Trong tượng
trưng, số không chỉ là biểu
hiện của lượng, mà còn là
những ý lực; mỗi số có một đặc
tính riêng.
Những con số thực thụ, như
thế, chỉ là lớp vỏ áo khoác
ngoài. Mọi con số đều phái
sinh từ số 1 (tương đương với
điểm không của độ lớn vốn
không biểu lộ trong huyền bí
học). Con số càng xa với đơn
vị (tức số 1) thì càng chuyển
nhập vào vật chất, vào tiến
trình xoắn ốc, vào “thế gian”.
Mười con số đầu trong hệ thống
Hi Lạp (hoặc 12 con số đầu
trong hệ thống Đông phương)
liên quan đến tâm linh: chúng
là những thực thể, nguyên mẫu
(archetypes) và tượng trưng.
Những số còn lại là sản phẩm
kết hợp của những con số cơ
bản này
[1] . Người Hi
Lạp thời cổ đại rất quan tâm
tới ý nghĩa tượng trưng của
những con số. Pythagoras,
chẳng hạn, nhận xét rằng: “Vạn
vật đều được xếp đặt theo số”.
Plato coi số như là yếu tính
của hài hoà, và hài hoà là nền
tảng của vũ trụ cũng như của
con người và xác nhận rằng
những vận động của hài hoà
“thuộc cùng loại với những
xoay vần đều đặn của linh hồn
chúng ta”
[2] .
Triết học về số được phát
triển thêm bởi những người Do
Thái, những người phái Ngộ đạo
(Gnosticism), và những người
phái thần bí thuật số Kabbala
rồi truyền sang cả khoa luyện
đan (alchemy). Cũng những khái
niệm đại đồng cơ bản như thế
được thấy trong tư tưởng
phương Đông – như Lão Tử,
chẳng hạn: “Đạo sinh nhất,
nhất sinh nhị, nhị sinh tam,
tam sinh vạn vật. Vạn vật phụ
âm nhi bão dương, trùng khí dĩ
vi hoà”. (Đạo sinh 1; 1
sinh 2; 2 sinh 3; 3 sinh vạn
vật. Vạn vật cõng âm, ôm
dương, điều hoà bằng trùng
khí). [Đạo đức kinh,
thiên 32] và từ bộ ba 1, 2, 3
thành hợp nhất (tức số 1) –
thống nhất mới hay trật tự
mới, đó là số 4 (Maria
Prophetissa)
[3] .
Luận lí tượng trưng và lí
thuyết về tập nhóm quay trở
lại ý tưởng về lượng là nền
tảng của phẩm. Nhà ngôn ngữ
học Charles S. Peirce gợi ý
rằng những luật tắc của tự
nhiên và của tinh thần con
người đều dựa trên cùng những
nguyên lí như nhau, và rằng
chúng ta có thể được thứ tự
theo cùng những tuyến này
[4] .
Ngoài những tượng trưng căn
bản về nhất nguyên (số 1) và
bội số (số nhiều hơn 1), còn
có một sự tượng trưng tổng
quát khác gắn với số chẵn
(hoặc ngẫu số, biểu lộ
nguyên lí Âm tiêu cực và thụ
động) và số lẻ (hoặc cơ số,
biểu lộ nguyên lí Dương tích
cực và hoạt động).
Thêm nữa, những chuỗi số có
một tính năng động tượng trưng
mà thiết yếu không thể không
chú ý. Ý tưởng rằng 1 sinh 2
và 2 tạo 3 được thiết lập trên
tiền đề là mọi thực thể có
khuynh hướng vượt qua những
giới hạn của nó hoặc tự đối
đầu với cái tương phản. Hễ có
2 thành tố thì thành tố thứ 3
xuất hiện như là sự kết hợp
của hai thành tố đầu tiên, đến
luợt số thứ 3 lại làm nẩy sinh
số thứ 4 như là sự móc nối
giữa 3 thành tố đầu tiên, rồi
cứ thế tiếp tục
[5] . Kế tiếp
sau nhất nguyên (số 1) và
lưỡng nguyên (cặp đôi, tức bộ
2, biểu lộ tranh chấp, hồi
thanh, và sự nhân đôi nguyên
thủy) là bộ 3 và bộ 4 là những
kết nhóm chính; tổng số của bộ
3 và bộ 4 là bộ 7; bộ 3 và bộ
4 nhân với nhau cho tích số là
bộ 12.
Số 3 là phái sinh trực tiếp
hơn của số 7 (vì cả hai đều là
số lẻ) và số 4 có tương quan
mật thiết hơn với số 12 (cả
hai đều là số chẵn).
Sự tượng trưng thông thường là
như sau:
-
Bộ 3 đại diện
cho trật tự trí tuệ hoặc tâm
linh;
-
Bộ 4 đại diện
cho trật tự trần gian;
-
Bộ 7 đại diện
cho trật tự hành tinh [trong
hệ mặt trời] và đạo đức;
-
Bộ 12 đại
diện cho trật tự đại đồng vũ
trụ.
Sau đây là
những ý nghĩa tượng trưng
thường được chấp nhận một cách
phổ biến nhất cho mỗi con số,
chúng sẽ dùng làm cơ sở cho
một bản tóm lược về lí thuyết
tâm lí về những con số của
[nhà tâm lí] Ludwig Paneth.
Số không (0): Không
hiện hữu/hư vô, liên hệ một
cách huyền bí với nhất nguyên
(số 1) như là sự đối lập và
phản ánh của số 1; nó tượng
trưng cho cái ẩn tàng, tiềm
năng và là “Quả trứng của
Orpheus”. Từ quan điểm của con
người trong hiện hữu nó tượng
trưng cái chết như là trạng
thái trong đó những sinh lực
được biến cải
[6] . Bởi dạng
vòng tròn của nó, nó biểu thị
sự vĩnh hằng.
Số 1: Tượng trưng cho
hữu thể
[7] và cho sự
vén mở cho con người về yếu
tính tâm linh. Nó là nguyên lí
hoạt động, khi vỡ thành phần
mảnh, làm nẩy sinh bội số
[8] , và được
đồng nhất với Trung tâm huyền
học
[9] , Điểm Bức
xạ và Quyền năng Tối thượng
[10] . Nó cũng
đại diện cho sự nhất nguyên
tâm linh – là nền tảng chung
giữa vạn vật
[11] . René
Guénon phân biệt giữa nhất
nguyên và số 1 theo cách của
những nhà tư tưởng huyền học
Islam: nhất nguyên khác biệt
với số 1 ở chỗ nó tuyệt đối và
tròn vẹn tự thân, không chấp
nhận số 2, cũng như không chấp
nhận nhị nguyên. Bởi vậy, nhất
nguyên là tượng trưng của thần
tính
[12] , số 1
cũng đồng đẳng với ánh sáng
[13] .
Số 2: Đại diện cho hồi
thanh, phản ánh, tranh chấp và
đối trọng hoặc nghịch vị; hoặc
sự tịch lặng nhất thời của của
các lực lượng trong thế cân
bằng; nó cũng tương ứng với sự
trôi chảy của thời gian – cái
tuyến đi từ sau ra trước
[14] ; nó được
biểu lộ trong hình học bằng
hai điểm, hai đường hoặc một
góc
[15] . Nó cũng
tượng trưng cho hạt nhân đầu
tiên của vật chất, của tự
nhiên trong đối lập với tạo
hoá, của mặt trăng đối với mặt
trời
[16] . Trong
toàn thể tư tưởng bí truyền
(esoteric), số 2 được xem là
điểm gở
[17] : nó hàm
nghĩa cái bóng
[18] và sự
lưỡng giới tính của vạn vật,
hoặc nhị nguyên (đại diện bởi
huyền thoại căn bản về cặp
Gemini, tức Song nam) trong
cái nghĩa của móc khoen nối
kết giữa cái bất tử và cái tử
vong, hoặc cái bất biến thiên
và cái biến thiên
[19] . Trong sự
tượng trưng huyền học về phong
cảnh trong văn hoá cự thạch,
số 2 thì liên lạc với hòn núi
dạng mandorla [tức dạng hình
hạnh nhân hợp bởi phần chung
của hai vòng tròn giao nhau],
tiêu điểm của sự Nghịch đảo
tượng trưng, hình thành cái lò
cừ nung nấu sự đời (the
crucible of life) và gồm hai
cực đối lập của thiện và ác,
sống và chết
[20] . Vậy nên,
số 2 là số liên lạc với Magna
Mater tức Mẹ Cả
[21] .
Số 3: Tượng trưng cho
sự tổng hợp tâm linh và là
công thức cho sự sáng tạo của
mỗi thế giới. Nó đại diện cho
giải pháp của cuộc tranh chấp
đặt để bởi nhị nguyên
[22] . Nó hình
thành một vành bán nguyệt gồm:
sinh ra, thiên đỉnh, và hạ
giáng
[23] . Về mặt
hình học, số 3 được biểu lộ
bằng 3 điểm và hình tam giác
[24] . Nó là
tổng số hài hoà của sự tác
động từ nhất nguyên lên lưỡng
nguyên
[25] . Nó là
con số liên quan với những
nguyên lí cơ bản
[26] ; và biểu
lộ sự đầy đủ, hoặc tăng trưởng
của nhất nguyên trong tự thân
[27] . Sau hết,
nó liên lạc với những khái
niệm về cõi trời
[28] và Ba
Ngôi.
Số 4: Tượng trưng cho
trái đất, cho không gian địa
cầu, cho thân phận con người,
cho những giới hạn bên ngoài
và tự nhiên của nhận thức “tối
thiểu” về toàn thể tính và sau
hết, về tổ chức thuần lí. Nó
đồng đẳng với hình vuông, hình
lập phương và chữ thập, đại
diện cho bốn mùa và các phương
địa bàn. Một số lớn các hình
thức vật chất và tâm linh được
mô thức theo bộ 4
[29] . Nó là số
liên lạc với sự thành đạt hữu
hình
[30] và với
những Nguyên tố
[31] . Trong tư
tưởng huyền học, nó đại diện
cho Tứ tượng (tetramorphs).
Số 5: Tượng trưng cho
Con người, sức khoẻ, tình
thương yêu và sự tác động của
tinh thể lên vật chất. Nó gồm
tứ chi của thân thể cộng thêm
cái đầu kiểm soát chúng, và
cũng thế, 4 ngón tay thêm ngón
cái
[32] , và 4
phương địa lí với trung tâm
[33] . Hôn lễ
thiêng liêng (hieros gamos)
được biểu thị bằng số 5 bởi nó
đại diện cho sự hợp nhất của
hai nguyên lí trời (số 3 của
tham thiên tức tam thiên) với
số của Mẹ Cả (số 2 của lưỡng
địa). Về hình học, nó là ngôi
sao 5 cánh (pentagram)
[34] . Nó tương
ứng với sự đối xứng ngũ giác,
một đặc tính thông thường của
thiên nhiên hữu cơ, với tỉ lệ
vàng (như phái Pythagoras ghi
nhận)
[35] , và với 5
giác quan
[36] đại diện
cho 5 “mô thức” của vật chất.
Số 6: Tượng trưng cho
thế lưỡng lự và quân bình, số
6 gồm sự hợp nhất của hai tam
giác (của lửa và nước) và do
đó, biểu thị linh hồn con
người. Người Hi Lạp cổ đại xem
nó như một tượng trưng cho
người lưỡng tính
(hermaphrodite)
[37] . Nó tương
ứng với 6 hướng của không gian
(2 hướng cho mỗi chiều kích)
[38] , và với
sự ngưng bặt của vận động (bởi
sự Sáng tạo [theo Kinh thánh
Do Thái giáo và sau là cả Kitô
giáo] chiếm 6 ngày). Do đó, nó
liên lạc với thử thách và cố
gắng
[39] . Nó cũng
được vạch ra là có liên quan
tới sự trinh tiết
[40] , và với
hai đĩa cân.
Số 7: Tượng trưng cho
trật tự toàn hảo, một thời kì
trọn vẹn hoặc còn gọi là chu
kì. Nó gồm sự hợp nhất của bộ
3 và bộ 4 và do đó, được phú
cho giá trị ngoại hạng
[41] . Nó tương
ứng với 7 hướng của không gian
(tức là 6 chiều kích sinh tồn
cộng thêm trung tâm)
[42] , với ngôi
sao 7 cánh, với sự hoà giải
của hình vuông với hình tam
giác bằng cách đặt hình sau
lên hình trước (như bầu trời
cách trên trái đất) hoặc bằng
cách nội tiếp. Nó là con số
hình thành chuỗi cơ bản của
cung điệu âm nhạc, của các màu
sắc, và của các hành tinh
[43] , cũng như
của các thần linh tương ứng
với các hành tinh ấy; và cũng
là của 7 mối tội đầu và những
đức tính tương phản
[44] . Nó cũng
tương ứng với thập tự 3 chiều
kích
[45] và sau
hết, nó là biểu tượng của đau
khổ
[46] .
Số 8: Bộ 8, liên hệ tới
hai hình vuông hoặc hình bát
giác
[47] là dạng
thức trung gian giữa hình
vuông (hoặc trật tự trần gian)
và vòng tròn (trật tự vĩnh
hằng), và do đó, là một biểu
tượng của tái tạo. Nhờ hình
dạng của nó, con số 8 liên lạc
với hai con rắn quấn nhau trên
cây gậy của thầy thuốc
(caduceus), biểu thị sự cân
phân giữa các lực đối nghịch
hoặc sự bình giá của quyền
năng tâm linh với quyền năng
tự nhiên
[48] . Cũng nhờ
hình dạng, nó còn tượng trưng
cho vận động xoáy ốc vĩnh hằng
của các tầng trời (cũng phô
bày bằng đường sigma kép gồm
hai chữ S – kí hiệu của vô
hạn)
[49] . Bởi mang
những hàm nghĩa về sự tái tạo,
số 8 trong thời Trung cổ còn
là một huy hiệu của nước rửa
tội. Hơn nữa, trong sáng tạo
vũ trụ huyền học thời Trung
cổ, nó tương ứng với những vì
sao cố định của vòm trời, biểu
thị những ảnh hưởng của hành
tinh đã bị thắng vượt.
Số 9: Tam giác của bộ 3
và sự nhân 3 của số 3. Do đó,
nó là hình ảnh trọn vẹn của 3
thế giới. Nó là giới hạn chung
cuộc của chuỗi số trước khi nó
trở lại với nhất nguyên
[50] . Đối với
người Do-thái cổ đại, nó là
biểu tượng của chân lí, đặc
trưng bởi sự kiện là khi nhân
lên, nó tái tạo tự thân (trong
phép cộng huyền học) [9x2=18,
mà 1+8=9; 9x3=27, mà 2+7=9,
v.v...]
[51] . Trong
những nghi thức bào chế, nó là
con số tượng trưng tót vời vì
nó đại diện cho sự tổng hợp
tam trùng, nghĩa là, sự bố trí
trên mỗi bình diện của thân
thể, cõi trí tuệ, và cõi tâm
linh
[52] .
Số 10: Trong các hệ
thống thập phân, số 10 tượng
trưng cho sự trở về với nhất
nguyên. Trong Tam giác điểm 4
hàng Tetractys (mà tam
giác gồm các điểm – 4, 3, 2, 1
– có tổng số là 10), số 10 có
liên lạc với số 4. Nó cũng
tượng trưng cho sự thành đạt
tâm linh cũng như cho sự thống
nhất trong chức năng như một
số chẵn (hoặc lưỡng lự) hoặc
như khởi đầu của một chuỗi mới
đa bội
[53] . Theo một
số lí thuyết, số 10 tượng
trưng cho tính toàn thể của vũ
trụ . cả siêu hình và vật chất
– bởi nó nâng vạn vật đến nhất
nguyên
[54] . Từ tư
tưởng Đông phương cổ đại, qua
trường phái Pythagoras và cho
suốt đến Thánh Jerome, nó được
biết như con số của sự hoàn
hảo
[55] .
Số 11: Tượng trưng cho
sự chuyển tiếp, quá độ và hiểm
nguy, đồng thời cho sự tranh
chấp và tuẫn đạo
[56] . Theo
Schneider, nó mang một tính
chất địa ngục do nó vượt quá
con số của sự hoàn hảo – là số
10 – vì vậy, nó đại diện cho
sự bất khả tiết chế
[57] ; nhưng
đồng thời, nó cũng tương ứng,
giống như số 2, với ngọn núi
hình quả trám (mandorla), với
tiêu điểm của sự Nghịch đảo
tượng trưng và phản đề bởi nó
hình thành bằng một thêm một
(theo một cung cách có thể so
sánh với số 2)
[58] .
Số 12: Tượng trưng cho
trật tự vũ trụ và sự cứu rỗi.
Nó tương ứng với những kí hiệu
của vòng Hoàng đạo (zodiac) và
là nền tảng của mọi nhóm bộ
12. Kết nối với nó là những
khái niệm về không gian và
thời gian, và bánh xe hoặc
vòng tròn.
Số 13: Tượng trưng cho
sự chết đi và sinh ra, cho sự
khởi đầu mới lại. Do đó, nó có
những hàm nghĩa bất thuận lợi.
Số 14: Đại diện cho sự
hỗn hợp và tổ chức
[59] và cũng
cho công lí và sự điều độ
[60] .
Số 15: Mang chất hoa
tình rõ rệt và được liên kết
với ác quỷ.
Những số khác: Mỗi số
trong các số từ 16 đến 22 có
liên hệ với quân bài tương ứng
trong cỗ bài Tarot và đôi khi
ý nghĩa được phái sinh từ sự
hỗn hợp của những biểu tượng
của những đơn vị cấu thành nó.
Có hai cách theo đó sự hỗn hợp
này có thể xảy ra: hoặc là
bằng phép cộng huyền học (thí
dụ: 374=3+7+4=14=1+4=5); hoặc
bằng sự kế tục - trong những
trường hợp đó, con số bên phía
tay phải biểu lộ kết cục của
một tình huống biểu thị bằng
con số bên phía tay trái (vậy
nên, số 21 biểu lộ sự giảm trừ
của một cuộc tranh chấp – số 2
– thành sự giải quyết nó – số
1). Những con số này cũng sở
hữu những ý nghĩa nhất định
rút ra từ những nguồn gốc
truyền thống và xa vời với sự
tượng trưng nội tại: chẳng
hạn, số 24 là con số thiêng
liêng trong trường phái
Samkhya (Số luận) của triết
học Ấn Độ cổ đại và số 50 rất
thông dụng trong thần thoại Hi
Lạp – có 50 nàng tiên nữ
Danaides, 50 thủy thủ
Argonauts, 50 con trai của
Priam và của Aegyptus, chẳng
hạn – như, chúng ta hẳn gợi ý,
một biểu tượng của phẩm chất
mạnh mẽ về hoa tình và nhân
tính rất tiêu biểu của những
huyền thoại Hi-lạp. Sự lặp lại
một số cho sẵn nhấn mạnh sức
mạnh về lượng của nó nhưng lại
khấu trừ phẩm giá tâm linh của
nó. Vậy nên số 666, chẳng hạn,
là con số của Con Thú [Satan]
bởi số 6 được xem như thua số
7
[61] . Khi một
bội số có thể hàm chứa một số
loại ý nghĩa tượng trưng nào
đó, tính tượng trưng của con
số đó cũng được phong phú và
củng cố theo. Ví dụ, số 144
được coi là rất thuận lợi bởi
tổng số của các con số là 9
(1+4+4) và bởi nó gồm bội số
của 10 và 4 thêm chính bộ 4 tự
thân nữa
[62] . Dante,
trong tập Divina Comedia
(Thần khúc) đã thường
xuyên nhờ cậy đến sự tượng
trưng của các con số
[63] .
Tác phẩm của Ludwig Paneth về
những con số không liên quan
nhiều đến thực chất sự tượng
trưng, đúng hơn, nó bận tâm
đến sự thông giải hợp quy về
các con số theo quan điểm của
nhà tâm lí học khi chúng xuất
hiện trong những ám ảnh và
những giấc mơ của con người
bình thường. Sau đây là những
kết luận của ông:
Số 1: Hiếm khi xuất
hiện nhưng nơi nào có nó xảy
ra thì nó bóng gió gợi đến
trạng thái thiên đàng trước
khi có thiện và ác – có nghĩa
là trước khi có sự nhị nguyên.
Số 2: Biểu thị sự đối
trọng hoặc kinh nghiệm của con
người về sự sinh tồn riêng rẽ,
với những vấn đề đi kèm, sự
phân tích không thể tránh,
phân chia, tan rã bên trong và
tranh đấu.
Số 3: Đại diện cho sự
tổng hợp sinh học, sinh nở, và
giải quyết một cuộc tranh
chấp.
Số 4: Như một loại phân
chia kép (2 và 2), không còn
biểu thị sự li khai (như số 2)
mà là sự sắp xếp trật tự những
gì đã chia lìa. Do đó, nó là
một tượng trưng của trật tự
trong không gian và, bằng cách
loại suy, của mọi cấu trúc có
trật tự cao độ khác. Như thi
sĩ Hi Lạp Simonides nhận xét:
“Thật khó làm một người cao
cả; hình vuông bốn góc bằng
hai bàn tay, hai bàn chân và
tâm linh, hình thành một toàn
thể hoàn hảo”.
Số 5: Là một số thường
xảy ra trong cõi tự nhiên linh
giác và do đó, sự tăng trưởng
vinh quang của nó tương ứng
với sự đâm chồi nảy lộc mùa
xuân. Nó biểu thị sự tràn trề
hữu cơ của đời sống đối lập
với sự cứng ngắc của cái chết.
Cũng có một cảm thức hoa tình
với nó nữa.
Số 6: Giống như số 2,
là một số hàm hồ theo một cách
riêng: nó biểu lộ sự nhị
nguyên (2x3 hoặc 3x2). Tuy
nhiên, nó giống như số 4 ở chỗ
nó có một giá trị quy phạm như
thể đối lập với những khuynh
hướng giải phóng của số 5 và
tính chất huyền bí (hoặc tranh
chấp) của số 7.
Số 7: Giống như mọi số
nguyên tố, là một dữ kiện
không thể giảm trừ và là một
biểu lộ của sự tranh chấp hoặc
của một nhất nguyên phức tạp
(số nguyên tố càng cao thì sự
phức tạp càng lớn). Đôi khi nó
liên lạc với mặt trăng (vì
7x4=28 ngày của tháng trăng).
Số 10:
Trong dạng chữ số là 10, đôi
khi được dùng để biểu lộ hôn
nhân.
Số 0: Là số nhân thập
phân, nâng sức mạnh về lượng
của một tượng trưng về số. Một
số gồm những số không lặp lại
chỉ ra một sự say mê những
điều vĩ đại.
Những đặc tính tống quát
của số: Paneth vạch ra một
sự phân biệt giữa con số số
học và con số tượng trưng. Con
số số học xác định một đối
tượng bằng số lượng của nó
nhưng không nói gì về bản chất
của nó, trong khi đó, con số
tượng trưng biểu lộ một nối
kết bên trong với đối tượng nó
xác định nhờ một mối tương
quan huyền bí giữa cái được
nêu số và chính tự thân số đó.
Trong số học, việc cộng 1+1+1
cho ta số 3, nhưng không phải
tam nhất nguyên (triunity);
trong tượng trưng, con số 1
thứ nhì và con số 1 thứ ba là
khác biệt cách nội tại với con
số 1 thứ nhất bởi chúng luôn
có công năng bên trong những
trật tự bộ 3 vốn thiết định
hạn từ thứ nhất như một thành
tố hoạt động, thành tố thứ nhì
như thụ động và thành tố thứ
ba như trung tính hoặc hậu
quả.
Aristotle nói về “cấu trúc
phẩm tính” của những con số
như đối lập với tính chất vô
định hình của nhất nguyên số
học. Còn về những con số cao
hơn, Paneth bàn như thế này:
“Việc nhân một con số đơn giản
chỉ làm tăng sức mạnh của nó
như 25 và 15 đều là những
tượng trưng của chất hoa tình.
Những số gồm hai chữ số biểu
lộ một tương quan hỗ tương
giữa những chữ số cá biệt (đọc
từ trái sang phải). Thí dụ, 23
= 2 (tranh chấp) và 3 (kết
cục)”. Những số hợp thành bởi
trên hai chữ số có thể phá ra
và phân tích theo một số cung
cách khác nhau. Chẳng hạn, 338
có thể bằng 300 thêm 2x19,
hoặc khác nữa là 3 và 3 và 8.
Sự năng động và phong phú về
tượng trưng của số 3 là một
trường hợp ngoại lệ đặc biệt
đến nỗi không thể quá cường
điệu. Chức năng hoà giải của
thành tố thứ ba trong bộ 3,
chúng tôi xin thêm, có thể
xuất hiện hoặc dưới ánh sáng
thuận lợi, hoặc thù địch.
Chẳng hạn, khi trong huyền
thoại và truyền kì có 3 anh em
hoặc 3 chị em, 3 người cầu
hôn, 3 cuộc thử thách, 3 điều
ước, v.v...
[64] , thành tố
thứ nhất và thứ nhì, nói rộng
ra, tương ứng với những gì đã
sở hữu, và thành tố thứ ba đại
diện cho giải pháp ma thuật
hoặc phép lạ được ao ước hoặc
kiếm tìm. Nhưng thành tố thứ
ba này có thể – như chúng tôi
đã nói – cũng có thể là tiêu
cực. Vậy nên, bên cạnh những
truyện truyền kì mà kẻ thứ
nhất và thứ nhì thất bại và kẻ
thứ ba thành công – đôi khi 6
kẻ đầu thất bại tiếp theo là
kẻ thứ 7 thành công – thì cũng
có những truyện khác với sự
nghịch đảo của tượng trưng sản
sinh ra kết quả đối nghịch:
hai kẻ đầu được thuận lợi (và
kẻ thứ nhì thường khi còn hơn
kẻ thứ nhất) nhưng rồi kẻ thứ
ba xuất hiện gây ra sự phá
hoại hoặc có những tác động
tiêu cực.
Ví dụ, Ba Vua dâng cho Jesus
Hài đồng những tặng phẩm bằng
vàng, trầm hương (cả hai là
tích cực) và nhựa trám (tiêu
cực). Trong hầu hết tất cả
những huyền thoại và truyện kể
có mô típ 3 chén rượu, 3 cái
tủ, hoặc 3 căn buồng thì thành
tố thứ ba tương ứng với cái
chết bởi sự phân chia bất đối
xứng của chu kì đời người, gồm
hai phần thăng (ấu thơ – thiếu
niên, thanh niên – trưởng
thành) và phần thứ ba và cuối
cùng là giáng (già – chết). Có
một truyện kể Do Thái, tên gọi
là “Chân hạnh phúc” biểu lộ
chính xác sự tạo nghĩa tượng
trưng của “thành tố thứ 3”
này. Sau đây là truyện ấy
trong bản kể được xem là mẫu
mực của Loeffle:
'Một nông dân và người vợ, bất
mãn với số phận, ghen tức với
những kẻ sống trong cung điện,
tưởng tượng rằng sống như thế
là một chuỗi lạc thú không bao
giờ chấm dứt. Trong khi đang
làm việc ngoài đồng, anh chợt
gặp 3 cái rương bằng sắt. Trên
rương thứ nhất có ghi: “Ai mở
ta ra sẽ trở nên giàu có”.
Trên rương thứ nhì, anh đọc
thấy dòng chữ: “Nếu vàng làm
ngươi hạnh phúc hãy mở ta ra”.
Trên rương thứ ba là: “Ai mở
ta ra sẽ mất tất cả những gì
đang có”. Rương thứ nhất được
mở ngay lập tức và với số
lượng bạc nó chứa, cặp vợ
chồng đãi một bữa tiệc thịnh
soạn, may sắm áo quần huy
hoàng và mua cả nô lệ. Những
gì chứa trong rương thứ nhì
khiến hai vợ chồng ấy khám phá
đời sống xa hoa thanh lịch.
Nhưng khi mở chiếc rương thứ
ba, một cơn dông khủng khiếp
hủy diệt toàn thể những gì họ
có”.
[65]
Sự tượng trưng này có tương
quan với chu kì bất đối xứng
của năm (Xuân-Hạ-Thu, theo sau
là Đông và với toàn thể những
tượng trưng về cái cao cả – vì
sự cao cả luôn luôn chứa đựng
tính hiểm nghèo).
Cuối cùng, cũng có hai lối
thông giải thị giác về tượng
trưng số, phát xuất từ hình
dáng của các chữ số nhưng
những sự thông giải như thế
mang tính chất chuyên môn và
không phải luôn luôn có căn
cứ.
Bản tiếng Việt © 2006 talawas
[1]Papus,
La Science des nombres
[Khoa học về số], Paris, 1934
[2]Matila
Ghyka, Philosophie et
mystique du nombre [Triết
lí & huyền học về số], Paris,
1952.
[3]Carl Gustav
Jung, Psychology & Alchemy
[Tâm lí học và luyện đan
thuật], Tổng tập 12,
London, 1953
[4]Matila
Ghyka, tlđd
[5]Carl Gustav
Jung, tldd
[6]M. Mertens
Stienon, L'Occultisme du
zodiaque [Bí truyền về
hoàng đạo], Paris, 1953 &
Ély Star, Les Mystères du
Verbe [Những huyền nhiệm
của Ngôi lời], Paris, 1908
[7]M. Mertens
Stienon, L'Occultisme du
zodiaque [Bí truyền về
hoàng đạo], Paris, 1953
[8]Papus,
Traité méthodique de Science
occulte [Chuyên luận có
phương pháp về khoa học huyền
bí], Paris, 1891
[9]René
Berthelot, La Pensée de
l'Asie et l'astrobiologie
[Tư tưởng châu Á và khoa sinh
học thiên văn], Paris, 1949
[10]Papus,
La Science des nombres
[Khoa học về số], Paris, 1934
[11]M. Mertens
Stienon, tlđd
[12]René
Guénon, Man and Becoming
according to the Vedànta
[Con người và thành tựu theo
Vedànta], London, 1945
[13]H. P.
Blavatsky, The Secret
Doctrine [Bí pháp],
London, 1888.
[14]René
Berthelot, tlđd
[15]Papus,
La Science des nombres
[Khoa học về số], Paris, 1934
[16]Ély Star,
Les Mystères du Verbe
[Những huyền nhiệm của Ngôi
lời], Paris, 1908
[17]H. P.
Blavatsky, The Secret
Doctrine [Bí pháp],
London, 1888.
[18]Marc
Saunier, La Légende des
symboles philosophiques,
religieux, et maçonniques
[Truyền kì về những biểu tượng
triết học, tông giáo, và Tam
điểm], xuất bản lần 2, Paris,
1911.
[19]Marc
Saunier, tlđd
[20]Marius
Schneider, La danza de
espadas y la tarantela [Vũ
điệu của gươm & điệu
tarantela], Barcelona, 1948.
[21]Marius
Schneider, tlđd
[22]Ély Star,
tlđd
[23]Papus,
Traité méthodique de Science
occulte [Chuyên luận có
phương pháp về khoa học huyền
bí], Paris, 1891.
[24]Papus,
La Science des nombres
[Khoa học về số], Paris, 1934
[25]Ély Star,
tlđd
[26]Fernando
Oritz, El Hurracán
[Dông tố], Mexico, 1947.
[27]H. P.
Blavatsky, tlđd
[28]Marius
Schneider, tlđd
[29]Papus,
Traité méthodique de Science
occulte [Chuyên luận có
phương pháp về khoa học huyền
bí], Paris, 1891.
[30]Ély Star,
tlđd
[31]Fernando
Oritz, tlđd
[32]Papus,
Traité méthodique de Science
occulte [Chuyên luận có
phương pháp về khoa học huyền
bí], Paris, 1891.
[33]René
Berthelot, tlđd
[34]Papus,
La Science des nombres
[Khoa học về số], Paris, 1934
[35]Matila
Ghyka, tlđd
[36]Ély Star,
tlđd
[37]Carl G.
Jung, bài 'Psychology of the
Transference' [Tâm lí về sự
chuyển thế] trong cuốn The
Practice of Psychotherapy
[Thực hành về tâm lí trị
liệu], Tổng tập 16,
London, 1954.
[38]René
Berthelot, tlđd
[39]Éliphas
Lévi, Les Mystères de la
Kabbale [Những bí nhiệm
của Kabbala], Paris, 1920.
[40]Marius
Schneider, El origen
musical de los
animales-simbolos en la
mitologia y la escultura
antiguas [Nguồn gốc âm
nhạc của những thú vật biểu
tượng trong thần thoại và văn
hoá cổ đại], Barcelona, 1946.
[41]Papus,
Traité méthodique de Science
occulte [Chuyên luận có
phương pháp về khoa học huyền
bí], Paris, 1891
[42]René
Berthelot, tlđd
[43]Ély Star,
tlđd
[44]Fernando
Oritz, tlđd
[45]M.
Loeffler-Delachaux, Le
Symbolisme des contes de fées
[Sự tượng trưng của những
truyện thần tiên], Paris,
1949.
[46]Marius
Schneider, tlđd
[47]Papus,
La Science des nombres
[Khoa học về số], Paris, 1934.
[48]Ély Star,
tlđd.
[49]H. P.
Blavatsky, tlđd.
[50]Papus,
La Science des nombres
[Khoa học về số], Paris, 1934
[51]Harold
Bayley, The Lost Language
of Symbolism [Ngôn ngữ
đánh mất của phép biểu tượng],
London, 1912. In lại 1951.
[52]Marius
Schneider, tlđd
[53]Papus,
La Science des nombres
[Khoa học về số], Paris, 1934.
[54]H. P.
Blavatsky, tlđd.
[55]Marius
Schneider, tlđd.
[56]Éliphas
Lévi, tlđd
[57]Marius
Schneider, tlđd.
[58]Marius
Schneider, La danza de
espadas y la tarantela [Vũ
điệu của gươm & điệu
tarantela], Barcelona, 1948.
[59]Éliphas
Lévi, tlđd.
[60]Oswald
Wirth, Le Tarot des
imagiers du Moyen-Age [Bộ
bài Tarot của những nhà tạo
hình thời Trung cổ], Paris,
1927.
[61]Éliphas
Lévi, tlđd.
[62]Éliphas
Lévi, tlđd.
[63]René
Guénon, L' Ésotérisme de
Dante [Bí truyền của
Dante], Paris, 1949.
[64]Ludwig
Paneth, La Symbolique des
nombres dans l'inconscient
[Tuợng trưng của những con số
trong vô thức], Paris, 1953.
[65]M.
Loeffler-Delachaux,,tlđd