn khi tìm về nguồn cội. Đồng thời cũng có những người tìm cách nhận thức lại giá trị thực của những cuốn sách trên.



2. Nhận thức lại

Nhận thức của con người là một quá trình, phụ thuộc vào tư liệu được tích lũy và sự trưởng thành của trí tuệ. Ngày nay, với những phát hiện mới về sự hình thành của tộc Việt, tộc Hán, chúng ta có đủ điều kiện nhận thức lại giá trị đích thực của những sử liệu trên.



Chúng ta biết rằng, khoảng 40.000 năm trước, khi khí hậu phía Bắc được cải thiện, người Việt cổ đã từ Việt Nam đi lên khai phá đất Trung Hoa rồi sau đó di cư sang châu Mỹ. Người Việt đã mang công cụ Đá Mới rồi cây trồng và vật nuôi lên xây dựng nền nông nghiệp trên đất Trung Hoa. Khảo cổ học phát hiện Hang Xianren tỉnh Giang Tây và hang Dốc Đứng tỉnh Hồ Nam, thuộc đồng bằng sông Dương Tử là hai địa điểm trồng lúa cách nay 12000 năm, sớm nhất ở Trung Quốc, cũng có nghĩa sớm nhất thế giới, mà chủ nhân là ngưởi Việt cổ. Đến thiên niên kỷ IV TCN, trên địa bàn Đông Á, người Bách Việt xây dựng nền nông nghiệp phát triển hàng đầu nhân loại.

Khoảng 2600 năm TCN, người Mông Cổ du mục từ Tây Bắc Trung Quốc vượt sông Hoàng Hà vào chiếm đất của người Bách Việt. Tại đây, kẻ xâm lăng từ bỏ lối sống du mục, học canh tác nông nghiệp của người bản địa để dựng nền chính thống của nhà nước Hoàng Đế. Người du mục Mông Cổ chiếm được đất của người Việt vì họ là đội quân thiện chiến. Nhưng số dân của họ ít và văn hóa chưa phát triển. Sau một vài trăm năm sống với lê dân – những người bản xứ chủng Australoid da đen – họ bị người bản địa vừa đông hơn, lại có văn hóa cao hơn đồng hóa cả về huyết thống lẫn văn hóa. Đến thời Đường, Ngu, trên địa bàn Cửu Châu gần như đồng nhất một chủng người Mongoloid phương Nam. Thực hiện chủ trương tôn chính thống, kẻ xâm lăng cải tiến chữ viết của người bản địa rồi độc chiếm biến thành văn tự Trung Hoa và cấm những loại chữ khác. Những sách, sử như kinh Thi, Thượng thư chỉ ghi lại những sự kiện từ thời Đường, Ngu mà bỏ qua lịch sử của dân bản địa. Với thời gian, phần lớn người Việt bản địa trở thành người Hoa Hạ. Người gốc Việt trong cộng đồng Hoa Hạ ngưỡng vọng tổ tiên Việt của mình nên đưa các tiền hiền như Toại Nhân, Phục Hy, Thần Nông vào truyền thuyết. Do lịch sử hình thành như vậy nên người Hoa Hạ cũng nhận những vị trên là tổ của họ.

Trong ba thư tịch đã nêu thì Sử ký do Tư Mã Thiên viết, hai cuốn còn lại do Khổng Tử san định. Kinh Thi rõ là được tập hợp vào thời nhà Chu, trong đó có thể nhiều câu lưu truyền trong dân gian từ trước. Điều chưa rõ là Thượng thư được viết từ bao giờ? Tôi đồ rằng, sớm nhất cũng được viết vào giữa đời Thương, khoảng 1000 năm sau cuộc xâm lăng của Hoàng Đế, và 700 năm sau thời Nghiêu. Là một nhà giáo dục, khi san định kinh, Khổng Tử chú ý quá nhiều vào việc truyền dạy đạo lý mà lược bỏ nhiều sử liệu. Đấy cũng là điểm yếu của Thượng Thư.

Trong bản kinh Thư hiện có, Thái Trầm người đời Tống Ninh tông (1202-1225) làm sách Tập tuyện, viết: “Đức Khổng Phu Tử khảo luận ba sách Phần, tức Tam Phần (sách này chép những công việc đời Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế và 5 sách đời Thiếu Hiệu, Chuyên Húc, Cao Tân, Đường, Ngu). Ngài ngắt lấy từ đời Đường Ngu trở xuống, tức là tách của 4 đời Ngu, Hạ, Thương (Ân), Chu. Ngài bớt những chỗ phiến loạn đi, nêu những điều đại cương để làm khuôn mẫu cho đời sau.”

Theo tôi, những lời trên chỉ đáng tin phần nào. Ta biết rằng, xuyên suốt quá trình dựng nền chính thống, người Hoa Ha chỉ ghi chép sự kiện của nhà nước Hoàng Đế. Bằng chứng là trong kinh Thi, nghề trồng lúa ở Trung Hoa chỉ bắt đầu khoảng 2100 TCN, muộn hơn 8000 năm so với dữ liệu khảo cố học. Điều này là bằng chứng cho thấy không có chuyện sách Tam phần viết về Toại Nhân, Phục Hy, Thần Nông tổ tiên xa xưa của người Việt bản địa.

Sự việc dường như sáng rõ hơn nhờ Mao Tiệm khi đi sứ phía Tây, tới Đường Châu tìm được trong dân gian “Tam phần thư” gồm có Sơn phần, Khí phần, Hình phần. Sơn phần là Liên Sơn Dịch của Thiên hoàng, họ Phục Hy; Khí phần là Quy tàng Dịch của Nhân hoàng, họ Thần Nông; Hình phần là Kiền Khôn Dịch của Địa hoàng họ Hoàng đế. Mỗi bộ Dịch đều có 8 quẻ; dưới mỗi quẻ lại đều có 7 quẻ nữa, tổng cộng 8 x 8 = 64 quẻ. Như vậy Tam phần là Dịch thời Tam Hoàng. Chúng có những cái tên Liên Sơn, Qui Tàng, Kiền Khôn và có 64 quẻ, gọi là: “Quân, Thần, Dân, Vật, Âm, Dương, Binh, Tượng; Qui, Tàng, Sinh, Động, Trưởng, Dục, Chỉ, Sát; Thiên, Địa, Nhật, Nguyệt, Sơn, Xuyên, Vân, Khí” tức là Kiền, Khôn, Chấn, Tốn, Khảm, Ly, Cấn, Đoài (1).

Từ sự kiện này, ta có thể đoán định: Khổng Tử thấy trong Tàng thư các nhà Chu sách Tam phần và Ngũ điển. Ông đã san định một phần Ngũ Điển thành kinh Thư. Còn Tam phần thì bỏ vì trước ông 500 năm, Văn Vương đã san định thành Dịch. Như vậy là Tam phần chỉ là sách bói truyền từ thờì Tam Hoàng chứ không phải sách ghi sự việc như Ngũ điển. Cũng có nghĩa là, không hề có cuốn sử về các thời Phục Hy, Thần Nông. Ngay sử của thời Hoàng Đế cũng không được ghi chép. Sau này ta chỉ biết những thời đại trên qua truyền thuyết như Toại Nhân làm ra lửa, Phục Hy làm Dịch, Thần Nông dạy trồng lúa. Nhưng những huyền thoại như vậy không phản ánh sự thật, mà là dân gian quy những công trạng của quá khứ xa xăm cho vị tổ gần nhất của mình. Rõ ràng không phải lửa được phát hiện khoảng 3000 năm TCN và lúa được trồng tử trước thời Thần Nông rất xa...



3. Kết luận

Từ phân tích trên, ta có thể kết luận: Thi, Thư cũng như Sử lý là những cuốn lịch sử sớm nhất của dân tộc Trung Hoa. Dân tộc Trung Hoa sinh sau tộc Việt nhiều vạn năm nên không thể tìm trong lịch sử của họ nguồn gốc dân tộc Việt. Thực tế cho thấy, qua nhị thập tứ sử, tức 24 cuốn sử, người Trung Hoa cũng chưa biết đích xác nguồn cội tổ tiên họ là ai. Vì vậy ý định tìm tổ tiên Việt qua sử Trung Hoa chỉ là hoang tưởng.

Tuy nhiên, do lịch sử được hình thành như vậy nên, về mặt khách quan, những thư tịch kể trên lưu lại những dấu tích cho thấy thân phận của người Việt dưới danh xưng rợ Tam Miêu, Đông Di, Nam Man… Mặt khác, trong quá trình hinh thành dân tộc Trung Hoa, một bộ phận quan trọng người Việt đã hóa Hán và đóng góp văn hóa Việt trong việc hình thành văn minh Trung Quốc mà bộ lạc Hạ là thí dụ tiêu biểu. Vì vậy, những con mắt xanh có thể tìm ra những hồi quang văn hóa Việt trong văn minh Trung Quốc qua những thư tịch trên như cách ứng xử nhân, nghĩa của vua Nghiêu, Thuấn, Vũ; tinh thần của Việt tộc nông nghiệp trong kinh Thi. Ta có thể nhận ra những mảnh vụn của nước Xich Quỷ của Việt tộc xưa qua những dòng về nước Sở, Việt với Khuất Nguyên, Ly Tao trong Sử ký.



1. Lý Quá: Tây Khê Dịch thuyết. Tứ khố toàn thư trân bản. Thương vụ ấn quán, Thượng Hải, bài tựa, quyển 1, trang 5,6,7. Dẫn theo Nguyễn Hữu Lương- Kinh Dịch với vũ trụ quan phương Đông. Sài Gòn 1971, trang 107.

 
 
    Thoi Nay Montreal - Giai Tri va Doi Song

Mục lục

Thời Hùng Vương:

Ôn cố tri tân:

TL&BK:

   
 

Copyright © 2011 | TN InfoWay