̣Các
sự kiện dẫn đến 30 tháng 4
Sau Hiệp định Paris tinh thần và khả năng
của quân đội Việt Nam Cộng hòa suy giảm
nghiêm trọng nhất là sau khi Richard Nixon
từ chức vì vụ Watergate, vào tháng 8 năm
1974.
Sự cắt giảm hỗ trợ
từ Hoa Kỳ
Sau khi người Mỹ rút khỏi Nam Việt Nam, viện
trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hoà đã cắt
giảm nhiều:
Tài khoá 1973: 2,1 tỷ USD
Tài khoá 1974: 1,4 tỷ USD
Tài khoá 1975: 0,7 tỷ USD
Giáo sư Warren Nutter là cựu Phụ tá Tổng
trưởng quốc phòng, đặc trách phần tài chính
của chương trình "Việt nam hoá". Khi dự điểm
tâm với ông Thiệu vào sáng ngày 23 tháng Tám
năm 1974 tại Dinh Độc Lập, Tổng thống Thiệu
bày tỏ sự lo ngại về viện trợ:
Mới vài ngày trước đây là một tỷ, bây giờ
còn 700 triệu, tôi làm gì được với số tiền
này? Như là chuyện cho tôi 12 đô la và bắt
tôi mua vé máy bay hạng nhất từ Sài gòn đi
Tokyo. Giáo sư Nutter cũng rất bối rối
và giải thích hành động của Quốc hội:
Quốc hội Hoa kỳ đôi khi hành động vô trách
nhiệm như vậy… Cái Trung Tâm Tài Nguyên Đông
Dương (Indochina Resource Center, 1 trung
tâm của những người phản chiến) đang hết sức
tìm cách tiêu diệt quý quốc.
Sau này, trong tập hồi ký "Mùa Xuân Đại
Thắng", Văn Tiến Dũng của Hà Nội đã viết về
động cơ thúc đẩy Bắc Việt mở cuộc tổng tấn
công Miền Nam là do Mỹ đã giảm viện trợ làm
cho kế hoạch tác chiến và xây dựng lực lượng
quân đội Sài Gòn không thể thực hiện theo
như ý muốn. Đó là vì "hoả lực đã sút giảm
gần 60% vì thiếu bom, đạn; khả năng di động
cũng giảm đi 50% vì thiếu máy bay, xe cộ, và
nhiên liệu"[1]
Diễn biến cuộc chiến
Ngày 23 tháng 3,
Huế rơi vào tay quân Giải phóngg trong khi ở
Đà Nẵng, hàng ngàn dân thường và binh lính
tìm cách chạy thoát bằng đường biển khỏi
thành phố đang bị bao vây và nã pháo. Trong
4 sư đoàn bộ binh của QLVNCH, 4 liên đoàn
Biệt động quân, lữ đoàn thiết giáp, sư đoàn
không quân, và hàng ngàn nhân viên quân sự
và địa phương quân, chỉ có 16.000 rút được.[4]
Trong số gần 2 triệu dân thường dồn lại tại
Đà Nẵng từ cuối tháng 3, chỉ có hơn 50.000
sơ tán được bằng đường thủy.[5] 70.000 binh
sĩ VNCH còn lại sau bị bắt làm tù binh.[6]
33 máy bay phản lực A-37 còn nguyên vẹn cùng
gần 60 máy bay khác tại căn cứ không quân
Phú Cát cũng bị bỏ lại.[7] Trong cuộc sụp đổ
của Đà Nẵng, không có một trận chiến nào.
Khi Quân Giải phóng tiến vào thành phố,
không mấy binh sĩ VNCH đóng quanh thành phố
chống cự.[8] Các trung tâm phòng thủ còn lại
dọc theo bờ biển cũng nhanh chóng tan vỡ dây
chuyền: Quảng Ngãi ngày 24 tháng 3; Qui Nhơn
và Nha Trang ngày 1 tháng 4; và cảng Cam
Ranh ngày 3 tháng 4.[9]
Trong nửa đầu tháng 4, với Quân đoàn 2 của
quân Giải phóng từ phía bắc tiến vào và quân
đoàn 3 từ Tây Nguyên đổ xuống, các tỉnh
Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà
lần lượt rơi vào tay Quân Giải phóng.
Ngày 9 tháng 4,
Quân đoàn 4 quân Giải phóng định đánh chiếm
huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai trên hành tiến
- tuyến phòng thủ từ xa cuối cùng của Sài
Gòn - nhưng Sư đoàn 18 của Nam Việt Nam đã
kháng cự ác liệt có tổ chức để giữ vững được
thị xã. Đây là trận đánh dài ngày có tổ chức
cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Trận Xuân Lộc đã gây thương vong rất lớn cho
cả hai bên.
Ngày 17 tháng 4,
Thượng viện Mỹ từ chối khoản viện trợ khẩn
cấp trị giá 722 triệu đô la mà chính phủ Mỹ
đề nghị. Tuy không ai tin rằng viện trợ Mỹ
có thể xoay chuyển tình thế, Ngoại trưởng Mỹ
Henry Kissinger và một số người khác đã hy
vọng rằng nó có thể giúp Nam Việt Nam lấy
lại được đủ vị thế về quân sự để thuyết phục
Bắc Việt đàm phán. Hai ngày sau phán quyết
này của Thượng viện, giám đốc CIA William
Colby nói với tổng thống Ford: "Nam Việt Nam
đang đối mặt với thất bại hoàn toàn và nhanh
chóng". Các chuyến bay di tản do CIA tổ chức
đã bắt đầu đưa các cộng tác viên người Việt
ra khỏi Việt Nam, và Sứ quán Mỹ đã bắt đầu
đốt tài liệu mật từ trước đó[10]. Ngày 20
tháng 4 các thủ tục pháp luật được đơn giản
hóa cho việc sơ tán người Việt bắt đầu có
hiệu lực. Việc sơ tán này được thực hiện tại
sân bay quân sự Tân Sơn Nhất, do tướng Homer
Smith chỉ huy. Các máy bay C-130 và C-140
liên tục lên xuống vào ban ngày; công việc
giấy tờ được tiếp tục suốt đêm. Tướng Smith
đã phải dùng đến toàn bộ trung đội Thủy quân
lục chiến số 43 của Mỹ để giữ trật tự tại
Tân Sơn Nhất.
Ngày 20 tháng 4
quân phòng thủ bỏ Xuân Lộc rút lui. Ngày
Xuân Lộc thất thủ, không còn gì để cứu vãn
nữa. Với việc bỏ Xuân Lộc khiến Sài Gòn
không còn phòng thủ từ xa nữa, quân Giải
phóng áp sát thành phố ở các tuyến ngoại vi.
Cùng ngày 20 tháng 4, đại sứ Mỹ Martin đến
phủ Tổng thống thuyết phục Nguyễn Văn Thiệu
từ chức, phía Bắc Việt đã liên tục tuyên bố
sẽ không đàm phán với tổng thống Thiệu.
Binh sĩ VNCH thuộc sư đoàn 18 ở Xuân Lộc
tịch thu cờ đối phươngTối ngày 21 tháng 4,
Nguyễn Văn Thiệu đọc một bài diễn văn từ
chức dài trước quốc hội, buộc tội Mỹ đã bỏ
rơi Việt Nam Cộng hòa. Phó Tổng thống Trần
Văn Hương lên thay nhưng phía MTGP không
chấp nhận nói chuyện với ông ta. Thời điểm
21 tháng 4 khi Nguyễn Văn Thiệu từ chức có ý
nghĩa quyết định. Đại tướng Võ Nguyên Giáp
nói rằng "chìa khóa là ngày 21 tháng 4, khi
Thiệu từ chức. Khi đó tôi biết rằng chúng
tôi phải tấn công ngay lập tức, cướp lấy
thời cơ, tất cả chúng tôi cũng đồng ý như
vậy"[11]. Đêm hôm đó, tại sở chỉ huy tiền
phương tại Lộc Ninh, cách Sài Gòn 75 dặm,
tướng Văn Tiến Dũng, người chỉ huy các cánh
quân Cộng sản tiến về thành phố, ra lệnh bắt
đầu cuộc tổng tiến công.
Để đảm bảo áp đảo chắc thắng Quân Giải Phóng
đưa thêm cả Quân đoàn 1 (hay còn gọi là Binh
đoàn Quyết thắng) bằng tầu biển và hàng
không vào chiến trường cho trận cuối cùng có
tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Lực lượng
tiến công Sài Gòn tương đương 20 sư đoàn với
5 quân đoàn.
17 giờ ngày 26
tháng 4, Chiến dịch Hồ Chí Minh
bắt đầu nổ súng với 5 quân đoàn ở 5 hướng
tấn công: hướng Bắc với Quân đoàn 1, hướng
Tây Bắc với Quân đoàn 3, hướng Tây và Tây
Nam với Đoàn 232, hướng Đông với Quân đoàn 4
và hướng đông nam với Quân đoàn 2.
Ngày 27 tháng 4,
Sài Gòn phải chịu 3 loạt hỏa tiễn của quân
Giải phóng, lần đầu tiên trong hơn 40
tháng[12] làm nhiều người chết và bị thương
và nhà cửa đổ nát.[1]
Phi công Hoa Kỳ di tản trẻ em tỵ nạn rời
khỏi Việt NamĐến cuối ngày 28 tháng 4 tất cả
các tuyến phòng thủ đã bị chọc thủng tại tất
cả các hướng, quân Giải phóng có thể đi ngay
vào thành phố. Các lực lượng chính trị thứ
ba dàn xếp để đưa Đại tướng Dương Văn Minh
lên làm tổng thống trong ngày 28 tháng 4 năm
1975. Ngay khi nhậm chức để tiến hành đàm
phán Tổng thống Dương Văn Minh yêu cầu người
Mỹ ra đi.
Trực thăng chở thường dân tỵ nạn trên Hàng
không mẫu hạm USS Midway tháng 4-1975 bị vứt
bỏ để dành thêm chỗ cho những người tỵ
nạnTrong các ngày 28, 29 tháng 4 từ các hàng
không mẫu hạm ngoài khơi Thuỷ quân lục chiến
Mỹ dùng trực thăng di tản người nước ngoài
và một số người Việt đã từng cộng tác chặt
chẽ với họ. Cuộc di tản đã diễn ra trong lộn
xộn vì rất nhiều người muốn ra đi nhưng
không thể đáp ứng hết được. Các điểm đỗ của
trực thăng trở nên hỗn loạn. Lính Thuỷ quân
lục chiến Mỹ đã phải rất vất vả mới duy trì
được trật tự, họ dùng sức mạnh thô bạo gạt
phăng các bạn đồng minh cũ đang trong cơn
hoạn nạn. Người Mỹ đã phải bỏ lại nhiều
người bạn lâu năm của mình. Hình ảnh di tản
đã in đậm trong trí óc nhiều người Mỹ và
Việt như một kỷ niệm rất buồn. Đại sứ Graham
Martin là một trong những người Mỹ cuối cùng
ra đi. Trong số 120.000 người Việt và 20.000
người Mỹ được di tản trong đợt này, không có
một người nào bị thiệt mạng do hoạt động
quân sự của quân Giải phóng[13]. Quân Giải
Phóng dừng lại bên ngoài thành phố 1 ngày để
cho người Mỹ di tản hết mới vào. Theo lời
tướng Trần Văn Trà, họ đã đợi vì mục đích
chính là để giải phóng Sài Gòn chứ không
phải để giết người. Còn theo hồi kí của
tướng Hoàng Cầm, cánh quân của Quân đoàn 4
mà ông chỉ huy gặp rất nhiều kháng cự trên
đường tiến về Sài Gòn và chỉ đánh được đến
nơi vừa kịp sáng ngày 30 tháng 4.
Ngày 30 tháng 4
Phạm Xuân Thệ đưa Dương Văn Minh và
Vũ Văn Mẫu đến đài phát thanh 8 giờ sáng 30
tháng 4 Tổng thống Dương Văn Minh và Bộ tổng
tham mưu quân đội Việt Nam Cộng hòa hạ lệnh
đơn phương ngừng chiến sẵn sàng đón quân đối
phương vào Sài Gòn để bàn giao chính quyền.
9 giờ sáng cùng ngày, đúng 1 tiếng đồng hồ
sau khi chiếc trực thăng cuối cùng của Mỹ
rời nóc tòa Đại Sứ quán, tướng Trần Văn Trà
lệnh cho quân Giải Phóng tiến vào Sài Gòn từ
năm hướng. Họ đã tiến nhanh mà không gặp
kháng cự có tổ chức.
10 giờ 45 phút ngày 30 tháng 4, xe tăng mang
số hiệu 843 húc nghiêng cổng phụ và bị kẹt
tại đó. Bùi Quang Thận - Đại đội trưởng, chỉ
huy xe 843 - nhảy xuống xe, cầm cờ chạy bộ
vào. Xe tăng 390 húc tung cánh cửa chính của
dinh.
11 giờ 30 phút cùng ngày, Trung úy Quân đội
Nhân dân Việt Nam Bùi Quang Thận đã hạ lá cờ
Việt Nam Cộng hòa trên nóc dinh xuống, kéo
lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam
Việt Nam lên.
Cùng lúc này, đại úy trung đoàn phó Trung
đoàn 66 Phạm Xuân Thệ cùng lực lượng đột
kích thọc sâu của Quân đoàn 2 và biệt động
thành Sài Gòn tiến vào dinh Độc Lập bắt Tổng
thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa là ông
Dương Văn Minh cùng toàn bộ những nhân vật
chủ chốt của nội các chính quyền Sài Gòn.
Tổng thống Dương Văn Minh cùng toàn bộ nội
các của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã
tuyên bố đầu hàng vô điều kiện với quân đội
cách mạng (tức quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam).
Thư đầu hàng và chấp nhận đầu hàngKhoảng 12
giờ trưa, đại úy Phạm Xuân Thệ đưa tổng
thống Dương Văn Minh, thủ tướng Vũ Văn Mẫu
lên xe Jeep để đến đài phát thanh. Chiếc xe
thứ hai chở trung tá chính ủy lữ đoàn xe
tăng 203 Bùi Văn Tùng cùng hai nhà báo
Borries Gallasch (người Đức, báo Der
Spiegel) và Hà Huy Đỉnh. Tại đài phát thanh,
tổng thống Dương Văn Minh đã đọc tuyên bố
đầu hàng vô điều kiện. Thay mặt các đơn vị
Quân giải phóng đánh chiếm dinh Độc Lập,
trung tá Bùi Văn Tùng đọc lời tiếp nhận đầu
hàng. Chiến tranh kết thúc.
Theo Jean Louis Margolin, tác giả này xác
nhận là không có tắm máu trong ngày quân
Giải phóng tiến vào Sài Gòn nhưng sau đó đã
đưa ra con số 200 ngàn người bị giam giữ
theo xác nhận của Phạm Văn Đồng. Tuy nhiên
về việc này, tác giả ghi thêm: "Những ước
tính nghiêm chỉnh nói từ 500 ngàn đến một
triệu tù nhân trong tổng số dân là 20 triệu"[14]
(Trích tài liệu Bách khoa toàn thư Wiki)
Chú thích
^ Văn Tiến Dũng, Our great spring victory p
17-18.
^ Cho đến ngày 30 tháng 4 thì chỉ có sư đoàn
308 vẫn còn ở miền Bắc và không tham gia
chiến dịch.
^ Spencer Tucker, Encyclopedia of the
Vietnam War: A Political, Social, and
Military History, ABC-CLIO, 1998, tr. 770.
Trích: "At war's end in 1975, the PAVN
numbered nearly 1 million troops, despite
the loss..."
^ Dougan, Clark, David Fulgham, et al. The
Fall of the South. Boston: Boston Publishing
Company, 1985, tr. 83.
^ Dougan & Fulgham, tr. 83.
^ Willbanks, James H. Abandoning Vietnam:
How America Left and South Vietnam Lost Its
War. Lawrence KS: University of Kansas
Press, 2004, tr. 253.
^ William W. Momyer, The Vietnamese Air
Force. Maxwell Air Force Base AL: Air
University Press, 1975, tr. 76.
^ Willbanks, tr. 251.
^ Issacs, Arnold R. Without Honor: Defeat in
Vietnam and Cambodia. Baltimore: Johns
Hopkins University Press, 1983. tr. 380.
^ Trong cuốn Decent Interval, Frank Snepp đã
nhìn thấy tro nổi trên bể bơi ngoài trời của
tòa Đại sứ và nhận thấy dấu hiệu của tai họa
đang ập đến.
^ "the key was April 21, when Thieu
resigned. Then I knew, we all agreed, we had
to attack immediately, seize the
initiative."
^ Dawson, Alan. 55 Days: The Fall of South
Vietnam. Prentice-Hall, 1977. Chương XV
^ George Church, Saigon: The Final 10 Days,
Time Magazine, April 24, 1995 Volume 145,
No. 17
^ Le Livre Noir du Communisme: Crimes,
Terreur, Répression do Robert Laffont, S.A,
Paris xuất bản lần đầu năm 1997-Phần IV về Á
Châu