| |
SỰ HÌNH THÀNH DÂN CƯ ẤN ĐỘ
(Hà Văn Thùy)
Ấn Độ là một quốc gia nhưng
cũng là cả một lục địa, có
quan hệ với Việt Nam không chỉ
về chính trị, kinh tế mà còn
mật thiết hơn về văn hóa.
Không chỉ cho Đông Dương một
nửa cái tên Indo-china, trong
quan niệm truyền thống, Ấn Độ
còn được coi là một cội nguồn
của văn hóa Đông Dương!
Một câu hỏi nảy sinh: phải
chăng Ấn Độ chỉ cho mà không
nhận gì từ láng giềng phương
Đông? Muốn giải đáp câu hỏi
này, cần phải lật tung lịch sử
phương Đông, điều mà cho tới
nay chưa ai làm được!Trong bài
viết này, người viết muốn tìm
về cội nguồn lịch sử để góp
phần trả lời câu hỏi trên!
Về bản chất, lịch sử của một
dân tộc là lịch sử hình thành
và phát triển của những cộng
đồng dân cư chính yếu làm nên
dân tộc ấy. Theo tiêu chí đó
thì cho đến nay, phần nhiều
quốc gia chưa có được lịch sử
đích thực. Trung Hoa chẳng hạn,
có tới 24 cuốn sử nhưng nguời
Trung Hoa chưa biết tổ tiên họ
là ai! Ai cũng nói, họ là
“Viêm Hoàng tử tôn” nhưng Viêm
là ai, Hoàng là ai họ không
biết! Cùng lắm cũng chỉ nói:
“Viêm đế họ Khương, Hoàng đế
họ Cơ”! Nhưng nếu hỏi tiếp họ
Cơ, họ Khương ấy là chủng nào
trong bảng phân loại nhân
chủng, có màu da gì, sắc tóc
gì, họ cà lăm! Ngay những
người tiên phong trong bọn họ
như Khương Nhung tác giả Totem
Sói hay học giả Zhou Jixu cũng
lầm lẫn đáng tiếc khi cho rằng,
tổ tiên họ là tộc Aryan! Người
Việt Nam cũng không hơn gì.
Nhận là con cháu các vua Hùng
nhưng khi hỏi các vị vua này
từ đâu sinh ra, không ai biết!
Hiến pháp quy định Việt Nam có
54 “dân tộc” anh em nhưng nếu
có ai hỏi, bộ gen của mỗi “dân
tộc” đó là gì, không ai trả
lời được! Chính vì vậy mà lịch
sử của những dân tộc này còn
nhiều yếu tố đáng ngờ! Khi tìm
hiểu về Ấn Độ, tôi thấy đất
nước này cũng không ra ngoài
tình trạng đó!
I. Những quan niệm truyền
thống
Từ Wikipedia Anh ngữ, chúng ta
có những thông tin như sau:
“Ấn Độ chiếm 2,4% diện tích
đất với trên 17,5% dân số thế
giới, là quốc gia có diện tích
đất canh tác nhiều hơn bất kỳ
nước nào khác ngoại trừ Hoa Kỳ.
Diện tích mặt nước chỉ sau
Canada và Mỹ. Người Ấn Độ chủ
yếu xoay quanh cuộc sống nông
nghiệp tại các làng nhỏ. Theo
điều tra dân số năm 2001, dân
cư Ấn Độ gồm hai nhóm chính:
Indo-Aryan 72%, Dravidian 25%
; 3% còn lại thuộc về người
Mông Cổ và những chủng thiểu
số khác. 72,2% dân số sống
trong khoảng 638.000 ngôi làng
và 27,8% còn lại sống tại hơn
5.100 thành phố và hơn 380 khu
đô thị. Nhân khẩu học của Ấn
Độ khá đa dạng, với số dân
khoảng 1.170.000.000 người (ước
tính vào tháng bảy, 2009),
chiếm trên một phần sáu dân số
thế giới. Ấn Độ có hơn hai
nghìn các nhóm chủng tộc, với
sự có mặt của tất cả các tôn
giáo lớn, cũng như bốn gia
đình ngôn ngữ chính (Ấn-Âu,
Dravidian, ngữ hệ Nam Á và các
ngôn ngữ tộc Tạng-Miến) cùng
một ngôn ngữ cô lập (các ngôn
ngữ Nihali được sử dụng tại
các bộ phận của Maharashtra).
Tình trạng dân cư còn bị phức
tạp hóa do các biến thể rất
lớn xảy ra trên các tham số xã
hội như thu nhập và giáo dục.
Chỉ châu Phi mới vượt quá sự
đa dạng về ngôn ngữ, văn hóa,
di truyền của Ấn Độ.”
Đấy là hiện trạng dân cư Ấn Độ.
Nhưng lịch sử hình thành khối
dân cư vĩ đại này còn phức tạp
hơn nhiều. Là thuộc địa của
nước Anh, đế quốc hùng mạnh và
văn minh nhất thế giới một
thời nên lịch sử dân cư Ấn Độ
từng được quan tâm nghiên cứu
rất sớm. Nhiều ý kiến cho rằng
dân cư Ấn là một hỗn hợp của
chủng tộc bản địa Dravidian (có
thể thuộc một nhóm Australoid),
với chủng tộc Aryan xâm nhập (thuộc
chủng Caucasoid). Tuy nhiên
một số tác giả cũng cho rằng
có sự hòa trộn nào đó với
chủng Mông Cổ.
Edgar Thurston xác định Homo
Dravida là những người có
nhiều điểm chung với các thổ
dân Úc hơn là người láng giềng
Indo-Aryan đẳng cấp cao của họ.
Để làm bằng chứng, ông viện
dẫn khả năng sử dụng
bu-me-răng của quân nhân
Kallan và Marawan với tài leo
cây ở cả dân Kadirs ở đồi
Anamalai và dân Dayaks Borneo.
Năm 1865, nhà nhân chủng học
Thomas Huxley nói: "Cái được
gọi là dân cư Dravidian ở Nam
Ấn dẫn chúng ta nhớ lại về thể
chất cũng như địa lý, đối với
người Úc trong khi người
Mincopies nhỏ bé của đảo
Andaman nằm giữa chủng tộc
Negro và Negrito, và, như ông
Busk đã chỉ ra, thỉnh thoảng
xuất hiện sự kết hợp hiếm hoi
của dạng đầu ngắn, hoặc đầu
ngắn với mái tóc xoăn ".
“Những người Hindu của thung
lũng sông Hằng và sông Ấn, có
mọi lý do để tin là do kết quả
từ sự hòa trộn với nhau của
các quần thể khác biệt ...
Người Aryan xâm lược là những
người da trắng. Thật khó mà
nghi ngờ rằng họ trộn lẫn với
người thổ dân da sẫm Dravidian
và rằng người Hinđu đẳng cấp
cao là những gì họ đang có
trong sự thuần khiết dòng máu
Aryan mà họ thừa kế... Tôi
không biết bất cứ nguyên nhân
tốt đẹp nào cho sự khác biệt
thể chất giữa một Hinđu đẳng
cấp cao và một Dravidian,
ngoại trừ máu Aryan trong tĩnh
mạch của người Aryan.”
Tuy nhiên, tình trạng “hắc
chủng” của Dravidians vẫn còn
tranh cãi. Năm 1898, nhà dân
tộc học Friedrich Ratzel nhận
xét về "đặc tính Mông Cổ" của
“Dravidians”, dẫn đến giả
thuyết của ông về “sự liên hệ
gần gũi của Dravidians với dân
cư Tây Tạng" mà ông cho biết
thêm "người Tây Tạng có thể
được xác định là thuộc về
chủng Mông Cổ". Năm 1899, một
tạp chí gọi là "Khoa học" tóm
tắt kết quả khảo sát của
Ratzel ở Ấn Độ với "Ấn Độ dành
cho tác giả [của Lịch sử của
Nhân Loại, Ratzel], một khu
vực nơi mà các chủng tộc đã bị
phá vỡ và nhào trộn bởi những
kẻ chinh phục. Chắc chắn rằng
một tiền Dravidian thuộc về
hắc chủng có mặt đầu tiên,
tầm vóc thấp kết quả của điều
kiện kinh tế xã hội nghèo khó.
Dravidians đã kế vị người da
đen, và có thể người Malay đã
xâm nhập, nhưng mối quan hệ
gần gũi với người Úc bị từ
chối. Sau đó Aryan và Mông Cổ
đã thành công, tạo thành nồi
lẩu thập cẩm hiện nay thông
qua các cuộc chinh phục và pha
trộn… " Năm 1900, nhà nhân
chủng học Joseph Deniker nói,
"Chủng Dravidian được kết nối
với cả Indonesian và Úc ...
Chủng tộc Dravidian, mà có lẽ
tốt hơn nếu gọi là Nam Ấn,
được phổ biến giữa các dân tộc
của miền Nam Ấn Độ, nói các
ngôn ngữ Dravidian, cùng với
dân Kols và những người khác
của Ấn Độ ... Người Veddhas
... cũng gần gũi hơn với
Dravidian, mà hơn thế nữa cũng
thâm nhập giữa các cư dân của
Ấn Độ, ngay cả vào giữa thung
lũng sông Hằng "… Deniker nhận
định "Dravidians như một chủng
phụ thuộc nhóm tóc xoăn hay
dợn sóng và da đen, trong đó
bao gồm Ethiopia và Úc ".
Sau khi độc lập, tuân thủ chủ
trương của Chính phủ để ngăn
cản sự phân biệt chủng tộc
trong cộng đồng, cuộc điều tra
dân số năm 1951 đã không công
nhận bất kỳ nhóm chủng tộc nào
ở Ấn Độ.
II. Nhận thức mới
Theo những phát hiện di truyền
học mới nhất (1) thì sớm hơn
74000 năm trước, người di cư
từ châu Phi men theo bờ Ấn Độ
dương đã tới Ấn Độ, theo cửa
các con sông. Nhưng 74000 năm
trước, núi lửa Toba trên đảo
Sumatra phun trào, phủ nham
thạch lên toàn vùng Nam Á,
thiêu trụi các cánh rừng và
hủy diệt tất cả những người có
mặt trong khu vực. Sau “mùa
đông nguyên tử” hàng ngàn năm,
những người sống sót ở xung
quanh tiến vào tái chiếm Ấn Độ.
Đó là những người da đen
Negritoid, cư trú ở Nam và
Đông Nam Ấn, trở thành dân cư
bản địa,.
Khoảng 50.000 năm trước, từ
Đông Dương, người Việt cổ vượt
qua đất Mianmar sang Ấn. Người
Việt cổ ra đời khoảng 70.000
năm trước, do hòa huyết của
hai đại chủng Australoid và
Mongoloid từ châu Phi sang
theo bờ biển Nam Á. Có nghĩa
là những người tới Đông Nam Á
cùng nguồn cội với những người
tới Ấn Độ. Nhưng vì nguyên do
nào đó, trong những người dừng
lại Ấn Độ chỉ có Negrito mà
không có Mongoloid. Tại đồng
bằng Hainanland, là thềm biển
Đông ngày nay, người
Australoid kết hợp với người
Mongoloid sinh ra bốn chủng
Việt cổ: Indonesian,
Melanesian, Vedoid và
Negritoid. Do số lượng người
Australoid vượt trội nên trong
cộng đồng Việt cổ, yếu tố
Australoid trở thành chủ đạo
và được nhân chủng học xếp vào
nhóm loại hình Australoid. Do
điều kiện môi trường thuận lợi,
người Việt tăng nhanh số lượng,
lan tỏa sang Úc và các đảo
ngoài khơi Đông Nam Á. Khoảng
40.000 năm trước, do khí hậu
phía Bắc bớt lạnh, người Việt
lên khai phá Trung Hoa, rồi từ
Tây Nam Trung Hoa di cư vào Ấn
Độ(2). Tại đây, người Việt gặp
người bản địa da đen Negro,
vốn là người tái chiếm đất Ấn
sau thảm họa Toba. Rất có thể
một tình trạng sau: tuy có mặt
nơi đây rất sớm, nhưng vì
nhiều nguyên nhân, giống như
đồng chủng của họ trên một số
hòn đảo Đông
Nam Á, sinh xuất của người
Negro thấp, dân số tăng chậm
và trở thành những bộ lạc
thiểu số sống ở Nam Ấn cho tới
hôm nay. Đó là chưa kể, do hôn
phối cận huyết kéo dài, họ bị
suy thoái về di truyền, trở về
gần với dạng gốc châu Phi. Như
vậy, khoảng 40000 năm trước,
người Australoid, mà chủ lực
là chủng Indonesian có mặt
trên toàn tiểu lục địa Ấn Độ,
được lịch sử gọi là Dravidian.
Đối chiếu sự phát hiện của di
truyền học hôm nay với những
nhận định của giới nhân chủng
học Anh thế kỷ XIX, ta thấy,
theo tiêu chí hình thái học sọ
người, các nhà nhân chủng học
Anh đã nhận xét đúng về nhân
học của cộng đồng Dravidian:
vừa có yếu tố Australoid, vừa
có yếu tố Indonesian, vừa có
chất Mông Cổ, lại có những đặc
điểm Ethiopia. Điều này thêm
bằng cớ xác nhận Dravidian là
con lai của Mongoloid và
Australoid từ châu Phi tới.
Cuộc thiên di của người Việt
cổ tới Ấn liên tục qua nhiều
thiên niên kỷ, tới giai đoạn
người Hòa Bình mang công cụ Đá
Mới, sau đó là cây kê và lúa
nước sang xây dựng kinh tế
nông nghiệp trên đất Ấn Độ.
Khoảng 3000 năm TCN, Người
Dravidian đã sáng tạo nên văn
minh sông Indus nổi tiếng.
Khảo cổ học phát hiện những
hiện vật của văn hóa vật thể
của người Dravidian nhưng
không giúp khám phá văn hóa
phi vật thể của họ. Đến nay,
ta có thể khẳng định rằng đó
là nền văn hóa nông nghiệp
được kế thừa từ tộc Việt trên
địa bàn Đông Nam Á cũng như
trên lưu vực Dương Tử và Hoàng
Hà.
Khoảng 2000 năm TCN, người
Aryan thuộc chủng Á – Âu
(Eurasian), là những bộ lạc du
mục rất thiện chiến từ Iran
kéo vào xâm lăng Ấn Độ. Đây là
cuộc chiến khốc liệt. Người
Aryan tiêu và diệt bắt người
Dravidian làm nô lệ. Không chỉ
cướp đoạt tài sản, người Aryan
còn chiếm khối lượng lớn đất
canh tác của dân bản địa và
dồn họ xuống phía nam. Là dân
du mục có nền văn minh khá cao,
người Aryan mang tới Ấn Độ chữ
Phạn, xã hội chia đẳng cấp và
đạo Balamôn, một đa thần giáo
với những kinh sách khẳng định
việc phân chia giai cấp.
Sau Công nguyên, tiểu lục địa
Ấn Độ còn chịu nhiều cuộc xâm
lăng của người Hồi giáo từ
Afganistan, người Hy Lạp,
người Mông Cổ. Những cuộc xâm
lăng này đem tới đất Ấn nguồn
gen mới khiến cho về mặt di
truyền, bộ gen người Ấn Độ
thêm đa dạng.
Hiện nay ở Ấn Độ có xu hướng
cho rằng, không có cuộc xâm
lăng của người Aryan cho nên
không hề có Aryan, Dravidian
mà người Ấn cùng bộ mã gen di
truyền. Do sống ở vùng khí hậu
nhiệt đới nên người miền Nam
Ấn có nước da đen. Do sống ở
phía Bắc nên người Bắc Ấn da
trắng. Thuyết này không phải
không có lý khi quan sát ngoại
hình người Ấn. Nhưng thực ra
thì sự tương đồng về di truyền
này được tạo nên từ sự hòa
huyết giữa người Aryan và
người Dravidian sau 4000 năm
chung sống.
Mới đây, tháng 12 năm 2009,
Viện Sinh học hệ gen và Tích
hợp (Institute of Genomics and
Integrative Biology) có trụ sở
ở bang Bangolore công bố bản
tin “Tổ tiên người Trung Hoa
tới từ Ấn Độ” (Ancestors of
Chinese came from India) (3)
của Mitali Mukerji, nội dung
như sau: “Các nghiên cứu cho
thấy rằng con người đầu tiên
di cư đến tiểu lục địa Ấn Độ
từ Châu Phi khoảng 100.000 năm
trước đây và sau đó lan ra các
phần khác của châu Á…”
Công bố này phủ định những
nghiên cứu trước đó về sự hình
thành dân cư Đông Á. Tuy nhiên,
đây là nghiên cứu riêng lẻ,
chưa được kiểm chứng. Và cũng
như mọi nghiên cứu di truyền
khác về sự thiên di của con
người, cần được củng cố bằng
những chứng cứ khảo cổ học.
Nhưng như ta biết, những tư
liệu khảo cổ hiện có không ủng
hộ ý kiến này.
Tôi xin phát biểu như sau:
1. Đúng là người di cư từ châu
Phi đã tới Ân Độ trước 74.000
năm trước. Nhưng theo giả
thuyết Tai biến Toba (Toba
catastrophe theory), khoảng
74000 năm trước, núi lửa Toba
phun trào, tạo ra “mùa đông
nguyên tử” tại tiểu lục địa Ấn
Độ, đã hủy diệt không chỉ
những người đã định cư ở đây
mà cả môi trường sống. Sau tai
biến, hàng nghìn năm sau,
những người sống sót trong
vùng lân cận đã tái chiếm Ấn
Độ.
Nhưng những người này khó có
thể đạt được số lượng lớn tới
mức lan ra chiếm toàn bộ châu
Á. Lý do như sau:
Thời điểm này đang trong Kỷ
Băng hà, phần lớn phía bắc Ấn
Độ đóng băng. Chỉ vùng Nam Ấn
với những con sông và bờ biển
là nơi thuận lợi cho con người
sinh sống. Tuy lúc đó, mực
nước biển thấp hơn hôm nay 130
mét nhưng do bờ biển Ấn Độ quá
dốc nên diện tích có thể cư
trú hẹp. Một diện tích hẹp như
vậy khó có điều kiện để cho
một lượng lớn con người sinh
sống.
2. Người xâm nhập đầu tiên tới
Ấn thuộc chủng da đen Negro,
vóc hình thấp. Với mã di
truyền như vậy họ không thể
sinh ra người châu Á hiện nay
thuộc chủng Mongoloid phương
Nam.
3. Ta biết, đa số người Ấn
hiện tại có nguồn gen
Eurasian, tức là mã di truyền
Ấn-Ấu. Nếu người từ Ấn lan ra
để trở thành tổ tiên người
Trung Hoa thì nay người Trung
Hoa phải mang mã di truyền
giống người Ấn, tức bộ gen
Eurasian. Trong khi đó, đại bộ
phận người Trung Hoa mang gen
Mongoloid phương Nam. Như vậy
thực tế không ủng hộ giả
thuyết trên.
III. Bài học từ lịch sử
Sự kiện 2000 năm TCN, người
Aryan xâm lăng lãnh thổ của
người Dravidian ở Ấn Độ cũng
giống như 600 năm trước đó
người Mông Cổ xâm chiếm đất
đai của người Bách Việt phía
nam Hoàng Hà. Cùng là sự xâm
lăng của những tộc du mục đối
với các bộ lạc nông nghiệp
nhưng tình huống hai cuộc xâm
lăng khác nhau đã đưa tới
những hệ lụy lịch sử hoàn toàn
khác nhau. Người Mông Cổ du
mục nhân số ít. Khi vào Trung
Nguyên, một vùng đất mênh mông,
kinh tế trù phú, gặp cuộc
kháng chiến mãnh liệt của số
người đông đảo gấp bội, kẻ xâm
lăng tuy thiện chiến nhưng
cũng không thể chiến thắng dễ
dàng. Vì vậy, người Mông Cổ
thấy không thể và cũng không
cần tiêu diệt dân bản địa hay
bắt làm nô lệ mà thực hiện
chính sách khôn ngoan: giành
cho người Mông Cổ vị trí thống
trị, hoạt động thương mại còn
cho người bản địa làm nông
nghiệp, và những nghề nặng
nhọc. Chính sách khôn khéo này
xoa dịu sự đối kháng của người
Bách Việt và sớm tạo nên mối
hòa đồng trong xã hội (4). Một
thời gian sau, do sự chung
sống nên xảy ra hòa huyết
Mông-Việt, tạo ra chủng mới
Mongoloid phương Nam được gọi
là người Hoa Hạ, tổ tiên của
người Hán. Ngày nay người Hán
chiếm 93% nhân số Trung Hoa.
Tình trạng Ấn Độ có khác: khi
vào Ấn Độ, người Aryan không
chỉ là đội quân hùng mạnh, có
văn minh cao mà còn rất đông
đảo. Ỷ vào sức mạnh và văn
minh của mình, người Aryan
tiêu diệt người Draviadian bản
địa, cướp đoạt đất đai, tài
sản và bắt khối người lớn
Dravidian làm nô lệ. Thất bại
trong cuộc chiến không cân sức,
người bản địa Dravidian lui về
phía Nam, trong khi kẻ chiến
thắng đặt ách thống trị lên
toàn cõi Ấn Độ. Cùng với chế
độ thực dân da trắng, người
Aryan còn truyền bá đạo
Balamôn, tôn giáo đa thần,
khẳng định sự phân chia đẳng
cấp, trong đó người Dravidian
thuộc đẳng cấp nô lệ. Nền văn
hóa nông nghiệp giầu tính nhân
văn của người bản địa
Dravidian bị chôn vùi.
Trong lịch sử Ấn Độ, có một
lần văn hóa Dravidian vùng lên
đòi lại vị trí của mình, đó là
khoảng 500 năm TCN, khi Phật
giáo ra đời truyền bá giáo lý
của Phật Thích Ca. Có thể nói
rằng, 1700 năm tồn tại của đạo
Phật là cơ hội hóa giải những
mâu thuẫn nội tại vừa sâu sắc
vừa khốc liệt của xã hội Ấn Độ.
Nhưng từ cuối thế kỷ XII, sự
trỗi dậy của lớp tăng lữ
Balamôn được hỗ trợ của người
Aryan cầm quyền, đã trục xuất
Phật giáo khỏi đất Ấn. Bị xua
đuổi khỏi quê hương của mình,
Phật giáo không những không bị
tuyệt diệt mà lại phát triển
mạnh trong các quốc gia châu Á
khác, từ Trung Quốc tới Nhật
Bản và Đông Dương. Điều này
không ngẫu nhiên mà do nguyên
nhân chủng tộc, lịch sử, văn
hóa sâu xa: Đạo Phật là sản
phẩm của văn hóa, tâm linh tộc
Việt, nảy sinh trong hoàn cảnh
Ấn Độ. Khi trở lại cộng đồng
nông nghiệp Việt tộc có nghĩa
là trở về nguồn cội của mình,
nó có những điều kiện tốt nhất
để phát triển.
Sau khi xóa bỏ đạo Phật, Ấn Độ
giáo với giáo điều Balamôn
phân chia đẳng cấp được xác
lập địa vị tuyệt đối. Đấy là
tai họa lớn với đất nước Ấn Độ,
di hại tới ngày nay. Do hoàn
cảnh lịch sử như vậy, người
bản địa Dravidian trở thành
thiểu số, bị đàn áp và bị kìm
giữ trong vòng lạc hậu, nghèo
khó. Cũng do sự phân biệt ngặt
nghèo về sắc tộc và giai cấp,
việc hòa huyết giữa người
Aryan và người Dravidian bị
cấm đoán, tạo nên mối mâu
thuẫn sắc tộc vô cùng gay gắt,
gieo đau khổ cho phần lớn dân
Ấn và làm suy kiệt nước Ấn.
Người Ấn có thể có lý do để
không công nhận có những sắc
tộc tồn tại trên đất nước mình.
Nhưng đấy phải chăng là hành
động của con đà điểu vùi đầu
trong cánh? Vấn đề không phải
là che dấu sự thật lịch sử mà
là tìm lại cội nguồn lịch sử
để rút ra nguyên nhân tai họa
do lịch sử gây ra hòng tìm
cách khắc phục. Phải chăng lúc
này Ấn Độ nên tìm lại lịch sử
thành tạo khối dân cư vĩ đại
của mình, từ đó phát hiện lại
văn hóa cùng minh triết của
Việt tộc Dravidian góp phần
xây dựng đất nước?
Tháng 4. 2010
1. StephenOppenheimer. Rời
khỏi địa đàng chiếm lĩnh thế
giới.
http://www.bradshawfoundation.com/journey/introduction.html
2. Hà Văn Thùy. Hành trình tìm
lại cội nguồn. NXB Văn học,
2008
3. http://timesofindia.indiatimes.com/india/Ancestors-of-Chinese-came-from-India-Study/articleshow/5328596.cms
4. Kim Định. Việt lý tố nguyên
An tiêm. Sài Gòn 1970
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|