|
Tình
trạng nghèo đói và khác biệt
giầu nghèo gia tăng ở trên thế
giới nói chung và ở Việt-Nam nói
riêng là hai đề tài làm cho
nhiều nhà xã hội học và kinh tế
gia lưu tâm. Nguồn gốc sâu sa
của căn bệnh này không có gì
khác hơn là văn hóa, tức là
những năng khiếu và tập quán thụ
đắc bởi mỗi dân tộc, một tập thể
con người sống chung lâu đời
trong cùng một xã hội.
[1] Yếu tố văn hóa
gián tiếp và lặng lẽ ảnh hưởng
đến cách suy nghĩ và quyết định
của những người có quyền thế
trong mọi lãnh vực và phản ứng
của những thành phần bị trị
trong quốc gia đó. Muốn tiến bộ
phải cải tiến văn hoá, vứt bỏ
những cái xấu, bảo tồn những di
sản đẹp, và tiếp thụ những cái
hay của những nền văn hoá mới.
Căn bệnh nghèo
đói còn có những nguyên nhân
trực tiếp như
thể chế chính trị, chính sách
kinh tế,
xã hội và giáo dục của mỗi quốc
gia. Nếu một dân tộc có một bản
chất vững mạnh, một nhân sinh
quan đúng đắn, dân tộc đó có thể
vượt qua được những hoàn cảnh
khó khăn và những nguyên nhân
trực tiếp của sự nghèo đói. Bài
viết này sẽ lần lượt thảo luận
về mức độ và những nguyên do sâu
sa và trực tiếp gây ra cách biệt
giầu nghèo và sự nghèo đói.
Tình trạng cách
biệt giầu nghèo trên thế giới
Dân số trên thế
giới là 6 tỉ người. Trong số đó
có khoảng 2.8 tỉ người sống với
lợi tức trung bình dưới 2 Mỹ kim
mỗi ngày và 1.2 tỉ người sống
với lợi tức đưới 1 Mỹ kim mỗi
ngày. Khoảng 44 % số người
nghèo này hiện nay sống ở vùng
Nam Á châu. Khoảng 50 % số trẻ
em sống ở các nước nghèo bị
thiếu dinh dưởng. Trong khi đó
tại các nước giầu tỉ lệ này dưới
5 %. Khoảng 20 % trẻ em không
sống quá 5 năm tại những nước
nghèo so với 1 % tại những nước
giầu. Lợi tức trung bình của 20
nước giầu nhất thế giới gấp 37
lần 20 nước nghèo nhất.
Mặc dầu những
tiến bộ về kỹ thuật viễn thông,
Internet và điện tử đã đạt được
trong thời gian gần đây, sự cách
biệt giầu nghèo này đã tăng gấp
đôi trong bốn thập niên vừa qua.
Xét từng khu vực
người ta nhận thấy Đông Á là
vùng duy nhất trên thế giới
tương đối thành công trong việc
xoá đói giảm nghèo. Trong khoảng
thời gian từ 1987 đế 1998, số
người có lợi tức trung bình dưới
1 Mỹ kim mỗi ngày giảm 33 %
xuống còn 280 triệu người. Trong
khi đó số người nghèo lại gia
tăng ở Nam Á, vùng sa mạc Sahara
của Phi châu và châu Mỹ Latin.
Mặt khác những nước ở Trung Á và
Âu châu đang chuyển đổi từ hệ
thống kinh tế chỉ huy qua kinh
tế thị trường, số người nghèo
gia tăng 20 lần.
[2] Phần lớn những
nước này là những nước kỹ nghệ
khác với hai nước nông nghiệp ở
Á châu là Trung quốc và Việt-Nam.
Cách biệt giầu
nghèo cũng rất trầm trọng ở ngay
tại mỗi quốc gia giữa những vùng
khác nhau và giữa những nhóm
người khác nhau. Các sắc tộc
thiểu số, phụ nữ, dân ở nông
thôn và những người di cư bừa
băi về thành phố và không có chỗ
ăn ở nhất định là những loại người
bị thiệt tḥi nhất. Việt-Nam
đang gặp những khó khăn tương
tự.
Vì sao có sự khác
biệt giữa các nước giầu và các
nước nghèo ?
Chắc chắn không
phải là vì tuổi tác của những
quốc gia này. Trước nhất chúng
ta hãy xem xét một số nước trên
thế giới. Việt-Nam và Trung quốc
đã có trên 4,000 năm. Ấn độ và
Ai cập đã thành lập trên 2,000
năm. Nhưng đây lại là những nước
nghèo. Mặt khác, Hoa-kỳ, Canada,
Úc đại lợi, và Tân tây lan là
những nước chỉ mới thành lập
dưới 250 năm nay nhưng lại ở
trong những nước giầu nhất thế
giới. Israel mới lập quốc vào
năm 1948 tại phần đất Palestine.
Dân số là 6.1 triệu người trong
đó 80 % theo đạo Do thái và 14.6
% theo Hồi giáo.
[3]
Hàng năm Israel
nhận từ 3 tỉ - 5 tỉ Mỹ kim tiền
viện trợ của Hoa-kỳ. Tuy là một
quốc gia trẻ trung, nhưng sau
một nửa thế kỷ Israel đã mau
chóng trở thành một quốc gia
giầu có với lợi tức trung bình
mỗi đầu người tính theo mãi lực
quân bình (purchasing power
parity GDP) là 19,500 Mỹ kim.
East Timor là một quốc gia mới
nhất, thành lập vào năm 2002,
với dân số vỏn vẹn có khoảng 1
triệu người. Trong đó 80 % theo
Công giáo (Roman Catholic
Church). East Timor là một trong
những nước nghèo nhất thế giới
với lợi tức trung bình hàng năm
mỗi đầu người tính theo mãi lực
quân bình là 500 Mỹ kim.
Sự khác biệt giầu
nghèo có phải vì nguồn tài
nguyên thiên nhiên của các quốc
gia không ?
Câu trả lời là
không nhất thiết phải như thế.
Thật vậy, dân Iraq sống trên mỏ
dầu lớn thứ nhì trên thế
giới với số dầu dự trữ ước tính
là 114 tỉ thùng
[4],
gần bằng 43.5 % số dầu dự trữ
lớn nhất thế giới ở Saudi
Arabia. Nhưng mức sống không hơn
gì dân Việt-Nam bao nhiêu. Tổng
sản lượng nội địa mỗi đầu người
theo mãi lực quân bình của Iraq
là 2,400 Mỹ kim, so với con số
của Việt-Nam là 2,300 Mỹ kim.
[5]
Trái lại, Nhật
bản đất hẹp dân đông. Từ cuối
thế kỷ 19 nước Nhật đã biết mở
rộng cửa để buôn bán và tiếp thụ
kỹ thuật Tây phương nên đã mau
chóng trở thành một cường quốc
và nay là một trong những nước
giầu nhất thế giới. Tổng số
diện tích của Nhật bản là
377,835 Km2, hơi nhỏ hơn tiểu
bang California. Khoảng 12.1 %
đất đai là có thể trồng trọt
được. Phần còn lại là đồi núi.
Tuy nhiên, Nhật bản có 127 triệu
dân, gần gấp 4 lần dân số của
California. Mỗi năm Nhật bản có
khoảng 1,500 trận động đất (phần
lớn là những chấn động nhỏ).
Nước Nhật hầu như không có một
khoáng sản nào cả. Quốc gia này
phải nhập cảng mọi nguyên liệu
từ cát, sắt thép phế thải, cho
đến dầu thô và thực phẩm từ khắp
nơi trên thế giới và sản xuất
các sản phẩm chế biến để xuất
cảng đến hầu hết mọi quốc gia.
Người ta thấy ngay trên đất Mỹ
cách xa Nhật một nửa vòng trái
đất, những dụng cụ khổng lồ dùng
trong kỹ nghệ xây cất và nông
nghiệp nặng cả ngàn tấn, mang
các nhăn hiệu như Komasu,
Hitachi, Mitsubishi, Kubota và
Shibaura.
Nước Nhật bại
trận trong Thế chiến thứ hai.
Nhưng chỉ trong một phần tư thế
kỷ, nước Nhật đã hồi phục với sự
quyết tâm của nhân dân Nhật và
sự giúp đở của Hoa-kỳ. Ngày nay
nước Nhật là cường quốc kinh tế
thứ hai trên thế giới với tổng
sản lượng nội địa trên căn bản
mãi lực quân bình là 3,651 tỉ Mỹ
kim, chỉ đứng sau nước Mỹ. Tài
sản quý giá nhất của nước Nhật
là 127 triệu dân trong đó có 99
% là người Nhật và phần còn lại
gồm người Hàn quốc và Trung Hoa.
Khoảng 84 % dân Nhật theo cả hai
tôn giáo là Shinto và đạo Phật
và một số ít theo Thiên chúa
Giáo (christians kể cả Roman
catholics).
Thụy sĩ là một
thí dụ khác. Tổng số diện tích
của quốc gia này là 41,300 Km2,
tương đương với 12.5 % diện tích
của Việt-Nam. Tuy nhiên đất đai
trồng trọt của Thụy sĩ được chỉ
bằng 10 % tổng số diện tích.
Không những thế, Thụy sĩ không
có đường thông thẳng ra biển và
hoàn toàn bị bao vây bởi năm
quốc gia khác là Đức, Áo, Pháp,
Ý và Liechtenstein. Dân số của
Thụy sĩ là 7.3 triệu gồm 3 sắc
dân chính là Đức, Pháp, và Ý. Với
những giới hạn về thời tiết và
đất đai, nông dân Thụy sĩ chỉ có
4 tháng để trồng trọt và chăn
nuôi gia súc ngoài trời. Tuy
nhiên, Thụy Sĩ sản xuất kẹo xúc
cù là và sữa bò ngon nhất thế
giới. Ngoài ra, quốc gia này còn
có những sản phẩm công nghệ tinh
xảo mà không một ai trên thế
giới có thể sánh kịp: đồng hồ,
dao kéo, dụng cụ làm vườn, dụng
cụ khoa học chính xác và hóa
phẩm. Dịch vụ ngân hàng tân tiến
của Thụy sĩ đã thu hút rất nhiều
ngoại tệ từ mọi nơi trên thế
giới nhờ danh tính của khách
hàng và nguồn gốc của tiền tệ
được bảo vệ tối đa. Tổng sản
lượng nội địa tính theo mãi lực
quân bình của Thụy sĩ là 233 tỉ
Mỹ kim. Con số tương đương tính
theo đầu người là 32,000 Mỹ kim,
cao hơn hết các nước ở Âu châu,
kể cả Đức và chỉ thua Hoa-kỳ.
Hoà Lan là một
nước rất nhỏ ở Âu châu nhưng
cũng đáng chú ý, với dân số là
16 triệu người và diện tích là
41,500 Km2 mà một phần nằm dưới
mặt nước biển, nên máy bơm phải
hoạt động 24 giờ mỗi ngày và 7
ngày mỗi tuần để bơm nước ra
khỏi phần đất này. Đất trồng
trọt được chỉ chiếm có 26.5 %,
tuy nhiên Hoà Lan nổi tiếng về
kỹ nghệ nông nghiệp. Quốc gia
này xuất cảng hoa tươi, hạt
giống và các nông phẩm chế biến
đi khắp thế giới. Ngoài ra, Hoà
Lan còn sản xuất dụng cụ kim
loại, máy móc điện và điện tử,
hóa phẩm. Kỹ nghệ xây cất của
Hoà Lan rất mạnh. Tổng sản
lượng nội địa cho mỗi người (GDP
tính theo mãi lực quân bình) là
27,200 Mỹ kim.
Chúng
ta chắc chắn phải nghĩ ngợi rất
nhiều về những nước nhỏ như Bỉ,
Đan mạch, Hoà Lan, Thụy sĩ, Tân
gia ba, và Tân tây lan với dân
số cộng lại chỉ bằng 60 % dân số
của Việt-Nam mà phải viện trợ
cho một quốc gia với 80 triệu
dân.
Sự khác biệt giầu
nghèo có phải vì sự chênh lệch
về kiến thức hay không ?
Yếu tố này hẳn có
ảnh hưởng đến vấn đề giầu nghèo.
Người có kiến thức rộng, học lên
trình độ cao, ra trường thường
có việc làm tốt. Tuy nhiên trên
bình diện quốc gia, yếu tố này
cũng không có một tầm quan trọng
đặc biệt. Ấn độ, Trung quốc,
Việt-Nam sản xuất rất nhiều nhà
trí thức, khoa học gia mà kiến
thức của họ không thua gì những
đồng nghiệp của họ ở những nước
Tây phương. Những quản trị gia
của các nước giầu nhận định
rằng, không có sự khác biệt sâu
xa về kiến thức của những đối
tác viên của họ tại những những
nước nghèo và thường những
chuyên viên ngoại quốc lại phải
học hỏi kinh nghiệm địa phương
từ những chuyên viên bản xứ.
Điều này rất là tự nhiên vì sự
khác biệt về văn hóa và ngôn
ngữ.
Phần lớn những
phát minh khoa học trên thế giới
từ trước đến nay đều do những
người Mỹ, Đức, Pháp, Anh, Thuỵ
sĩ, và Ý thực hiện. Phát minh
mới cần rất nhiều thời gian. Tuy
nhiên học hỏi những tiến bộ về
khoa học và kỹ thuật ngày nay
không phải là một vấn đề khó
khăn. Người Nhật và Đaị Hàn và
hiện nay là Trung quốc đã mau
chóng hấp thụ và áp dụng những
tiến bộ khoa học vào bộ máy sản
xuất của họ. Ngoài ra, chính
sách đầu tư nước ngoài đã giúp
cho việc chuyển giao kỹ thuật
cho các nước chủ trở nên dễ
dàng. Thêm vào đó, hàng năm cả
trăm ngàn sinh viên từ các nước
Á châu, Phi châu, Châu Mỹ Latin
du học tại các cường quốc kỹ
nghệ. Không những các sinh viên
này học về những môn khoa học và
kỹ thuật mà còn cả về những
ngành quản trị, kinh tề và tài
chánh nữa. Với các phương tiện
thông tin tân tiến hiện nay,
kiến thức được phổ biến rộng răi
trên khắp thế giới. Sự cách
biệt về kiến thức ngày càng thu
hẹp.
Sự khác biệt giầu
nghèo có phải Vì sắc tộc hay mầu
da hay không ?
Yếu tố này cũng
không có gì vững chắc cả. Một
cách tổng quát người ta nhận
thấy những quốc gia ở Bắc Mỹ và
châu Âu là những nước giầu hơn
cả. Mặt khác, những nước ở Phi
châu tương đối nghèo nhất, rồi
đến các nước Á châu, Trung và
Nam Mỹ. Nhưng không phải nước
nào ở Âu châu cũng giầu có.
Liên bang Nga, Serbia –
Montenegro và Moldova là những
nước nghèo. Mặt khác không phải
nước nào ở Á châu cũng nghèo.
Nhật bản, Đài loan, Nam Hàn, và
Tân gia ba là những nước giầu.
Nhìn về Tây bán
cầu, từ Mexico trở xuống Cape
Horn ở cực nam, không kể Virgin
Islands và Puerto Rico của
Hoa-kỳ, tổng sản lượng nội địa
hàng năm cho mỗi đầu người tính
theo mãi lực quân bình của những
quốc gia trong vùng này ở trong
từ khoảng 1,400 Mỹ kim tới
11,000 Mỹ kim. Nhưng có nước
tương đối giầu hơn là Barbados
và Bahamas. Đây là hai nước nhỏ
mà đa số là dân da đen với tổng
sản lượng nội địa theo mãi lực
quân bình trung bình hàng năm
cho mỗi người là 15,000 Mỹ kim.
Như vậy người ta
có thể kết luận rằng dân thuộc
sắc tộc sống ở miền Bắc thường
giầu có hơn dân thuộc sắc tộc
sống ở miền Nam được không ? Nói
một cách tổng quát, cách phân
biệt này có phần đúng. Các nhà
kinh tế học thường hay dùng đến
danh từ “North-South Trade” để
chỉ sự buôn bán giữa hai khối
giầu và nghèo. Nhưng xét kỹ hơn
cũng có một số trường hợp không
theo định luật này. Liên bang
Nga, Mongolia, và Trung quốc ở
miền cực Bắc, nhưng là những
nước nghèo. Nếu so sánh những
quốc gia lân bang với nhau,
người ta cũng thấy có những nước
miền Bắc nghèo hơn nước láng
giềng ở phương Nam như Bắc Hàn
so với Nam Hàn, Miến điện so với
Thái lan, Bắc Việt so với Nam
Việt (trước 1975), Nepal so với
Ấn độ, hoặc Afghanistan so với
Pakistan. Úc và Tân tây lan ở
miền Nam bán cầu là hai trường
hợp đặc biệt vì công dân của hai
nước này phần lớn thuộc gốc
người miền Bắc là Anh quốc.
Biết bao nhiêu
người ở Việt-Nam di cư sang
Hoa-kỳ, Canada, Úc châu và Âu
châu trong thập niên 70-90 đã
thành công hơn người bản xứ
trung bình trong một thời gian
rất ngắn. Đa số có một đời
sống tương đối đầy đủ, trái hẳn
với đời sống của họ trước đây ở
Việt-Nam. Những cơ hội ở
quê hương mới đã giúp những lớp
di dân này tận dụng được tiềm
năng của họ và thăng tiến nhanh
chóng trong xã hội mới với một
nền văn hóa mới. Xã hội cũ,
nền văn hóa cũ cộng với thể chế
chính trị và kinh tế thui chột
đã làm cho dân tộc sống trong đó
không sao ngoi lên được.
Trước khi lớp nguời Việt-Nam
đặt chân đến Hoa-kỳ hàng loạt,
đã có những người Trung Hoa,
Nhật bản, Hàn quốc, Phi luật
tân, Ấn độ di dân qua Mỹ. Những
lớp người này và con cháu họ
tiếp tục thành công ở Hoa-kỳ.
Thể chế chính trị
có ảnh hưởng đến sự giầu nghèo
không ?
Kinh tế gia đoạt
giải Nobel người Ấn độ Amartya
Sen nghiên cứu về nghèo đói và
dân chủ đã đưa ra một lời tuyên
bố nổi tiếng : “Không bao giờ
có một nạn đói nào đáng kể xẩy
ra ở một nước độc lập, dân chủ
và có tự do báo chí”
[6].
Nhân loại đã chứng kiến nhiều
nạn đói khủng khiếp, nhưng hầu
hết xẩy ra dưới những chế độ độc
tài : (1) Ireland dưới sự đô hộ
độc đoán của người Anh
(1845-1850). Hậu quả: 1 triệu
ngưới Ái nhĩ lan chết và 2 triệu
người di dân qua Mỹ châu; (2)
Nga sô dưới chế độ Cộng sản và
hạn hán (1921). Hậu quả: 5.1
triệu người chết; (3) Ukraine do
kế hoạch nông trường tập thể của
Cộng sản Liên sô (1932-1933).
Hậu quả : 7-10 triệu người chết
; (4) Ethiopia dưới chế độ Cộng
sản và hạn hán (1984-1985). Hậu
quả: 8 triệu người chết ; (5)
India : liên tục trong thời gian
người Anh chiếm đóng cho tới khi
Ấn độ được độc lập vào năm 1947
; (6) Trung Quốc do kế hoạch
“Bước nhẩy vọt” (1958-1961). Hậu
quả : 30 triệu người chết ; (7)
Somalia dưới chế độ độc tài
(1992). Hậu quả : 1.5 triệu
người chết đói; (8) Bắc Hàn dưới
chế độ Cộng sản (1996 đến nay).
Riêng tại
Việt-Nam nạn đói xẩy ra hai lần
kể từ Đệ nhị Thế chiến đến nay :
(1) dưới sự đô hộ tàn bạo và độc
tài của quân phiệt Nhật và thực
dân Pháp (1945). Hậu quả : một
triệu người chết ; (2) trong
thời kỳ kinh tế xã hội chủ nghĩa
(1975-1986). Kết quả : nạn đói
đe dọa từ Bắc vào Nam, trầm
trọng hơn hết là những vùng núi
xa xôi hẻo lánh. Nhà nước phải
lên tiếng kêu gọi Liên hiệp quốc
giúp thực phẩm và một triệu
người vượt biên.
[7]
Chế độ chuyên
chính vô sản và hệ thống kinh tế
chỉ huy tại những nước Cộng sản
đã làm cho hầu hết những nước
này trở nên nghèo đói.
Nổi bật nhất là Liên bang Sô
viết và Đông Đức. Một số các
nước cộng sản trước đây sau khi
trở thành những nước tự do dân
chủ đã trở nên giầu có hơn trong
hơn một thập niên vừa qua :
Czech Republic, Estonia, Poland,
Hungary, Slovakia, và Slovania.
Trung quốc và Việt-Nam một mặt
cải tổ kinh tế, mặt khác vẫn chủ
trương độc tài về phương diện
chính trị. Chế độ kinh tế chỉ
huy tuyệt đối đã được hủy bỏ
nhưng nhà nước vẫn chủ trương
đóng một vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế. Tham nhũng, hiệu
năng thấp kém, và khu vực tư
nhân bị đối sử phân biệt là
những hàng rào cản cho sự phát
triển. Mức sống của dân
chúng đã được cải thiện một phần
nhưng quá chậm chạp và mất quân
bình. Sự chênh lệch giầu nghèo
mỗi ngày một gia tăng. Cả thế
giới chỉ còn hai nước duy nhất
còn tuyệt đối trung thành với
chế độ chuyên chính vô sản là
Cuba và Bắc Hàn. Tổng sản lượng
nội địa cho mỗi người tính theo
mãi lực quân bình của Cuba là
2,700 Mỹ kim cao hơn Việt-Nam
chút đỉnh. Bắc Hàn là một trong
những nước nghèo nhất thế giới
với tổng sản lượng nội địa cho
mỗi người là 1,000 Mỹ kim.
Văn hóa có tạo ra
sự khác biệt giầu nghèo không ?
Ảnh hưởng của văn
hóa trên mức giầu nghèo của các
quốc gia đã được đề cập sơ qua ở
một phần trên. Vấn đề văn hóa
được thảo luận kỹ hơn ở phần này
vì đây là một yếu tố quan trọng
và là chủ điểm của bài viết.
Văn hóa và giáo dục tạo cho mỗi
dân tộc một Triết lý, một nhân
sinh quan về cuộc sống và một số
kiến thức để thực hành Triết lý
đó. Từ thế kỷ này qua thế kỷ
khác, văn hóa đặc thù của mỗi
dân tộc trở thành một di sản của
dân tộc đó. Nó vô h́nh chung
điều khiển cách suy nghĩ và lối
hành động của mỗi thành phần
sống trong xã hội. Thật là
cực kỳ khó khăn nếu chúng ta
muốn cải tiến văn hóa tức là
thay đổi cách suy nghĩ và những
thói quen lâu đời.
Yemen là một nước
Hồi giáo ở Trung Đông. Đàn bà
Yemen thường phải ở nhà. Khi ra
đường họ phải che mặt chỉ để hở
hai con mắt. Đặc biệt đàn bà con
gái Yemen không được làm ở những
nơi như khách sạn, quán ăn, cơ
sở du lịch, ca nhạc giải trí,
v.v. Do đó để cung cấp những
dịch vụ này, nhà cầm quyền Yemen
phải cho nhập cảnh những đàn bà
ở các nước khác mặc dù vào thập
niên 90, nạn thất nghiệp của
Yemen ở vào khoảng 20-30 %. Đàn
ông Yemen lại thích nhai một
loại lá có chất kích thích gọi
là “khat”. Khoảng một giờ sau
khi chất “khat” thấm vào người
rồi, không ai muốn làm việc nữa.
Chất “khat” còn làm cho người ta
không cảm thấy đói. Ngoài ra,
vì bán lá “khat” có lợi tức cao,
nên nông dân dành một số đất để
trồng “khat” thay vì trồng thực
phẩm, trong khi đất đai ở Yemen
rất hiếm vì phần lớn là sa mạc.
Văn hoá hiển nhiên ảnh hưởng đến
kinh tế của mọi quốc gia.
Trước đây đã có
người hô hào dân Việt-Nam bỏ tục
lệ đốt vàng mă vì nó vô nghĩa và
phí phạm tài nguyên. Nhưng sau
gần một nửa thế kỷ, tục lệ đó
vẫn còn. Một thí dụ khác là lên
đồng, một hình thức tế lễ của
Lão giáo. Có một thời gian lên
đồng bị coi như một hủ tục.
Nhưng lại có người cho lên đồng
là một đặc sản của nền văn hóa
Việt-Nam và là một sinh hoạt có
tính cách dân gian. Những người
theo nâng tục lệ này thành một
tôn giáo và gọi là đạo Mẫu. Một
số người ngoại quốc nghiên cứu
văn hoá Việt-Nam gọi sinh hoạt
thờ Bà Chúa Liễu Hạnh này là đạo
Bản địa Việt-Nam. Đây là một
bằng chứng rằng vai trò của phụ
nữ Việt-Nam được đề cao một cách
độc đáo trong xã hội trọng nam
khinh nữ dưới sự ngự trị của Nho
giáo. Bởi vậy mới có hai câu
“Lên đồng sướng hơn lấy chồng
làm quan.” và “Tháng Bẩy giỗ Cha
(Đức Thánh Trần Hưng Đạo), tháng
Ba giỗ Mẹ (Đức Thánh Mẫu Lữ
Hạnh).
[8]
Tục lệ lên đồng vẫn tồn tại ở
Việt-Nam và nay còn được xuất
cảng ra nước ngoài theo chân của
người di dân Việt-Nam.
Học giả Đỗ Thông
Minh phân tách kỹ lưởng sự liên
hệ giữa kinh tế và văn hoá như
sau :
“Kinh tế bao gồm các yếu tố cụ
thể thuộc khoa học tự nhiên,
được coi như phần cương kiện
(hardware) : nhân lực, tri thức,
kỹ thuật, tài nguyên và nhất là
vốn tức tư bản...Văn hóa bao gồm
các yếu tố trừu tượng và phức
tạp hơn nhiều, thuộc khoa học
nhân văn, được coi như phần nhu
kiện (software): tinh thần học
hỏi, tinh thần khoa hoc, tinh
thần kỷ luật, tinh thần mạo
hiểm, tinh thần tích cực, trí
thức cho đến quản trị, tiếp
thị…và những yếu tố này đôi khi
bị chi phối bởi những yếu tố
thoạt Nhìn có vẻ không liên hệ
như phong tục, tập quán ...”
“Kinh tế bao
gồm các yếu tố được coi như
‘tĩnh', rất dễ chuyển giao và
tiếp thu còn văn hóa bao gồm các
yếu tố được coi như ‘động’,
thuộc bản chất con người, có
tính cách riêng tư không dễ
chuyển giao và tiếp thu.
‘Động-tĩnh’ như cặp lưởng nhất
thể ‘âm-dương’, tương khắc mà
tương sinh. Do đó, điểm đáng nói
trong tương quan văn hóa và kinh
tế là ở chỗ dù có cùng một số
vốn, cùng một kỹ thuật, cùng một
tài nguyên … nhưng mỗi người hay
mỗi quốc gia có cách vận dụng
riêng. Do đó mới có khác biệt tư
tưởng ‘Đông-Tây’. ‘Đông’ như
Trung quốc, Nhật bản, Hàn quốc,
Đài loan, Việt Nam … phần lớn
chú trọng vào khoa học nhân văn,
với sở trường nhẫn nại, cũng như
phát huy sức mạnh tập thể trong
điều hoà và tiến tới thăng bằn
g... ‘Tây’ như Hoa kỳ, Đức, Anh,
Pháp … giỏi về khoa học tự
nhiên, đề cao tính tự lập và tài
năng cá nhân, có tinh thần khai
phá, mạnh về sản xuất và quản
lư, có tầm Nhìn xa và quốc tế …”
Do đó mới có những quyết
định khác nhau, cho ra kết quả
khác nhau, và mới có nước giàu,
nước nghèo. Tóm lại sự khác nhau
là do văn hóa. [9]
Một nhà học giả
Tây phương đã nghiên cứu về ảnh
hưởng của tôn giáo, một phần của
văn hóa, đối với đời sống kinh
tế của các dân tộc ở Âu châu.
Ông nhận xét rằng những nước như
Ư, Pháp, Bỉ, Tây ban nha và Bồ
đào nha ở miền Nam Âu châu là
những quốc gia chịu ảnh hưởng
nặng nề của Công giáo. Tỉ lệ dân
số theo đạo này từ 75 % (Bỉ) đến
94 % (Portugal và Spain). Theo
Triết lý của Công giáo, con
người không nên chạy theo giầu
sang phú quí và nên có một cuộc
sống bình dị. Trong khi đó những
nước ở Trung và Bắc Âu chịu ảnh
hưởng nhiều hơn của đạo Tin lành
(christian – non Roman catholic)
như Anh, Đức, Thụy sĩ, Hoà Lan,
Đan mạch, Na-uy, Thụy điển, và
Phần lan. Đạo Tin lành khuyến
khích người theo đạo làm việc
nhiều để có một một cuộc sống
tiện nghi thoải mái. Do đó những
nước ở Trung và Bắc Âu tương đối
có một mức sống cao hơn những
nước ở miền Nam Âu châu.
Nhìn trở về châu
Mỹ người ta thấy trường hợp Bắc
Mỹ và Trung và Nam Mỹ cũng có sự
cách biệt giầu nghèo như Trung
và Bắc Âu so với Nam Âu, nhưng ở
mức độ rộng lớn hơn. Hoa-kỳ và
Canada có tỉ lệ dân số theo đạo
Tin lành theo thứ tự là 56 % và
36 %. Trong khi đó phần lớn dân
số tại những nước ở Trung và Nam
Mỹ theo Công giáo với tỉ lệ từ
76 % đến 96 %. Barbados là một
quốc gia đặc biệt nguyên là
thuộc địa của Anh quốc. Khoảng
67 % dân số của nước này theo
đạo Tin lành, chỉ có 4 % theo
Công giáo. Tổng sản lượng nội
địa trung bình mỗi đầu người là
15,000 Mỹ kim. Bahamas nguyên
cũng là thuộc địa của Anh quốc.
Khoảng 76 % dân số theo đạo Tin
lành, 19 % theo đạo Công giáo.
Tổng sản lượng nội địa trung
bình mỗi đầu người là 15,300 Mỹ
kim, hơn hầu hết các nước ở
Trung và Nam Mỹ, kể cả Mễ tây
cơ, Argentina, Brazil, và Chile.
Trong khi đó Haiti là một nước ở
Trung Mỹ, cũng cùng gốc da đen
Phi châu nô lệ như Barbados và
Bahamas, nguyên là thuộc địa của
Pháp, với 80 % dân số theo Công
giáo. Tổng sản lượng nội địa
trung bình mỗi đầu người của
Haiti chỉ có 1,400 Mỹ kim.
Chế độ kinh tế tư
bản xuất xứ từ châu Âu vào thế
kỷ 16. Max Weber cho rằng người
Âu châu, đặc biệt những tín đồ
Tin lành, có đúng khả năng và ý
chí phù hợp với nền kinh tế tư
bản. Những tín đồ Tin lành làm
việc cần cù và có đức tính tiết
kiệm. Cho đến nay chế độ kinh tế
tư bản đã đánh bại chế độ Cộng
sản, phát triển đến hầu hết khắp
nơi trên thế giới, ảnh hưởng tới
văn hóa ở mỗi địa phương và đồng
thời tự thay đổi cho phù hợp với
sắc thái của từng địa phương.
[10]
Tiếp tục so sánh
các nước Tây phương, GS Tôn Thất
Thiện nêu ra một nhận xét của ô.
Nguyễn Gia Kiểng : "Trước
đây, quốc gia được định nghĩa
như một quá khứ chung, ngày nay
quốc gia chủ yếu là một tương
lai chung.” và GS Thiện nhận
định rằng : “Các quốc gia Âu
châu, là những quốc gia được coi
như tân tiến hạng nhất của thế
giới, đã không tiến được vì
người Âu châu hấp thụ một văn
hóa nặng về phần bảo tồn quá
khứ. Hoa Kỳ đã vượt tới được vì
người Mỹ chấp thu một văn hóa
hướng về tương lai. Bí quyết của
phát triển, tiến bộ ngày nay là
đó. Quá khứ là cái neo, có tác
động rà chiếc tàu lại, trong khi
tương lai là động cơ, có tác
dụng đẩy chiếc tàu đi tới.”
[11]
Nhiều kinh tế gia
đã nghiên cứu về hiện tượng phát
triển kinh tế mạnh mẽ, tiến rất
cao trong thời gian rất ngắn của
Nhật bản và bốn con rồng Á châu
là Tân gia ba, Đài loan, Hồng
kông, và Nam Hàn từ giữa thập
niên 60 đến giữa thập niên 90.
Họ nhận thấy rằng văn hóa của
các quốc gia này có một điểm
chung là đều chịu ảnh hưởng sâu
đậm của Khổng giáo, với một mức
độ tương đối ít hơn đối với Nhật
bản. Khổng giáo đề cao trung
trực, đức tin, trung thủy, hoà
đồng, hiếu thảo, và trí tuệ.
[12]
Những giá trị tốt đẹp này giúp
cho hệ thống xã hội và kinh tế
của các quốc gia này vận hành
một cách trật tự và có hiệu
quả. Trong khi đó Thái lan chịu
ảnh hưởng của Phật giáo, Phi
luật tân chịu ảnh hưởng của Công
giáo và Nam dương chịu ảnh hưởng
của Hồi giáo tiến chậm hơn.
Các học giả
nghiên cứu về Phật giáo nhận xét
rằng đạo Phật không mấy ảnh
hưởng đến sự phát triển kinh tế
ở Á châu. Hy V. Lương Nhìn nhận
rằng, Triết lý của Khổng tử đã
chủ yếu định đoạt mô thức kinh
tế của Trung quốc, Nhật bản, Hàn
quốc, Tân gia ba cũng như
Việt-Nam. Ông không đề cập gì
đến ảnh hưởng của đạo Phật.
[13]
Charles Keyes lập luận rằng,
Phật giáo đóng góp rất khiêm
nhường vào sự bành trướng của
nền kinh tế tư bản ở Thái lan
qua thỏa hiệp, mơ hồ, và yên
lặng (compromise, ambiguity, and
silence).
[14]
Văn hóa ảnh hưởng
đến Việt-Nam ra sao ?
Quay trở về với
Việt-Nam người ta có những nhận
xét nào ? Cựu Bộ trưởng Quốc
phòng của Hoa-kỳ Robert McNamara
đã nhận định rằng Mỹ thua trong
chiến tranh Việt-Nam là vì sức
mạnh văn hóa Việt-Nam.
[15]
Tuy vậy, văn hóa Việt-Nam, thể
hiện ở bản chất của dân tộc
Việt, có những cái tốt lẫn những
cái xấu như sẽ được phân tách ở
phần dưới đây. Văn hóa Việt-Nam
chịu ảnh hưởng nặng nề của Phật
giáo, Khổng giáo và Lão giáo.
Triết lý của tam giáo này đã ảnh
hưởng sâu đậm vào nhân sinh quan
của dân tộc Việt-Nam từ vài ngàn
năm nay.
Phật giáo
Phật giáo thịnh
hành nhất dưới triều đại nhà Lê
(1009-1225) và triệu đại nhà
Trần (1225-1400).
[16]
Nhưng theo sử liệu, Phật giáo
được truyền từ Ấn độ đến
Việt-Nam vào khoảng 300 năm
trước Tây lịch.
[17]
Triết lý của đạo Phật đã ăn sâu
vào văn hoá Việt-nam. Đạo Phật
khuyên con người sống thiện, ăn
ở đạo đức, bao dung, không ức
hiếp ai, không tham sân si. Luật
nhân quả của nhà Phật khuyên
chúng sinh “ở hiền gập lành”
được mô tả bằng hai câu ca dao
dưới đây :
“Ai ơi hãy ở cho
lành,
Kiếp này không
được, để dành kiếp sau.”
Cuộc đời ngắn
ngủi nhưng là một bể khổ. Tu sẽ
trở thành Phật và sẽ thoát ra
khỏi kiếp luân hồi. Trái với
Triết lý của Tây phương, với chủ
trương khai phá thiên nhiên để
làm cho đời sống mỗi ngày một
tiện nghi, đạo Phật khuyên chúng
sinh sống hoà mình với thiên
nhiên, không sinh sát. Trái với
sự khuyến khích người đời học
làm quan và tích cực tham dự vào
việc cai trị nước của Khổng
giáo, Phật giáo chủ trương tách
rời khỏi giới quyền thế.
[18]
Lịch sử Việt-Nam đã chứng minh
rằng Phật giáo nhập thế, ra tay
nghĩa hiệp khi thấy có trách
nhiệm với đời, trước một xã hội
đảo điên hoặc khi đạo pháp và
đất nước lâm nguy.
Hoà thượng Thích
Huyền Quang dậy rằng : "Đạo
Phật ra đời để cứu khổ cho muôn
loài. Đây là bước tiến vĩ đại
trong tư tưởng cũng như trong
hành động tại xã hội Ấn độ nói
riêng, và cho loài người nói
chung, cách đây 2544 năm. Giải
phóng con người khỏi vô minh,
khỏi sự sợ hăi và nô lệ thần
linh hay các luồng ý thức hệ
cuồng tín, giải phóng con người
khỏi sự hà khắc và bất công của
mọi hệ thống xã hội. Vào thời
đức Phật tại thế, giáo lý đạo
Phật đánh đổ mọi học phái thần
quyền, mọi chủ nghĩa hư vô, duy
vật, hoài nghi, định mệnh, đưa
Con Người vào vị thế trung tâm
giữa trời đất để giải thoát tự
thân và giải phóng tha nhân.
Không hề có những yếu tố phi xã
hội trong giáo lư đạo Phật, vì
thế người Phật tử luôn tôn trọng
và đương đầu bảo vệ con người,
chống lại những bất công hay bất
bình đẳng xã hội, vốn là nguyên
nhân chà đạp quyền sống của
lương dân, ngăn cản hạnh nguyện
tu học để tiến thủ, ngăn cản sự
thực hành Từ, Bi, Trí, Lực, theo
chí nguyện Bồ tát cứu đời, ngăn
cản sự hiện thực Giác ngộ".
[19]
Khổng giáo
Văn hoá Việt-Nam
chịu ảnh hưởng sâu đậm của Khổng
giáo hay còn gọi là Nho giáo.
Vua Lê Thánh Tông vào thời Hậu
Lê (1428-1527) nâng Nho giáo lên
hàng quốc giáo. Nho giáo tiếp
tục giữ vai trò độc tôn qua đến
triều Nguyễn.
[20]
Nho giáo là một triết lý dậy con
người biết cách ăn ở và đối xử
với nhau trong xã hội do Khổng
Tử và người học trò là Mạnh Tử
truyền lại trong dân gian. Khổng
giáo chủ trương một trật tự xã
hội, có trên có dưới rơ ràng. Có
“đồng đẳng” rồi mới “bình
đẳng”. Về mặt đạo đức, Khổng Tử
có những lời khuyên như “Tôn sư
trọng đạo”, “Kính Lão đắc thọ”,
“Quân vi quân, thần vi thần”,
“Tiên học lễ, hậu học văn”,
“Trung, hiếu, nhân, nghĩa, lễ,
trí, tín”, “Tại gia tòng phụ,
xuất giá tòng phu, phu tử tòng
tử”, “Công dung ngôn hạnh”. Mạnh
Tử cũng lưu truyền lại một vài
lời khuyên như “dân vi quý, quân
vi khinh”. Về mặt kinh tế, “dân
giầu nước mạnh” là tư tưởng của
Khổng Mạnh. Trong thời loạn lạc
trai thiếu gái thừa, và Trung
quốc là một xã hội nông nghiệp
cần nhân lực để sản xuất, nên
Khổng Tử khuyên cho đàn ông lấy
nhiều vợ để sinh con đẻ cái
nhiều.
Triết lý Khổng
Mạnh dậy con người tôn trọng tôn
ti trật tự sẵn có, phục tòng
người trên và trông đợi kẻ dưới
phục tòng lại mình. Do đó sáng
kiến cá nhân không được tôn
trọng và tinh thần dân chủ không
được khuyến khích. Theo thuyết
Thiên mệnh của Khổng Mạnh, mỗi
người đều có số mệnh do “trời”
định. Tuy nhiên “đức năng thắng
số”. Câu này có nghĩa là có
“trời” nhưng cũng có “ta” và con
người cũng có thể tránh được số
mệnh khi mình chưa tới số theo
thuyết Nhân Quả Nghiệp Báo của
đạo Phật.
[21]
Câu thơ của cụ Nguyễn Du trong
truyện Kiều sau đây mang hai ư
nghĩa đó:
“Đã mang lấy
nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách
lẫn trời gần trời xa.
Thiện căn ở tại
lòng ta,
Chữ tâm kia mới
bằng ba chữ tài”.
Tâm
là của con người, tài do do trời
ban cho. Đến thời Tống bên Trung
quốc, Nho giáo biến đổi (Tống
Nho) đề cao giá trị khoa bảng,
khuyến khích lối học từ chương,
và mục đích học ra làm quan.
Việt-Nam chịu ảnh hưởng khá nặng
bởi quan niệm Tống Nho. Nguyễn
Gia Kiểng phê phán rằng kẻ sĩ
vẫn là mẫu mực của trí thức Việt-Nam.
Nhưng kẻ sĩ là gì nếu không phải
là một mẫu người tồi hèn, vong
thân, chỉ mưu lợi cho chính mình
? Kẻ sĩ cả đời chỉ học được một
nghề là nghề quý. Lúc nhỏ thì
quý trước thầy. Khi lớn lên thì
quý trước vua quan. Bằng cấp nói
lên một phần ba những gì người
Pháp biết nhưng đối với người
Việt-Nam, nó là ba lần những gì
họ biết.
[22] Nếu trí thức như
thế cả thì đất nước làm sao khá
được.
Lão giáo
Trái với Khổng
Mạnh với sự khuyên dăn con người
nhập thế, làm cho xã hội đẹp qua
một số nguyên tắc xử thế ở đời,
Lão Tử và người học trò là Trang
Tử khuyên con người nên xa lánh
trần thế, không bon chen, sống
nhàn hạ, và cố gắng tu lên cơi
tiên. Lão giáo quan niệm rằng
Đạo là nguồn gốc của trời đất.
Trên trời còn có Đạo. Triết lý
căn bản của Đạo Lão là sự hoà
đồng tự nhiên giữa những mâu
thuẫn trong cuộc sống như âm với
dương, giữa tăm tối với sáng lạn,
giữa hận thù với yêu thương,
“hết cơn bí cực tới hồi thái lai”,
thời loạn lạc kéo dài rồi cũng
sẽ chấm dứt và thời bình tự
nhiên sẽ tới. Xây đập ngăn chặn
luồng nước chảy là chống lại
thiên nhiên. VÌ vậy Lão Tử chủ
trương thuyết Vô Vi. Ngài khuyên
người đời sống theo luật thiên
nhiên và hoà mình với thiên
nhiên.
Vì chủ trương
theo luật thiên nhiên, những
luật lệ do Khổng Tử đặt ra như
tam cương ngũ thường, tam tòngtứ
đức không cần thiết vì thiên
nhiên có những nguyên tắc tự
nhiên có thể quan sát thấy ở các
sinh vật. Đặt ra mẫu mực hẳn hoi
mà có người theo được có người
không là tạo ra tranh căi và hỗn
loạn. Thiên nhiên cũng có sẵn
trật tự tự nhiên rồi. Vạn vật
bình đẳng và tự do trái với tôn
ti trật tự trong xã hội phong
kiến do Khổng Tử đặt ra (quân
quyền, phụ quyền và nam quyền).
Trái với Khổng giáo và quan niệm
của Tây phương, Lão Tử cho rằng
Đạo có nữ tính. Ngài nói về “mẹ
của vạn vật” (vạn vật chi mẫu)
và “mẹ nuôi muôn loài” (tự mẫu).
[23]
Đạo Lão vận hành
theo qui luật phản phục, có
nghĩa là mọi sự đi xa rồi đều
trở về gốc mà gốc là Đạo. Đối
với Đạo Lão thời gian chuyển
biến theo chu kỳ, khác với quan
niệm của Tây phương cho rằng
thời gian chuyển biến theo một
đường thẳng vô tận. Ông khuyên
người đời giải quyết những khó
khăn ở đời không phải bằng cách
cầu nguyện một đấng siêu việt vô
h́nh mà bằng cách suy ngẫm nội
tâm và quan sát ngoại cảnh. Ngài
cũng khuyên người đời nên tu
luyện bản thân về cả thể xác lẫn
tinh thần để có một cuộc sống an
bình bằng nghệ thuật tĩnh tâm,
châm cứu, thuốc bắc, tài Chi, và
võ thuật.
Phật, Khổng, và
Lão giáo xuất hiện tại Trung Hoa
và Việt-Nam cùng thời hoặc trước
sau không bao lâu và thường cùng
tồn tại trong tâm mỗi cá nhân.
Ngoài ra Việt-Nam lại bị Trung
Hoa đô hộ gần 1,000 năm. Qua ảnh
hưởng sâu đậm của “tam giáo”, mà
Khổng giáo là mạnh nhất, dân tộc
Việt-Nam nói chung có khuynh
hướng ưa chuộng một cuộc sống an
nhàn, làm đủ ăn, yêu hoà bình,
không cực đoan, tâm hồn mở rộng,
có tinh thần hoà đồng tôn giáo,
tư tưởng độc lập, coi trọng gia
đình, nhân từ, can đảm, chín bỏ
làm mười, thông minh, nhưng ít
có sáng kiến, thiếu tính thần
mạo hiểm và khai phá, trọng văn
kinh nghề, đầu óc quan liêu,
phong kiến, phục tùng người có
địa vị và quyền thế, ích kỷ,
thiếu kinh nghiệm làm việc tập
đoàn, thiếu tinh thần trách
nhiệm, thiếu tự trọng, không
biết tôn trọng giờ giấc, ăn xổi
ở thì và khôn vặt. Chính vì vậy
dân tộc Việt-Nam thiếu đoàn kết,
thiếu kỷ luật khi sống tập thể,
dễ tin, dễ chấp nhận những gì du
nhập tới. Khi các đạo Công giáo,
Tin lành, Baha’i, v.v. du nhập
vào Việt-Nam, nhiều người đã
theo các tôn giáo mới này.
Văn hóa Tây
phương
Ảnh hưởng của Tây
phương đến với Việt-Nam qua sự
đô hộ gần 100 năm của người Pháp
và sự hiện diện đông đảo của
quân đội Mỹ tại miền Nam từ
1962-1973. Với lớp người trẻ đi
du học ở nước ngoài càng ngày
càng nhiều, ảnh hưởng của văn
minh Âu Mỹ dần dần thay đổi lối
sống cổ truyền, cách làm việc và
lối suy tư của người Việt. Dân
tộc Việt hấp thụ được của Tây
phương những điều tốt đẹp như ý
niệm dân chủ, quyền tự do cá
nhân, tinh thần khoa học, óc
thực tiễn và tiện nghi vật chất
của đời sống văn minh. Tú Xương
nhận xét buổi giao thời giữa hai
lối học từ chương và học áp dụng
bằng hai câu thơ sau đây:
“Cái học nhà nho
đã hỏng rồi,
Mười người đi học
chín người thôi.”
Xã hội chủ nghĩa
Chủ nghĩa Cộng
sản không ngự trị được ở nhiều
nước Á châu như Thái lan, Phi
luật tân, Mă lai, Tân gia ba,
Miến điện, Nam dương, Ấn độ,
Pakistan, Bangladesh, và Tích
lan, nhưng đã chiếm trọn vẹn
Việt-Nam, Trung quốc và một phần
Hàn quốc. Cả ba quốc gia này đều
chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Khổng
giáo và ở mức độ ít hơn của Phật
giáo. Trong hơn một nửa thế kỷ,
chủ nghĩa quốc tế chuyên chính
vô sản vô thần đã hủy hoại nhiều
giá trị cổ truyền tốt đẹp về con
người, gia đình, xã hội và tín
ngưởng ở Việt-Nam. Trong khi đó
phẩm chất giáo dục xuống cấp thê
thảm. Chính sách cai trị độc
đoán đưa đến bất công và tham
nhũng. Ưu tiên của nhà nước
là duy trì quyền lợi và bảo vệ
ngôi vị độc tôn của đảng CSVN.
Do đó chính sách này đã tạo điều
kiện thích hợp để những phó sản
tiêu cực của nền kinh tế tư bản
xâm nhập vào xã hội Việt-Nam,
giống như thời kỳ trên một nửa
triệu quân Mỹ có mặt tại miền
Nam Việt-Nam. Kết quả là đạo
đức suy đồi, giá trị vật chất
được đề cao, với hai tính chất
nổi bật là sự dối trá và nghi kỵ.
Hậu quả sẽ còn tiếp tục đến
nhiều thế hệ sau.
Văn hóa đa nguyên
Hiện nay chính
sách bóp nghẹt tự do tôn giáo
vẫn được áp dụng. Nền văn hoá vô
thần và ảnh hưởng tai hại của nó
chưa tiêu tan, nhưng sự cáo
chung chỉ là vấn đề thời gian.
Lúc đó giá trị đạo đức của tam
giáo sẽ có khuynh hướng phục hồi
ở Việt-Nam. Cũng như trước đó,
những giá trị tốt đẹp của văn
minh Tây phương được chấp nhận
nhưng chỉ bổ túc chứ không thể
thay thế ảnh hưởng của tam giáo
đã ăn sâu trong tâm hồn dân Việt
trên 2,000 năm. Việt-Nam đã kết
tụ được nhiều nền văn hoá khác
nhau và dung hợp lại thành một
nền văn hoá riêng biệt cho mình.
Chính vì vậy mà GS Nguyễn Khắc
Kham đã nhận định rằng Việt-Nam
có một nền văn hoá đa nguyên với
một đặc tính nhất nguyên.
[24] Việt tính làm
cho văn hóa Việt-Nam mạnh.
Người Trung Hoa
đề cao việc buôn bán qua câu
cách ngôn “Phi thương bất phú”
còn người Việt-Nam coi thường
dịch vụ thương mại qua câu : “Sĩ
nông công thương”.
Thái độ sai lầm
như trên là một trở ngại lớn cho
sự phát triển kinh tế quốc gia.
Nhà văn hóa học
Đỗ thông Minh trong bài “Tự vấn
: Người Việt mạnh yếu ở chỗ nào
?” nêu ra một số nhận xét về
một số khuyết điểm của người
Việt như sau :
[25]
1.
Đa số trong những
người hiếu học mang nặng tinh
thần từ chương, quan lại, trọng
bằng cấp từ ngàn xưa. Họ học để
tìm sự giầu có, phong lưu cho
bản thân và gia đình hơn là giúp
đời.
2.
Luôn mang nặng
tình cảm, thiếu lý trí, nặng
tinh thần địa phương, tôn giáo.
3.
Thiếu ý chí,
thiếu sáng tạo, thiếu nghiên cứu,
thiếu mạo hiểm, thiếu tầm Nhìn
xa, nói dối quanh, ít nhận lỗi,
thiếu trật tự, thiếu nguyên tắc,
thiếu tôn trọng của công, ăn cắp
vặt, tự cao, tự ti, ỷ lại, thù
dai, nặng mê tín, mau chán,
thiếu tinh thần dân chủ, không
giữ lời hứa.
4.
Làm việc tắc
trách, năng suất kém.
5.
Ranh vặt, quỷ
quyệt, nông nổi, khoác loác,
hiếu danh.
6.
Không muốn bất cứ
một luật lệ nào rằng buộc.
7.
Sống xa lánh cộng
đồng của mình trừ khi gập khó
khăn cần giúp đở.
8.
Tính xấu chung
làm nẩy sinh ra lãnh đạo tồi và
chia rẽ.
Một cuộc so sánh
giữa các nước nghèo và các nước
giầu cho thấy sự khác biệt căn
bản giữa hai nhóm quốc gia là
sự khác biệt về thái độ của
người dân đối với một số vấn đề
liên quan đến đời sống cá nhân
và xã hội tại các quốc gia này.
Đây là nguyên do chính tạo ra sự
cách biệt giầu nghèo. Tại
các nước giầu, phần đông dân
chúng tuân thủ theo những nguyên
tắc sau đây trong đời sống hàng
ngày. Trong khi đó ở những nước
nghèo chỉ có một thiểu số tuân
theo nhửng nguyên tắc này :
1.
Nguyên tắc đạo
đức.
2.
Sự chính trực.
3.
Trách nhiệm.
4.
Tôn trọng qui tắc
và pháp luật.
5.
Tôn trọng quyền
của những người khác.
6.
Thích làm việc.
7.
Nỗ lực để tiết
kiệm và đầu tư.
8.
Ý chí muốn làm
thực hiện dự án lớn.
9.
Đúng giờ.
Những nguyên nhân
trực tiếp nào gây ra sự nghèo
đói ?
Văn hóa, hoặc nói
với nghĩa hẹp hơn là nhân sinh
quan và bản chất của một dân tộc
là nguyên nhân sâu xa và quan
trọng của sự giầu nghèo. Nhưng
yếu tố này lại không dễ nhận
biết vì nó không ngừng ảnh hưởng
hàng ngày đến số phận của dân
tộc đó từ thế kỷ này qua thế kỷ
khác. Nó không trực tiếp gây ra
những biến cố hay những thay đổi
bất ngờ để có thể thu hút được
sự chú ý. Sự nghèo đói có những
lý do trực tiếp của nó. Nếu một
dân tộc có một bản chất vững
mạnh, một nhân sinh quan đúng
đắn, dân tộc đó có thể vượt qua
được những hoàn cảnh khó khăn và
những nguyên nhân trực tiếp của
sự nghèo đói.
Một trong những
nguyên nhân trực tiếp gây ra sự
nghèo đói là chính những nạn
nhân của nghèo đói thiếu sức lao
động căn bản, không có đủ khả
năng nghề nghiệp, sức khỏe và
tài nguyên thiên nhiên như đất
đai, nước, không có việc làm,
không được tiếp cận với những hạ
tầng cơ sở, nguồn vốn và dịch vụ
xã hội.
Nguyên nhân trực
tiếp thứ hai gây ra sự nghèo đói
là “giai cấp” nghèo hoàn toàn
không có tiếng nói và bất lực.
Thêm vào đó, nhà nước không chú
tâm đến họ. Giai cấp nghèo dễ
trở thành nạn nhân của các cơ
quan công quyền địa phương vá sự
bóc lột của những thành phần xã
hội khác. Họ thường bị đối sử
bất công vì không có quyền thế.
Nguyên nhân trực
tiếp thứ ba của sự nghèo đói là
người nghèo không có khả năng
chịu đựng những rủi ro bất ngờ.
Kinh nghiệm cho thấy rằng, sự
phát triển kinh tế liên hệ mật
thiết với mức độ nghèo đói. Khi
kinh tế của một nước đi xuống,
người nghèo bị thiệt hại nhất vì
không có khả năng để chịu đựng
những thay đổi như về giá cả và
thuế má. Khi kinh tế phát triển,
người nghèo không chắc được
hưởng kết quả một cách tương
xứng nếu nhà cầm quyền không thi
hành những kế hoạch trực tiếp
giúp đở người nghèo như phát
triển những ngành kỹ nghệ xử
dụng nhiều nhân công, đầu tư vào
việc giáo dục và huấn nghề và
thực hiện những dự án phát triển
ngắn và dài hạn trong lãnh vực
sản xuất và hạ tầng cơ sở ở nông
thôn và khu vực nghèo.
Kết luận
Căn cứ vào sự
phân tách khách quan ở phần trên,
hiển nhiên Việt-Nam nghèo không
phải vì đất nước chúng ta nhỏ,
tài nguyên thiên nhiên ít, hoặc
bị thiên tai thường xuyên. Nước
Việt-Nam nghèo cũng không phải
vì kiến thức của chúng ta thua
kém. Nước Việt-Nam nghèo vì
một nguyên nhân sâu sa là bản
chất của người Việt có nhiều
khuyết điểm. Chúng ta thiếu một
nhân sinh quan đúng đắn và thiếu
ý chí để tuân theo những quy
luật vận hành mà những nước giầu
và phát triển đã xử dụng và nhà
nước thiếu những kế hoạch kinh
tế hữu hiệu. Trong dài hạn, Việt-Nam
muốn vươn lên phải thay đổi văn
hóa để loại bỏ những hủ lậu
trong xã hội như nhóm Tự Lực Văn
Đoàn đã từng làm bằng ng̣òi bút,
và để chấp nhận những giá trị
thực tiễn mới.
Thêm vào đó là sự
thiếu khôn ngoan của giới lãnh
đạo quốc gia.
“So sánh vua Tự Đức, cùng triều
đình (nhà Nguyễn) của Việt Nam
và bà Từ Hy Thái hậu cùng triều
đình (nhà Thanh của Trung Hoa)
với Minh Trị Thiên hoàng cùng
triều đình (Meiji) của Nhật vào
đầu hậu bán thế kỷ thứ 19. Tự
Đức và Từ Hy Thái hậu đã ngu dốt
hơn Minh Trị Thiên hoàng. Cũng
như giới lãnh đạo cộng sản kể từ
Hồ chí Minh cho tới nay đã ngu
dốt hơn lãnh đạo của những nước
chung quanh, vì đưa dân tộc từ
cuộc chiến tranh này tới chiến
tranh khác, tưởng rằng thoát
khỏi thực dân Pháp thì được độc
lập, nhưng rồi bị lệ thuộc Nga,
nay bị lệ thuộc Tàu còn thê thảm
hơn.”
[26]
Thật vậy chiến
tranh đã kéo dài trên quê hương
chúng ta quá lâu. Sau chiến
tranh Việt-Pháp để dành độc lập
được vài năm là tiếp ngay đến
chiến tranh Nam Bắc. Sau khi
cuộc chiến này chấm dứt vào năm
1975, lại thêm hai cuộc chiến
nữa tại Cao miên (1978-1989) và
biên giới Việt-Trung (1979).
Ngoài ra, nhà nước Việt-Nam có
những chính sách kinh tế sai lầm
nghiêm trọng từ 1975 đến 1988
làm cho đất nước thụt lùi trong
khi các nước Á châu khác tiến
lên dưới một hiện tượng được cả
thế giới biết đến gọi là “Phép
lạ Đông Á.”[27]
Vài năm sau khi
băi bỏ chính sách hợp tác hoá
nông nghiệp, Việt-Nam đã thành
công trong việc xóa đói giảm
nghèo. Tỉ lệ số người nghèo đã
giảm từ 58 % trong năm 1993
xuống còn 37 % trong năm 1998 và
29 % trong năm 2002. Kết quả
này đạt được phần lớn là nhờ
chương trình “đổi mới” bắt đầu
thực hiện vào năm 1988, dù quá
trễ còn hơn không. Theo đó chế
độ kinh tế thị trường được áp
dụng với sự tham gia của cá thể,
công ty tư doanh, và đầu tư nước
ngoài. Quan trọng nhất là việc
ban hành luật Đất đai 1988 và
1993, luật Doanh nghiệp 1999 và
luật Đầu tư Nước ngoài 1987.
Tuy nhiên mức độ
nghèo đói ở Việt-Nam vẫn còn sâu
rộng. Sự chênh lệch giầu nghèo
giữa nông thôn và thành thị tại
Việt-Nam ngày càng gia tăng và
hiện nay vào khoảng 3.7 lần theo
số liệu của nhà cầm quyền, nhưng
trên thực tế là 10 lần. Ba vùng
nghèo nhất Việt-Nam là vùng Núi
miền Bắc, Cao nguyên Trung phần
còn gọi là Tây nguyên và vùng
duyên hải Bắc Trung phần. Các
nước Nam Hàn, Tân gia ba và Đài
loan không những thành công vựợt
bực về việc phát triển kinh tế
mà còn giảm bớt được sự chênh
lệch giầu nghèo. Việt-Nam vẫn
là một trong những nước có tổng
sản lượng nội địa bình quân đầu
người tính theo mãi lực quân
bình là 2,300 Mỹ kim ở mức thấp
nhất thế giới vì chương trình
cải tổ kinh tế “đổi mới” chỉ
được thực hiện một cách vá víu.
[28]
Thật vậy, nhà cầm
quyền vẫn chủ trương duy trì các
doanh nghiệp nhà nước, một khu
vực thiếu hiệu năng và lỗ nặng.
[29] Khu vực quốc
doanh không những không tạo ra
nhiều việc làm như khu vực tư
nhân mà còn xử dụng phí phạm
nhiều tài nguyên, Các xí nghiệp
quốc doanh không kể các ngân
hàng thương maị nhà nước, hiện
mang một món nợ khổng lồ là 13.6
tỉ Mỹ kim.
[30] Điều này làm
thiệt hại đến các ngành khác như
giáo dục. nhà cầm quyền đáng lẽ
phải dành ưu tiên cho giáo dục
vì đây là một cách đầu tư lâu
dài và quan trọng. Tuy nhiên vì
ngân sách thiếu hụt, nên nhà
nước bắt các học sinh các trường
tiểu công lập “tình nguyện” đóng
góp vào “quỹ bảo trợ nhà trường”,
tạo thêm gánh nặng cho dân nghèo.
[31]
Trẻ em nghèo ở Việt-Nam chỉ hi
vọng được học xong bậc tiểu học
và trung học. Nhưng trên thực tế,
Việt-Nam là một trong bốn nước ở
vùng Đông Á mà các học sinh phải
trả học phí ở cả hai cấp này. Ba
nước kia là Thái lan, Cao miên
và Trung quốc. Học sinh mẫu giáo,
tùy theo quận huyện, cũng phải
đóng học phí từ 1 triệu đến 3
triệu đồng Việt Nam một năm.[32]
Kế hoạch thị
trường hoá ngành giáo dục của
Việt-Nam thật sự cũng lại bắt
chước Trung quốc.
[33] Kết quả là học
sinh thuộc gia đình giầu có,
thường là con cháu công an, đảng
viên, và cán bộ, được học trường
tốt và được ưu đãi. Nhiều học
sinh con nhà nghèo không có tiền
trả học phí phải ở nhà.
[34] Đây là chưa bàn
tới phẩm chất của nền giáo dục
hiện nay ở Việt-Nam với sách
giáo khoa còn sặc mùi xã hội chủ
nghĩa lỗi thời, nạn thi giùm,
chấm thi theo tiêu chuẩn của
đảng CSVN, bằng cấp giả, bằng
“tiến sĩ nhân dân”. Trường
Đại học Quốc gia ở Hà-nội, một
trường khá nhất của Việt-Nam,
mới đây bị xếp vào hạng 62 trong
65 trường đại học ở Á châu.
[35] Đâu là công
bằng xã hội ?. Đâu là kế hoạch
phát triển quốc gia trường kỳ ?
Nếu đã chủ trương theo đuổi một
nền kinh tế theo định hướng xã
hội chủ nghĩa mà nhà nước lại bỏ
rơi đa số dân nghèo thì đây là
những nghịch lý lớn lao.
Kết quả của cuộc
điều nghiên mới nhất về chỉ số
tự do kinh tế của 155 nước do
Heritage Foundation và Wall
Street Journal thực hiện cho
thấy Việt-Nam được xếp hạng 141
và vẫn bị coi là một trong những
nước “hầu hết mất tự do” (mostly
unfree). Tình trạng tự do kinh
tế của Việt-Nam trong năm 2003
trở nên tồi tệ hơn so với năm
2002, trong khi phần lớn các
quốc gia khác đạt được tiến bộ
tích cực trong lãnh vực này.
[36] Càng bị gò ̣
bó kinh tế càng khó phát triển.
Để thoát khỏi sự nghèo đói và
tụt hậu so với các nước láng
giềng, Việt-Nam cần phải ưu tiên
phát triển hai khu vực nông thôn
và tư doanh, cải tổ thật sự khu
vực quốc doanh, giảm bớt sự can
thiệp của nhà nước vào kinh tế,
thực hiện những dự án giúp tạo
việc làm cần nhiều nhân công tại
nông thôn và đặc biệt tại các
vùng nghèo nhất nước và cải
thiện những chương tŕnh an sinh
xã hội.
Tham nhũng, bất
công, bưng bít thông tin, và khả
năng cạnh tranh thấp là những hệ
quả của một thể chế chính trị
độc đoán, đã và đang tiếp tục
cản trở việc phát triển toàn
diện của đất nước. Do đó song
song với sự cải tổ sâu rộng hơn
về mặt kinh tế, Việt-Nam phải
thực hiện những cải tổ về chính
trị.
Tại sao những nhà
cầm quyền ở Hà-nội chưa hành
động trước những nguy cơ to lớn
và hiển nhiên cho đất nước như
thế ? Kiến thức không phải là
vấn đề, vì Việt-Nam hiện nay có
những chuyên viên tài giỏi ở
trong nước dù chưa nhiều và các
cơ quan quốc tế luôn luôn sẵn
sàng giúp đở. Lư do chính là ư
thức hệ cổ lỗ sĩ, một phần của
văn hóa, nó chưa chịu thay đổi.
Việt-Nam vay mượn văn hóa của
Trung Quốc nên cách suy nghĩ và
hành động cũng giống nhau.
[37] Các nhà lãnh
đạo Hà-nội phải chờ vua quan ở
Bắc kinh hành động rồi mới làm
theo. Xưa (triều đình nhà
Nguyễn và triều đình nhà Thanh)
và nay (CSVN và CSTQ) cũng vậy
hay sao ?
Mong rằng chúng
ta cùng nghiên cứu lại lịch sử,
Nhìn cái gương của Vua Tự Đức và
Từ Hy Thái hậu để mau chóng giải
phóng đất nước ra khỏi tình
trạng tụt hậu trong suốt 150 năm
qua. Quốc nạn này không thể kéo
dài hơn. ♣
Chú thích :
Chú thích :
-------------------------------------------------------------------------
[1] Theo định
nghĩa của nhà nhân chủng học Anh
Edward Tyler, trích từ Lâm Lễ
Trinh, “Tận dụng văn hoá để đấu
tranh cho dân chủ,” Thuỷ Hoa
Trang, California: 10.9.2000.
[2] World Bank,
“World Development Report
2000/2001 – Attacking Poverty,”
Washington, DC: 2001.
[3] Tất cả những
số liệu về tổng sản lượng nội
địa, dân số, diện tích và tôn
giáo dùng trong bài viết này đều
liên hệ với năm 2002 và lấy từ
tài liệu “World Factbook 2003”
do cơ quan CIA soạn và lưu trữ
trên mạng lưới www.cia.gov.
[4] Mỗi thùng
(barrel) chứa 42 gallons dầu thô.
[5] Tổng sản
lượng nội địa (không tính theo
căn bản mãi lực quân bình) cho
mỗi đầu người là 430 Mỹ kim vào
năm 2002.
[6] Amartya Sen
and Amartya K. Sen, “Poverty and
Famines – an Essay on
Entitlement and Deprivation”,
Oxford University Press, London,
1983.
[7] Nguyễn Quốc
Khải, “Liệu cải tổ kinh tế và mở
cửa buôn bán với thế giới sẽ
mang lại tự do dân chủ cho Việt-Nam
hay không?” Thế Kỷ 21, số 176,
Westminster, California:
December 2003.
[8] Nguyễn Đình
Phúc, “Một cái nhìn về việc thờ
Tứ Phủ,” Hành Chánh Miền Đông,
số 5, Falls Church, Virginia :
2003.
[9] Đỗ Thông
Minh, “Vai trò văn hoá trong
phát triển quốc gia,” Đông kinh
: tháng 11, 2003. Tài liệu này
đã được thuyết trình tại
Conference on Sustainable
Development in Vietnam do
University of Maryland và Hội
Chuyên Viên Việt-Nam tại Hoa-Kỳ
tổ chức vào 13-11-2003 tại
University of Maryland, College
Park, U.S.A.
[10] Timothy
Brook and Hy V. Luong,
“Introduction: Culture and
Economy in the Postcolonial
World” in Culture and Economy –
the Shaping of Capitalism in
Eastern Asia, eds. Timothy Brook
and Hy V. Luong, University of
Michigan Press, Ann Arbor:
2002-01-21.
[11] Tôn Thất
Thiện, “Văn Hóa Và Sự Giàu Mạnh
Của Các Nước : Trường Hợp Hoa Kỳ,
Xứ Ðàng Trong Và Việt Nam Xã Hội
Chủ Nghĩa.” Canada: 11-06-2003.
[12] Tae-Kyu
Park, “Confucian Values and
Contemporary Economic
Development in Korea,” in in
Culture and Economy – the
Shaping of Capitalism in Eastern
Asia, eds. Timothy Brook and Hy
V. Luong, University of Michigan
Press, Ann Arbor: 2002. 125-136.
[13] Hy V. Luong,
“Capitalism and Noncapitalist
Ideologies in the Structure of
Northern Vietnamese Ceramics
Enterprises” in Culture and
Economy – the Shaping of
Capitalism in Eastern Asia, eds.
Timothy Brook and Hy V. Luong,
University of Michigan Press,
Ann Arbor: 2002. 187-206.
[14] Timothy
Brook and Hy V. Luong,
“Introduction: Culture and
Economy in the Postcolonial
World” in Culture and Economy –
the Shaping of Capitalism in
Eastern Asia, eds. Timothy Brook
and Hy V. Luong, University of
Michigan Press, Ann Arbor :
2002-01-21.
[15] Trần Khuê
và Nguyễn Thị Thanh Xuân, “Đôi
điều về văn hoá,” Trung Tâm Hán
Nôm, Sài Gòn: 07-07-1998.
[16] Neil L.
Jamieson, “Understanding
Vietnam,” University of
California Press, Berkeley :
1995. 1-41.
[17] Hoà Thượng
Thích Thắng Hoan, “Đặc điểm của
văn hóa Phật giáo trong văn hóa
Việt-Nam,” Bài thuyết trình tại
Đại Hội Văn Hóa Phật Giáo, San
Diego : 07-01-2003.
[18] Timothy
Brook and Hy V. Luong,
“Introduction: Culture and
Economy in the Postcolonial
World” in Culture and Economy –
the Shaping of Capitalism in
Eastern Asia, eds. Timothy Brook
and Hy V. Luong, University of
Michigan Press, Ann Arbor:
2002-01-21.
[19] Trích Thông
Điệp Hướng về Thế Kỷ 21, tháng
2, 2001 của Đại Lão Hoà Thượng
Thích Huyền Quang.
[20] Phạm văn
Diệu, “Văn Học Việt-Nam”, Tân
Việt, Saigon : 1957. 72-88;
403-408.
[21] Hoà Thượng
Thích Thắng Hoan, “Đặc điểm của
văn hóa Phật giáo trong văn hóa
Việt-Nam,” Bài thuyết trình tại
Đại Hội Văn Hóa Phật Giáo, San
Diego: 07-01-2003.
[22] Nguyễn Gia
Kiểng, “Tổ Quốc Ăn Năn,” tự xuất
bản, Paris : 2001. 51-54.
[23] Nguyễn Hiến
Lê, “Lão Tử Đạo Đức Kinh,” Văn
Hoá, 1977.
[24] Lâm Lễ
Trinh, “Tận dụng văn hoá để đấu
tranh cho dân chủ,” Thuỷ Hoa
Trang, California : 10-09-2000.
[25] Đỗ Thông
Minh, “Tự vấn : Người Việt mạnh
yếu chỗ nào ?”, Vui Học Việt Hán
Nôm, Đông Kinh : 2003.
[26] Chu Chi
Nam, “Nhiệt tình cộng với ngu
dốt thành ra tội ác”, Paris
30-01-2004.
[27] World Bank,
“The East Asian Miracle,” Oxford
University Press, New York :
1993.
[28] Tổng sản
lượng nội địa trung bình mỗi đầu
người của Việt-Nam là 430 Mỹ kim
vào năm 2002.
[29] Võ Nhơn Trí,
“Việt-Nam cần đổi mới thật sự,”
Đông Á, Vancouver : December
2003.
[30] Xinhua
General News Service, “Vietnam’s
state enterprises face great
debts” Hanoi : January 18, 2004.
[31] Lâm Lễ
Trinh, “Bứng gốc trồng người,
một chính sách xuẩn động” Việt
Báo, Westminster, California:
24-09-2000.
[32] Phạm Bá Hoa,
“Giáo dục dưới chế độ Cộng Sản
Việt-Nam,” Houston : Hè 2003.
[33] RFA, “China
struggles to educate all
children,” Washington, DC :
January 23, 2004.
[34] Các trường
công bậc tiểu học và trung học ở
những quốc gia ở Á châu sau đây
hoàn toàn miễn phí: Lào, Phi
Luật Tân, Nam Hàn (trung học
không miễn phí),Tân Gia Ba, Mã
Lai và Nam Dương. Giáo dục tiểu
học và trung học (lớp 1 đến 12)
ở Đài Loan không những hoàn toàn
miễn phí mà còn bắt buộc đối với
mọi người. Ngoài Việt-Nam ra chỉ
có hai nước ở Đông Á là Thái Lan
và Trung Quốc là bắt học sinh
phải đóng học phí ở hai bậc tiểu
và trung học. Ở Cao Miên, trên
nguyên tắc các trường công ở cả
hai bậc tiểu và trung học là
miễn phí. Nhưng nhà cầm quyền
cho phép các giáo viên nhận đóng
góp của phụ huynh và lấy tiền
dậy giờ ở tư gia. Vì vậy, học
sinh nghèo bắt buộc phải bỏ học.
Ở Nhật Bản cha mẹ chia sẻ một
phần chi phí giáo dục với nhà
cầm quyền: 6.6 % ở bậc tiểu học,
12.9 % ở bậc trung học đệ nhất
cấp, và 25.8 % ở bậc trung học
đệ nhị cấp. Trong khi đó giáo
dục bậc tiểu học và trung học
hoàn toàn miễn phí ở những cường
quốc Tây phương như Hoa-Kỳ,
Canada, Anh, Hòa Lan, Pháp và
Đức. Ở hai nước sau, sinh viên
đại học chỉ phải trả một vài lệ
phí hành chánh thấp khoảng dưới
1,000 Âu kim (Euro) mỗi năm.
[35] Binh
Tran-Nam, “Education reform and
sustainable development in
Vietnam: a preliminary
analysis,” University of New
South Wales, Sydney, Australia:
November 2003. This paper was
presented at the Conference on
Sustainable Development in
Vietnam at the University of
Maryland on November 13, 2003.
[36] Heritage
Foundation and Wall Street
Journal, “2004 Index of Economic
Freedom,” Washington, DC:
December 2003.
[37] Nguyễn Gia
Kiểng, “Tổ Quốc Ăn Năn” tự xuất
bản, Paris: 2001. 265-268. |