|
1. Lược sử xứ Mạc Bắc
Những cổ thư của Trung Hoa ít
khi nhắc đến địa danh Mạc Bắc.
Xứ Mạc Bắc là miền đất nằm ở
phía bắc sa mạc. Sa mạc nói đến
ở đây là sa mạc Qua Bích (Gobi),
theo nghĩa Mông Cổ là “nơi trống
rỗng”. Bởi vậy, định được địa
giới của xứ sở bát ngát này
không phải là dễ. Đại khái thì
xứ Mạc Bắc phía đông sát tới
biển Thái Bình bao la, phía tây
tới sông Ob hoặc sông Irtych,
phía bắc tiếp giáp với miền băng
giá quanh năm tuyết phủ, mênh
mông vô tận và vô chủ, ngày nay
gọi là Tây Bá Lợi Á hoặc Xi Bia
(Sibérie), phía nam là sa mạc
Qua Bích khô cằn, nóng lạnh thất
thường, với khoảng chênh lệch
nhiệt độ giữa ban ngày và ban
đêm rất cao.
Xứ này có nhiều thảo nguyên kế
tiếp nhau, rất thuận lợi cho
việc di chuyển trên lưng ngựa,
vì vậy, người dân xứ này, nam
cũng như nữ, cưỡi ngựa giỏi vào
bậc nhất nhân loại. Họ là dân du
mục, nay đây mai đó, sinh sống
bằng nghề chăn nuôi gia súc như
bò, cừu, lạc đà, ngựa, nơi nào
có cỏ cho gia súc ăn thì họ tới,
nơi nào hết cỏ thì họ bỏ đi.
Thời xưa, họ nuôi rất nhiều ngựa,
bán cho người Tàu được nhiều
tiền. Họ quen uống sữa tươi và
máu tươi gia súc, ăn thịt, rất
ít ăn tinh bột và rau quả.
Cư dân xứ Mạc Bắc có thể tạm
chia làm ba tộc: tộc Mãn Châu
(race toungouse, mandchoue) ở
miền đông, tộc Mông Cổ (race
mongole) ở miền trung và tộc Đột
Quyết còn gọi là Thổ (race
turque) ở miền tây. Một thi sĩ
Việt Nam nổi tiếng thời tiền
chiến là Xuân Diệu đã ca ngợi
thân mình óng ả của con gái Mạc
Bắc bằng câu thơ “Ta yêu Ly Cơ
hình nhịp nhàng”.
Xưa kia, họ chưa có quốc gia. Họ
tổ chức thành những bộ lạc mà
những ông tù trưởng có rất nhiều
quyền, kể cả quyền sinh sát. Họ
giành giật nhau những cánh đồng
cỏ, cho nên chiến tranh xảy ra
liên miên trên xứ sở này. Họ
sống xen kẽ nhau, gần như lẫn
lộn với nhau, nhất là người Mông
Cổ và người Đột Quyết, cho nên
cũng rất khó phân biệt. Ngôn ngữ
của người Mông Cổ và ngôn ngữ
của người Đột Quyết lại cũng rất
gần nhau nên càng khó phân biệt.
Người Mông Cổ không có chữ viết,
phải mượn chữ viết của người Duy
Ngô Nhĩ (Uyghur), một bộ lạc tộc
Đột Quyết, để ghi chép sổ sách.
Bởi vậy, có nhiều người đã ghép
hai tộc Thổ và Mông Cổ làm một
và gọi là tộc Thổ-Mông (race
turco-mongole).
Ngay từ thời cổ đại, người Tàu
đã có thói cao ngạo, tự cho mình
là văn minh nhất, là cái rốn vũ
trụ, là ở trung tâm (Trung), là
đẹp nhất (Hoa), và coi những dị
tộc chung quanh đều là rợ (Tứ Di:
Bắc Địch, Nam Man, Đông Di, Tây
Nhung). Họ gọi chung những ngoại
tộc phương bắc này là những rợ
Bắc Địch, sau gọi chung là Hung
Nô, là Thát Đát, và người châu
Âu phiên âm là Huns, là Tartares.
Họ cũng còn dùng danh từ riêng
“Hồ” để gọi những tộc người này.
Danh từ riêng ấy được người Tàu
dùng ngay từ thời cổ đại trong
một chủ trương hết sức hiểm độc:
“Dĩ Di diệt Di, dĩ Di diệt Hồ” (Lấy
người Di diệt người Di, lấy
người Di diệt người Hồ).
Vào thời cổ đại, địa bàn của
người Mông Cổ, nằm ở quãng giữa
xứ Mạc Bắc, rộng lớn hơn bây giờ,
còn bao gồm cả vùng trung lưu
sông Hắc Long (Amour) ở phía
đông, vùng núi A Nhĩ Thái
(Altai) ở phía tây, toàn bộ sa
mạc Qua Bích ở phía nam, còn
phía bắc thì tiếp giáp với miền
băng tuyết hoang vu, hồ Bối Gia
Nhĩ (Baikal) nằm ở quãng giữa xứ.
Vào năm 209 trước Công Nguyên,
xứ Mông Cổ có tên là Khunnu,
dưới quyền cai trị của Modun
Shanyu (vua Modun), địch thủ
hùng cường nhất của người Tàu.
Những nước của người Tàu ở mạn
ấy sợ người “Hồ” đánh phá, phải
xây thành cao để ngăn chặn. (Về
sau, khi thống nhất được nước
Trung Hoa năm 221 trước Công
Nguyên, Tần Thuỷ Hoàng cho nối
những quãng thành cao ấy với
nhau để thành ra Vạn Lý Trường
Thành. Rồi sau nữa, khoảng từ
thế kỷ thứ XIV đến thế kỷ thứ
XVII, nhà Minh tu bổ thêm). Từ
thế kỷ thứ II trước Công Nguyên
đến thế kỷ thứ I trước Công
Nguyên, người Đột Quyết nổi trội
hơn cả ở xứ Mạc Bắc. Cũng khoảng
thời gian này, vua Hán Vũ Đế
(140-86), một chuyên viên đi thu
gom đất đai, chiếm miền đất nằm
ở phía nam sa mạc Qua Bích của
người Khun mà lập ra quận Sóc
Phương.
Từ thế kỷ thứ I sau Công Nguyên
đến thế kỷ thứ IV, người Mãn
Châu Tiên Ty (Sien Pi) kiểm soát
miền đông xứ Mạc Bắc. Miền tây
là đất của A Đề Lai (Attalia).
Ông chúa Hung Nô này, có lẽ là
người Đột Quyết, mang quân sang
tận Đông Âu, chiếm đóng đồng
bằng Pannonie, nay gọi là Hung
Gia Lợi (Hongrie).
Năm 441, A Đề Lai xâm lăng đế
quốc Đông La Mã (empire byzantin),
tàn phá bán đảo Ba Nhĩ Cán (péninsule
des Balkans), năm 451 vượt sông
Rhin đánh vào Pháp nhưng bị thua
liên quân La Mã, Burgondes,
Francs, Visigoths trên những
cánh đồng Catalauniques (ở miền
Champagne bây giờ). Năm sau, ông
định đánh thành La Mã (Rome),
nhưng đã bị giáo hoàng Leon le
Grand thuyết phục bằng việc nộp
cống phẩm. Ông chúa Hung Nô bằng
lòng nhận cống phẩm và rút quân,
quay về Pannonie và năm 453 chết
thình lình.
Vào hai thế kỷ thứ V và thứ VI,
người Mông Cổ Jouan Jouan làm bá
chủ xứ Mạc Bắc. Từ năm 552 đến
năm 920, người Đột Quyết Yết (Tsie)
chiếm ưu thế ở miền tây. Vào hai
thế kỷ thứ VII và thứ VIII, đất
Mông Cổ là thuộc địa của nhà
Đường nước Tàu. Từ thế kỷ thứ X
đến thế kỷ thứ XII, người Mãn
Châu Khiết Đan (Khitan) lãnh đạo,
lập ra nước Liêu, kế tới là
người Mãn Châu Nữ Chân (Jurchen)
đứng đầu, lập ra nước Kim.
Năm 1206, Thiết Mộc Chân (Temujin)
thống nhất được các bộ lạc Mông
Cổ, rồi gần hết các bộ lạc ở Mạc
Bắc. Ông, rồi các con, các cháu
mang quân đi đánh phá Đông-Bắc-Á,
Trung-Á, Tây-Nam-Á, Đông-Âu, rồi
chiếm toàn bộ nước Trung Hoa,
dựng nên một đế quốc rộng lớn từ
trước chưa từng có. Đế quốc đó
được chia làm bốn nước: một hãn
quốc (nước nhỏ) ở Trung Á, một
hãn quốc ở Tây-Nam-Á, một hãn
quốc ở Đông-Âu và một đại hãn
quốc (nước lớn) ở Đông-Bắc-Á.
Người Mông Cổ thống trị không
đông, bị loãng trong những đám
dân bản xứ bị trị. Rồi khi những
dân bị trị giành được độc lập
thì người Mông Cổ bị tan biến dễ
dàng vào đám người bản địa, đến
nay hầu như không còn để lại vết
tích nào đáng kể. Ngày nay, chỉ
ở chính nước Mông Cổ, nghĩa là ở
xứ Ngoại Mông, người ta mới có
thể gặp những người Mông Cổ
thuần chủng.
Vào thế kỷ thứ XV, nhà Minh bên
Tàu nhiều lần mang quân lên xâm
lăng xứ Mông Cổ. Từ năm 1583 đến
năm 1757, xứ Mông Cổ phân hoá bị
rơi dần vào quỹ đạo Tàu. Những
nông dân Tàu lấn chiếm dần đất
đai miền đông-nam Mông Cổ và năm
1636, triều đại Mãn Thanh chính
thức sáp nhập miền này vào bản
đồ nước Tàu với tên là Nội Mông.
Đến năm 1691, nhà Thanh lại
khuyến khích nông dân Tàu đến
lập nghiệp ở miên tây-bắc mà
triều đại này gọi là Ngoại Mông.
Nhưng người Nga cũng đến ở miền
tây-bắc này khá đông và ảnh
hưởng của họ ở đó khá đậm. Ngày
cách mạng Tân Hợi ở Tàu
(1-12-1911) thành công, triều
đại Mãn Thanh bị lật đổ, xứ
Ngoại Mông tuyên bố độc lập. Năm
1917, cách mạng vô sản Nga bùng
nổ. Năm 1919, nội chiến giữa Nga
Trắng Bảo Hoàng và Nga Đỏ
Bôn-Xê-Vít tràn vào xứ Ngoại
Mông, đến năm 1921 mới chấm dứt.
Nga Đỏ toàn thắng, lập Liên Bang
Xô Viết (Liên Xô).
Tháng Bảy năm ấy, Soukhé Bator,
được Liên Xô giúp đỡ, thành lập
chính phủ cách mệnh, rồi năm
1924, tuyên bố sự ra đời của
nước Cộng hoà Nhân dân Mông Cổ,
do Đảng Cộng sản Mông Cổ lãnh
đạo, thủ đô đặt ở Ulaanbaatar (Oulan-Bator).
Nước này có diện tích là
1.565.000 cây số vuông (nước
Việt Nam 334.000 csv), dân số là
1.900.000 người (mật độ là 1,2/csv).
Năm 1961, Mông Cổ được gia nhập
Liên hiệp quốc và đến năm 1987
được hơn một trăm quốc gia công
nhận, kể cả Hoa Kỳ. Năm 1990,
Đảng Cộng sản Mông Cổ trao quyền
lại cho chính phủ. Tháng Hai năm
1992, Hiến Pháp mới được ban
hành, giải tán nước Cộng hoà
Nhân dân Mông Cổ, lập nền Cộng
hoà Mông Cổ, nhưng vẫn do Đảng
Cách mệnh Nhân dân Mông Cổ (MPRP,
tên mới của Đảng Cộng sản Mông
Cổ) cai trị. Trong cuộc bầu cử
năm 1996, Đảng Dân chủ Mông Cổ
(DP) thắng thế. Nhưng trong cuộc
bầu cử năm 2000, đảng MPRP lấy
lại quyền. Cuộc bầu cử năm 2004
đưa đến liên minh MPRP và MDC
(Motherland Democratic Coalition
= Liên minh Tổ quốc Dân chủ),
bầu Natsagiyn Baggabandi làm
tổng thống. Người Mông Cổ bước
dần vào thể chế dân chủ.
Còn khu Nội Mông thì từ năm 1949
trở thành khu “tự trị” trong
nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa,
thủ phủ là Houhehot. Ở nơi này,
người Mông Cổ là thiểu số trên
chính quê hương mình. Ngày nay,
người Mông Cổ ở đấy sống trong
cảnh cơ hàn, tương lai mù mịt,
luyến tiếc, đau buồn với những
kỷ niệm huy hoàng, vẻ vang thời
oanh liệt.
2. Tình thế nước Trung Hoa ở thế
kỷ XII
Năm 960, nhà Tống thống nhất
Trung Nguyên. Nhưng chẳng được
bao lâu, những rợ chung quanh
mạnh lên, áp chế cả thiên tử.
Thuở ấy, các nước rợ mạnh đáng
kể là: Đại Hạ, Liêu (có nghĩa là
Sắt), Kim (có nghĩa là Vàng) và
Tây Liêu.
Ở thế kỷ thứ X, một tiểu quốc
của người Tây Nhung, chính xác
là của người Poba thuộc tộc Tạng
ở miền đông-bắc xứ Tây Tạng,
cường thịnh lên, lấy quốc hiệu
là Tây Hạ. Năm 982, Hạ quốc công
Lý Kỳ Thiên mở mang bờ cõi đến
Cam Túc, Ninh Hạ, Thiểm Tây bây
giờ, đổi quốc hiệu là Đại Hạ,
đóng đô ở Hạ Châu tức là thành
Ngân Xuyên bây giờ (thủ phủ của
khu “tự trị” Ninh Hạ ngày nay).
Nước Đại Hạ nằm ở phía chính nam
khu vực của người Mông Cổ. Nước
này có khoảng năm triệu dân, sản
xuất vải, lụa rất đẹp. Vua Đại
Hạ có quân đội đóng tại những ốc
đảo, nơi có cây xanh, có nước
ngọt giữa sa mạc mênh mông khô
cằn trên Con Đường Tơ Lụa, đánh
thuế các đoàn khách thương. Đó
là một nguồn lợi quan trọng của
nước này.
Thời đó, người Khiết Đan thuộc
tộc Mãn thành lập ở phía
đông-bắc Trung Nguyên của nhà
Tống một quốc gia rộng lớn gọi
là Liêu. Đại Hạ liên kết với
Liêu cùng tấn công Trung Nguyên.
Nhà Tống yếu thế, hàng năm phải
nộp cống bằng vàng bạc cho cả
hai nước để cầu hoà. Năm 1115,
trong nội bộ nước Liêu, nhóm bộ
lạc Nữ Chân tách ra thành lập
nước Kim, lúc đầu kinh đô đặt ở
Trung Đô (Bắc Kinh bây giờ), sau
thiên về Khai Phong. Năm 1124,
Tống và Kim hợp tác diệt Liêu,
nhưng sau đó vua Tống Hy Tông
lại phải nộp cống cho Kim. Và
Đại Hạ cũng mất đồng minh luôn.
Năm 1126, người Kim diệt nhà
Tống ở Hoa Bắc. Người Kim đi
chinh phục các xứ chung quanh và
nước Kim trở thành một nước rất
lớn, bao gồm toàn bộ Mãn Châu và
Triều Tiên, gần hết Hoa Bắc bây
giờ. Nước Kim nằm ở phía
đông-nam khu vực của người Mông
Cổ. Thời bấy giờ mà nước này đã
có tới 20 triệu dân, 600 ngàn
quân, phần lớn đóng ở phía nam,
nơi giáp với nước Nam Tống. Nước
này của người Tàu, do con cháu
nhà Tống, sau khi thua người
Kim, chạy xuống phương nam lập
ra năm 1127, kinh đô là thành
Hàng Châu.
Phía tây khu vực của người Mông
Cổ là nước Tây Liêu, địa bàn là
khu Tân Cương của Trung Hoa và
nước Kazakhstan bây giờ, kinh đô
là Hổ Tư Oát Nhĩ Đoá (Husiwoerduo).
Cư dân ở đây là người Duy Ngô
Nhĩ, một ngành của giống Đột
Quyết, theo đạo Hồi.
3. Thành-cát-tư Hãn gây dựng
binh lực Mông Cổ
Khoảng năm 1165, bên bờ sông
Onongol, một chi lưu của sông
Hắc Long Giang, thuộc xứ sở của
người Mông Cổ, vợ của tù trưởng
bộ lạc Khalkha, một bộ lạc nhỏ,
sinh ra một bé trai đặt tên là
Temujin, phiên âm ra tiếng Tàu
rồi đọc theo âm Hán-Việt là
Thiết Mộc Chân. Đứa bé này tính
nết hung tợn, nhưng có nhiều mưu
lược và tài lãnh đạo. Người cha
chiếm đoạt một bảo vật nào đó,
bị chủ nhân của bảo vật mưu hại
bằng thuốc độc. Mồ côi cha từ
thuở lên chín, lúc thiếu thời,
Thiết Mộc Chân cùng em ruột săn
bẫy thỏ, đánh bắt cá để sinh
nhai, mẹ hái rau, hái quả nuôi
gia đình. Lúc trưởng thành,
Thiết Mộc Chân đứng lên ra sức
mưu đồ thống nhất các bộ lạc
sinh sống rời rạc. Lúc bấy giờ,
dân Mông Cổ có khoảng ba chục bộ
lạc. Năm 1206, Thiết Mộc Chân
được các tù trưởng công nhận là
chúa, người Mông Cổ tôn là
Genghis Khan, tức là
Thành-cát-tư Hãn. Từ ngữ “Khan”
của người Mông Cổ có nghĩa là
vua, là chúa. Người Tàu đọc trại
ra, rồi người Việt đọc theo âm
Hán-Việt là “Hãn”. Trong vòng ba
năm, từ năm 1206 đến năm 1209,
Thành-cát-tư Hãn không những đã
thống nhất được người Mông Cổ,
mà còn thống nhất được hầu hết
các bộ lạc sinh sống ở miền Mạc
Bắc. Và cũng trong thời gian này,
ông đã thành lập được đội quân
Mạc Bắc hùng mạnh mà nòng cốt là
người Mông Cổ.
Quân Mông Cổ không đông, không
lúc nào trên 110 ngàn người. Hầu
như họ đánh đâu thắng đấy, lập
nên một đế quốc rộng lớn vào bậc
nhất nhân loại, có chăng chỉ
thua đế quốc Anh Cát Lợi ở thế
kỷ thứ XIX. Sở dĩ họ lập được kỳ
tích này là nhờ vào những chiến
thuật, chiến lược và những đặc
tính văn hoá sau đây:
Quân của họ chủ yếu là kỵ binh.
Họ trang bị đầy đủ nhưng nhẹ
nhàng nên dễ xoay trở. Đầu họ
đội mũ sắt. Thân mặc áo giáp
bằng da ngựa ngâm nước tiểu ngựa
thành ra rất cứng, tên bắn không
thủng, dao chém không rách, nhẹ
hơn giáp sắt và giáp lưới sắt
của châu Âu. Tay trái cầm mộc
nhỏ. Tay phải cầm giáo để đâm
hoặc kích để vừa đâm vừa móc.
Hông đeo cung đựng trong một cái
túi. Lưng đeo một hai bị tên.
Chân đi ủng có ghép những mảnh
sắt.
Họ có tài phi ngựa. Ngựa Mông Cổ
tuy nhỏ nhưng rất khoẻ, nhanh và
dai sức. Yên ngựa có gắn thêm
hai bàn đạp (étriers) tròn như
cái đĩa mà thời ấy chưa có dân
tộc nào khác biết sử dụng. Ngồi
trên mình ngựa mà hai chân đặt
lên hai bàn đạp thì thế ngồi rất
vững vàng, tạo ra sự nhanh nhẹn
và sức mạnh khi giao chiến.
Họ bắn tên bằng cung rất tài, cả
nam lẫn nữ. Họ vừa phi ngựa, vừa
giương cung bắn tên về phía
trước hoặc ngoái lại bắn về phía
sau rất trúng, rất nhanh, có thể
bắn sáu mũi trong một phút. Tên
có mấy loại, đều có mũi bằng sắt.
Có loại mũi nhọn như cái dùi, có
loại mũi bẹt sắc như dao, có
loại mũi tù được đục hai ba lỗ
thủng nên khi phóng ra thì gây
tiếng hú rợn người để uy hiếp
tinh thần quân địch. Cung làm
bằng gỗ gắn thêm những mảnh
xương súc vật. Giây cung làm
bằng gân bò, gân ngựa.
Quân chia ra thành đội, mỗi đội
10 người. Mười đội là một đoàn
100 người. Đại đơn vị là sư, có
10.000 người. Lúc lập các đơn vị,
người các bộ lạc trộn lẫn với
nhau để tránh sự thông đồng tạo
ra phản loạn hoặc bất tuân
thượng lệnh. Kỷ luật quân đội là
kỷ luật thép, cưỡng lệnh cấp
trên là xử tử liền tại chỗ.
Chiến sĩ Mông Cổ bản tính hiếu
chiến và rất ác, không biết động
lòng thương xót là gì. Họ tàn
sát hầu hết kẻ bại trận, không
mấy khi tha mạng, chỉ trừ những
thợ khéo bắt về để xây những
kiến trúc hoặc bắt nô lệ. Phụ nữ
bên bại trận thì bắt đi làm bia
đỡ đạn. Tiếng hung bạo đã được
loan truyền sang tận châu Âu đến
nỗi người Âu đã phải thốt ra:
“Cỏ không mọc được dưới vó ngựa
Hung Nô”.
Khi chuyển quân, phụ nữ lùa gia
súc đi cùng, hai bên có quân
lính đi bảo vệ. Đoàn gia súc
cũng là lương thực thực phẩm:
sữa tươi và máu tươi để uống,
thịt để ăn. Khi kết liễu một
trận đánh, phụ nữ đi thu dọn
chiến trường, thu chiến lợi phẩm,
giết những thương binh địch.
Họ chỉ có hai chiến thuật đơn
giản nhưng hiệu nghiệm. Chiến
thuật thứ nhất là bất chợt họ
phi ngựa tới, chém giết, đốt phá,
bên địch chưa kịp đánh trả thì
họ đã phi ngựa đi, dù muốn đuổi
theo cũng không kịp nữa; rồi họ
quay lại quyết định chiến trường.
Chiến thuật thứ hai là giả vờ
thua chạy rồi bất thần quay lại
phản công. Cả hai chiến thuật
này đều làm cho hàng ngũ địch
mất tinh thần, rối loạn. Nhiều
tù trưởng các bộ lạc ở hoang mạc,
ở thảo nguyên đã bị thua bởi
chiến thuật thứ nhất, và nhiều
tướng lãnh Đông Âu đã bị thua
bởi chiến thuật thứ hai.
Sau 18 năm chinh chiến, người
Mông Cổ đã học được nhiều điều ở
những dân bại trận: cách chế tạo
cần bắn đá (của người Tây Á),
dùng thuốc súng làm vỡ các tường
thành (của người Tàu) nhưng chưa
biết dùng súng bắn đạn, dùng
những ống đồng để ném các chất
cháy sang thuyền địch (của người
Cận Đông). Vì vậy, binh lực của
họ còn mạnh hơn trước. Về việc
sử dụng cần bắn đá, nhiều khi họ
bắn vào thành địch cả đạn lửa,
xác súc vật hoặc xác người đã
rữa thối để gây những bệnh dịch.
4. Thành-cát-tư Hãn và cuộc viễn
chinh
Năm 1209, Thành-cát-tư Hãn bắt
đầu xuất quân. Những cuộc hành
quân của ông có thể được chia
làm ba giai đoạn: giai đoạn thứ
nhất 6 năm (1209-1215) đánh
Đông-Bắc-Á, giai đoạn thứ nhì 7
năm (1218-1225) đánh Trung-Á,
Tây-Nam-Á và Đông-Âu, giai đoạn
thứ ba 2 năm (1226-1227) đánh
tiếp Đông-Bắc-Á.
Năm 1209, Thành-cát-tư Hãn xuất
quân, đánh nước Đại Hạ. Muốn
đánh nước này thì quân Mông Cổ
phải đi băng qua sa mạc Qua Bích.
Việc này không khó đối với kỵ
binh Mông Cổ. Nhưng muốn vào
nước này thì phải vượt qua một
cái đèo có quân Đại Hạ đóng ở đó.
Thành-cát-tư Hãn không vượt qua
nổi, bèn lập mưu giả vờ rút lui.
Quân Đại Hạ đuổi theo. Quân Mông
Cổ quay lại phản công, bắt được
tướng địch. Vua Đại Hạ phải điều
đình, dâng gái đẹp và châu báu,
và hẹn hàng năm triều cống. Quân
Mông Cổ rút lui.
Năm 1211, Thành-cát-tư Hãn dẫn
70 ngàn kỵ binh, vượt Vạn Lý
Trường Thành sang đánh nước Kim.
Lúc đó Trường Thành không kiên
cố như sau này khi nhà Minh tu
bổ lại nên vượt qua cũng không
khó khăn lắm. Quân Mông Cổ đến
chân thành Khai Phong nhưng
không đánh thành mà lại đi ngược
lên đánh kinh đô nước Kim là
thành Trung Đô (Bắc Kinh bây giờ).
Trung Đô kiên cố, cao tới 12 mét,
đánh không nổi, quân Mông Cổ bèn
cướp phá vùng phụ cận cho thoả
thích. Năm 1214, Thành-cát-tư
Hãn trở lại, lần này có mang
theo cần ném đá có khả năng ném
những tảng đá nặng 50 kí-lô để
phá tường thành. Nhưng dụng cụ
“tối tân” này không cần dùng tới
vì nội bộ Kim lủng củng. Vua Kim
xin điều đình, dâng công chúa và
châu báu. Quân Mông Cổ rút lui.
Triều đình Kim dời đô về Khai
Phong.
Năm 1215, quân Mông Cổ lại vây
Trung Đô; dân trong thành đói ăn,
mở cửa thành xin hàng. Quân Mông
Cổ vào thành, đốt phá, cướp bóc,
giết người, hãm hiếp tàn bạo.
Nước Cao Câu Ly (một quốc gia ở
bắc bộ bán đảo Triều Tiên và một
phần xứ Mãn Châu bây giờ) khiếp
sợ, phái người sang xin triều
cống, được ưng thuận.
Thành-cát-tư Hãn khinh người Tàu,
khinh nông nghiệp, coi là hèn
nhược, muốn giết hết nông dân,
đổi ruộng thành đồng cỏ để có
chỗ nuôi gia súc. Rất may lúc đó
vua Mông Cổ có một người cận
thần Mãn Châu tên là Gia-luật
Sở-tài ngỏ lời hơn thiệt khuyên
bảo. Thành-cát-tư Hãn nghe ra
tai, ngưng việc chém giết. Người
cố vấn này được tin dùng cho đến
khi chết vào năm 1244.
Năm 1218, một đại tướng Mông Cổ
tên là Jebe được lệnh của
Thành-cát-tư Hãn mang 20 ngàn kỵ
binh đi về hướng tây đánh nước
Tây Liêu (nay là miền Tannou
Touva trong Liên Bang Nga?).
Nguyên lúc trước, vua nước này
tên là Kuchlug đã có lần xâm
phạm đất Mông Cổ, bị
Thành-cát-tư Hãn đánh bại; nay
củng cố binh lực, liên kết với
các nước khác để phục thù. Dân
Tây Liêu theo đạo Hồi mà Kuchlug
lại cấm đạo này, giết một thầy
giảng đạo (Iman). Khi nghe tin
quân Mông Cổ sắp tới thì dân
chúng vui mừng. Quân Mông Cổ
thắng ngay, chặt đầu Kuchlug.
Quá về phía tây có nước Khwarzim
(nay là nước Ouzbékistan), kinh
đô là Samarkand, rất giàu.
Thành-cát-tư Hãn muốn kết thân
và giao dịch thương mại, sai một
phái đoàn nhiều người gồm sứ
thần và 450 nhà buôn mang nhiều
đồ quý giá đến biếu vua nước ấy
là Shah Muhammed. Đi đến biên
giới, phái đoàn bị viên quan cai
trị tên là Inalchug nghi ngờ là
gián điệp, bắt giam rồi giết.
Ông phái sứ thần đến đòi trừng
phạt viên quan nọ. Muhammed đã
không trừng phạt thuộc hạ, lại
còn giết sứ thần, chém đầu mang
trả Thành-cát-tư Hãn. Năm 1219,
quân Mông Cổ kéo sang. Muhammed
có 400 ngàn quân nhưng không
trung thành lắm và dân trong
nước cũng không ưa vì sưu cao
thuế nặng.
Mặc dầu quân ít, Thành-cát-tư
Hãn vẫn chia quân làm hai đạo:
một đạo đi Samarkand rồi đi
Bukhara, một đạo vây thành Utrar
mà tướng giữ thành lại chính là
Inalchug. Quân Mông Cổ dùng cần
ném đá ném vào thành đạn lửa làm
bằng diêm sinh, dầu hoả và tiêu
thạch (salpêtre). Inalchug giữ
thành được hơn một tháng rồi tử
trận. Thành bị san thành bình
địa, các thợ khéo bị đưa về Mông
Cổ. Samarkand và Bukhara, đều
nằm trên Con Đường Tơ Lụa, mở
cổng thành đón quân Mông Cổ.
Thành-cát-tư Hãn vào thành ngồi
uống rượu và nghe nhạc, rồi cho
phép lính được tự do cướp bóc,
đốt phá, hãm hiếp.
Năm 1220, đạo quân ở Utrar lại
đi về hướng tây, tới thị trấn
Urgenc nằm trên Con Đường Tơ Lụa,
vẫn trong nước Ouzbékistan, trên
bờ sông Amou-Daria, phía nam
biển Aral. Ở đấy diễn ra một
trận đánh rất hung bạo, người ta
nói rằng có tới 100 ngàn người
giữ thành bị giết. Quân Mông Cổ
đào kênh, phá đê dẫn nước vào
tràn ngập đống gạch vụn.
Rồi quân Mông Cổ đi về hướng nam,
đánh phá thành Merv thuộc nước
nay gọi là Turkménistan. Tục
truyền rằng trong đống gạch vụn,
một nhà tu hành đạo Hồi đếm xác
chết trong 13 ngày chưa hết, ước
lượng rằng có đến 1.300.000 cái
thây. Thành Balk trong nước nay
gọi là Afghanistan cũng chung số
phận: già trẻ lớn bé đều bị bắt
xếp hàng 10, hàng 100 như quân
đội, rồi lính Mông Cổ cầm dao,
cầm giáo giết từng loạt rất có
qui củ (!). Có một chuyện ngoại
lệ xảy ra ở thành Herat cũng
thuộc nước nay là Afghanistan.
Năm 1221, quân Mông Cổ hạ thành
này, tha mạng cho nhiều người
(?). Lúc đạo quân bỏ đi, chỉ để
lại một ít quân giữ thành, dân
địa phương đã nổi dậy giết đám
quân giữ thành. Khi quân Mông Cổ
trở lại, chuyện gì xảy ra, tất
nhiên ai cũng biết.
Năm 1221, Thành-cát-tư Hãn sai
hai đại tướng Jebe và Sudebei
dẫn 20 ngàn quân tới biển Lý Hải
(mer Caspienne), đi vòng sang bờ
phía tây. Có hai đạo quân xứ
Géorgie ra nghênh chiến, bị thua
cả hai. Mùa đông năm ấy, quân
Mông Cổ vượt rặng Cao Gia Sách (Caucase)
lọt vào địa bàn của giống người
Slaves, gặp quân Thổ Nhĩ Kỳ (thuộc
giống Đột Quyết, tây tiến từ thế
kỷ thứ XI). Quân Thổ thua mau,
và quân Mông Cổ vào các làng
cướp phá, hãm hiếp như thường lệ.
Thời ấy, người Slaves chưa thành
lập được những quốc gia lớn mạnh.
Họ chỉ có những lãnh địa lớn nhỏ
cai quản bởi những lãnh chúa,
như: Rostov, Moscou, Novgorod
(nay thuộc Nga), Kiev (nay thuộc
Ukraine), Chernigov, Galicie
(nay thuộc Ba Lan)... Năm 1223,
các ông chúa Slaves họp nhau
thành lập một đoàn quân gồm 80
ngàn người. Các ông chúa là
tướng mặc giáp lưới sắt nặng nề,
theo sau là những toán bộ binh,
ra gặp quân Mông Cổ ở bờ sông
Kalka.
Kỵ binh tiên phong Mông Cổ cầm
cung bắn vãi tên lên đầy trời.
Một số tướng Slaves dẫn quân
tiến lên đánh. Quân Mông Cổ bỏ
chạy rồi biến mất trong màn khói
mù mịt mà quân Mông Cổ đốt phân
ngựa trộn dầu hoả tạo nên. Sau
đó, quân Slaves thấy sau màn
khói không phải là toán kỵ binh
cầm cung tên mà là toán kỵ binh
cầm giáo, cầm kích đánh giết dữ
dội. Quân Slaves hoảng loạn,
mạnh ai nấy chạy, đại bại. Hai
viên tướng Mông Cổ Jebe và
Sudebei ngồi ăn uống trên một
cái hòm gỗ trong đó có nhốt ba
ông chúa Slaves bị bắt. Ba ông
này bị ngạt thở chết.
Sau trận này, Jebe và Sudebei
dẫn quân quay về hướng đông, đi
về mạn sông Volga, thắng thêm
hai trận nữa, rồi năm 1224 vượt
núi Oural, hội quân với
Thành-cát-tư Hãn, đi xuyên qua
nước nay là Kazakhstan. Dọc
đường, quân Mông Cổ cướp lương
thực, của cải và ngựa của dân
bản xứ, đánh tan bất cứ đội quân
nào kháng cự lại.
Năm 1225, Thành-cát-tư Hãn lên
đường về Mông Cổ. Nhưng ông
không về thẳng quê mà lại tạt
qua thành Hạ Châu, kinh đô của
nước Đại Hạ năm 1226 để hỏi tội
vua nước này. Nguyên năm 1218,
trước khi đi đánh nước Khwarzim
(nay là nước Ouzbékistan), ông
ngỏ lời mượn quân của Đại Hạ.
Vua nước này đã không cho mượn
lại còn nói ngược ngạo sao đó mà
ông để bụng thù. Khi ở phương
tây về quê, ông quyết tiêu diệt
nước này. Trong khi vây thành Hạ
Châu, ông bị bệnh, qua đời năm
1227, thọ khoảng 60 tuổi. Dù vậy,
nước Đại Hạ cũng bị diệt, quân
Đại Hạ tan rã, bỏ trốn về Tây
Tạng. Quân Mông Cổ bắt mang về
nước 30 ngàn thợ khéo, định xây
một kinh đô bền vững tại đất
khởi nguyên.
5. Thành-cát-tư Hãn và những
người kế nghiệp
Thành-cát-tư Hãn có sáu người vợ
Mông Cổ và không biết bao nhiêu
là vương phi người các nước khác,
con cái đông vô kể. Trước khi
chết, ông đã định rằng sẽ nối
nghiệp mình chỉ là bốn người con
trai của người vợ cả Mông Cổ tên
là Borte, cưới nhau khi bà này
mới 14 tuổi. Đế quốc của ông
được chia ra làm bốn, ba hãn
quốc ở phương tây và một đại hãn
quốc ở phương đông bao gồm đất
khởi nguyên Mông Cổ và vùng
Đông-Bắc-Á phần cho người con
thứ ba mà ông cho là tài giỏi
hơn cả. Con cháu Thành-cát-tư
Hãn tiếp tục mở rộng đế quốc
Mông Cổ.
Ở phần dưới đây, những chữ đậm
nét dùng để chỉ tên những người
đã làm ĐẠI HÃN (vua lớn) hoặc
Hãn (vua); những chữ số La Mã
dùng để chỉ các thế hệ (I là thế
hệ Thành-cát-tư Hãn, II là thế
hệ các con, III là thế hệ các
cháu); bốn chữ cái (A, B, C, D)
dùng để chỉ số thứ tự con của
Thành Cát Tư Hãn (A là con
trưởng, B là con thứ hai, C là
con thứ ba, D là con út); những
chữ số Ả Rập (1, 2, 3, 4) dùng
để chỉ số thứ tự con của từng
ngành.
(I) THIẾT
MỘC CHÂN (Temujin) tức
THÀNH-CÁT-TƯ HÃN (Genghis Khan).
(II A) Thuật Xích (Jochi, Juji),
có hai con trai là:
(III A1) Batu.
(III A2) Berke.
(II B) Sát Hợp Đài (Chagatai,
Jiagatai).
(II C) OA KHOÁT ĐÀI (Ogodei,
Ogotai), có con trai là:
(III C1) QUÝ DO (Guyuk).
(II D) Đà Lôi (Tolui, Tule), có
bốn con trai là:
(III D1) MÔNG KHA (Mongke,
Manggu).
(III D2) HỐT TẤT LIỆT (Kubilai).
(III D3) Ariq-Boke.
(III D4) Húc Liệt Ngột (Hulagu).
Khi chọn người thừa kế chức đại
hãn, Thành-cát-tư Hãn rất phân
vân. Đà Lôi là tướng tài nhưng
quá thận trọng và đa nghi. Còn
Oa Khoát Đài hơn Đà Lôi về khả
năng chính trị. Khi ông băng hà,
Hoàng tộc bầu cho Đà Lôi vì theo
truyền thống Mông Cổ, con út
thừa hưởng gia tài, hơn nữa, Đà
Lôi đang nắm quyền lực và quân
đội. Nhưng Đà Lôi, theo ý cha,
nhường ngôi cho anh là Oa Khoát
Đài.
Đà Lôi lấy Sorghaghtani-Beki
sinh được Mông Kha, Hốt Tất Liệt,
Ariq-Boke (không biết danh xưng
Hán-Việt là gì) và Húc Liệt Ngột.
Sau khi Oa Khoát Đài, rồi con là
Quý Do chết, các con của Đà Lôi
tranh ngôi với con của Thuật
Xích. Rồi Hốt Tất Liệt và
Ariq-Boke lại tranh nhau.
6. Đế quốc Mông Cổ: ba Hãn quốc
ở phương Tây
Sau khi Thành-cát-tư Hãn mất,
quân Mông Cổ lại kéo nhau sang
hướng tây, chiếm đóng các nước
mà ông đã đánh bại trong bảy năm
viễn chinh trước kia
(1218-1225). Rồi các con ông,
các cháu ông mở mang thêm bờ cõi
để tạo ra một đế quốc rộng lớn
chưa từng có. Đế quốc đó gồm ba
hãn quốc ở phương tây và một đại
hãn quốc ở phương đông.
Hãn quốc Sát Hợp Đài ở Trung Á:
năm 1230, quân Mông Cổ đi về
hướng tây-nam sang nước
Kyrghizistan, rồi nước
Tadjikistan. Hai nước này họp
lại thành một nước gọi là Sát
Hợp Đài, vua là (II B) Sát Hợp
Đài, con thứ hai của (I)
Thành-cát-tư Hãn. Hậu duệ của
Sát Hợp Đài không mở rộng thêm
lãnh thổ. Năm 1370, vua vùng
Transoxiane là Thiếp Mộc Nhi (Tamerlan,
còn gọi là Timur Lang:
1336-1405), cũng tự nhận là dòng
dõi Thành-cát-tư Hãn, đánh diệt
hãn quốc Sát Hợp Đài. Hãn quốc
này tồn tại được 140 năm.
Hãn quốc Y Nhi ở Tây-Nam-Á: năm
1231, quân Mông Cổ tiến sang
chiếm miền nam nước Ba Tư
(Iran), rồi vòng lên phía bắc,
chiếm tỉnh Tabriz (ở miền nay là
Azerbaidjan). Hai miền này họp
lại thành một nước gọi là Y Nhi,
vua là (III D4) Húc Liệt Ngột,
cháu nội thứ tư ngành út của (I)
Thành-cát-tư Hãn. Năm 1236, Húc
Liệt Ngột đánh thành Bagdad, rồi
năm 1238 đánh chiếm hết nước
Irak. Năm 1239, Húc Liệt Ngột
mang quân đi đánh hai xứ Syrie
và Palestine lúc đó đang là
thuộc quốc của Thổ Nhĩ Kỳ, bị
thua quân Thổ ở bờ biển Địa
Trung Hải. Năm 1344, Thiếp Mộc
Nhi đánh diệt hãn quốc Y Nhi.
Hãn quốc này tồn tại được 113
năm.
Hãn quốc Khâm Sát ở Đông-Âu: (II
A) Thuật Xích là con trưởng của
(I) Thành-cát-tư Hãn được hưởng
nước Kazakhstan. Ông này trao
quyền cho con cả là (III A1)
Batu. Năm 1236, Batu dẫn quân
sang châu Âu, có lão tướng
Sudebei đi cùng. Viên tướng này
đã cầm quân sang những xứ Slaves
trong cuộc viễn chinh hồi
Thành-cát-tư Hãn còn sống. Quân
Mông Cổ vượt dãy Oural vào châu
Âu, qua sông Volga, sau năm ngày
chiến trận, đại phá quân Nga ở
thành Riazan (nằm ở hướng
đông-nam thành Moscou), giết hết
dân trong thành. Quân Mông Cổ
tiếp tục đánh chiếm thành trì
của các ông chúa xứ Đông Âu như:
Moscou, Vladmir (Nga), Kiev
(Ukraine), Varsovie, Cracovie (Ba
Lan), Lienitz (Đông Đức),
Budapest (Hung Gia Lợi), rồi
tiến đến biển Adriatique, tới
đâu cũng tàn sát, chỉ tha cho
một số để bắt làm nô lệ.
Năm 1241, quân Mông Cổ tiến đến
sát thành Vienne (Áo). May cho
thành này là đúng lúc đó có tin
là Đại Hãn Oa Khoát Đài mất ở
Mông Cổ. Batu chờ nghe ngóng tin
tức, không tiến quân nữa. Lãnh
thổ của Batu gọi là Khâm Sát (Kiptchak,
Horde d'Or, Golden Horde). Năm
1242, hãn Batu đặt kinh đô ở
Sarai, một thành phố nằm bên
sông Volga, khí hậu ấm áp. Người
Mông Cổ ở Đông Âu sống tách biệt
hẳn với người bản xứ. Các lãnh
chúa vẫn cai trị dân như trước,
chỉ phải nộp thuế cho vua Mông
Cổ. Lãnh chúa mà thiếu thuế thì
vua Mông Cổ hỏi tội chứ không
can thiệp vào nội bộ bản xứ. Vì
người Mông Cổ sao nhãng như thế
nên các lãnh chúa mới củng cố
được thế lực, mở mang được đất
đai. Năm 1380 lãnh chúa xứ
Moscou là Dimitri Donskoi
(1362-1389) thắng được quân Mông
Cổ ở Koulikovo (gần thành Riazan),
nhưng đấy không phải là một trận
đánh quyết định nên người Mông
Cổ vẫn cai trị người Đông Âu.
Phải đợi đúng một trăm năm sau,
năm 1480, lãnh chúa xứ Moscou (lúc
đó gọi là vua Nga) là Ivan III
(1462-1505) mới tuyên bố không
thần phục hãn Mông Cổ nữa. Hãn
quốc này tồn tại được 250 năm,
bền nhất trong bốn nước.
7. Đế quốc Mông Cổ: Đại Hãn quốc
ở phương Đông
Cho rằng người con thứ ba là (II
C) Oa Khoát Đài tài giỏi nhất
trong bốn người con mà mình đã
chọn, (I) Thành-cát-tư Hãn giao
cho miền đất quan trọng nhất ở
Đông-Bắc-Á, bao gồm đất Mông Cổ
khởi nguyên, đất của người
Toungouses (Mãn Châu ngày nay),
bán đảo Triều Tiên (?), nước Đại
Hạ, một phần nước Tây Liêu. Năm
1232, Oa Khoát Đài vượt sông
Hoàng Hà, đánh kinh đô mới của
nước Kim là thành Khai Phong,
năm sau thì hạ được thành, vua
nước Kim tự sát. Năm 1235, kinh
đô của Đại Hãn Quốc là Karakorum
được những thợ khéo xây xong.
Cũng năm ấy, Oa Khoát Đài phái
hai đạo quân cùng tấn công Nam
Tống: đạo thứ nhất đánh vào Tứ
Xuyên, chiếm được Thành Đô; đạo
thứ hai đánh xuống Hồ Bắc, chiếm
được Tương Dương.
Nhưng đến năm 1238 thì quân Nam
Tống phản công, lấy lại được cả
hai thành, quân Mông Cổ phải rút
lui. Năm 1241, Oa Khoát Đài mất.
Con là (III C1) Quý Do nối ngôi
Đại Hãn từ năm 1246 đến khi mất
vào năm 1248. Đến đây, ngôi Đại
Hãn truyền sang ngành thứ tư,
ngành út. Năm 1251, (III D1)
Mông Kha, người con cả của Đà
Lôi, lên nối ngôi Quý Do. Năm
1253, ông sai em ruột là Hốt Tất
Liệt mang quân đi đánh nhà Tống.
Ông hoàng đệ này lại sai một
viên tướng tên là Ngột Lương Hợp
Thai (Wouleangotai) đem một đạo
quân đi đánh nước Đại Lý (tức là
nước Nam Chiếu) ở Vân Nam.
Trong vòng hai tháng, nước Đại
Lý mất vào tay hai tướng Mông Cổ
là Đường Ngột Ngải và Xích Tu Tử.
Rồi tiện đường, năm 1257, Ngột
Lương Hợp Thai tiến sâu nữa đánh
Đại Việt nhằm mục đích bao vây
nhà Nam Tống ở mặt tây-nam và
mặt nam. Quân Mông Cổ men theo
đường sông Thao tỉnh Hưng Hoá,
chiếm được kinh đô Thăng Long
của Đại Việt, còn thấy sứ Mông
Cổ bị xiềng trong ngục. Quân
Mông Cổ không chịu nổi mùa nóng
tại lưu vực sông Hồng, chết bộn,
chưa kịp rút thì đã bị vua Trần
Thái Tông (1225-1258) phản công
ở Đông Bộ Đầu, thua to, chạy đến
trại Quy Hoá thì bị chủ trại đón
đánh.
Giặc vội vã rút về Vân Nam,
không dám cướp bóc nữa, cho nên
được người Việt tặng cho mỹ danh
là '”Giặc Phật”'. Một cánh quân
Mông Cổ khác cũng kéo sang tàn
phá thành Pagan của người Miến
Điện. Năm 1258, ba đạo quân Mông
Cổ lại tấn công Nam Tống: đạo
thứ nhất đánh Tứ Xuyên, bị chống
trả rất dữ dội; đạo thứ hai do
đích thân Hốt Tất Liệt chỉ huy
đánh Hồ Bắc chiếm được thành Vũ
Xương; đạo thứ ba đánh Hồ Nam
chiếm được thành Trường Sa. Năm
1259, trong một trận ở Hồ Nam,
Mông Kha bị thương, mấy hôm sau
thì mất. Cả ba đạo đều rút lui
do việc hai ông hoàng đệ Hốt Tất
Liệt và Ariq Boke tranh nhau
ngôi Đại Hãn. Đại Lý thừa dịp
giành lại độc lập. (III D2) Hốt
Tất Liệt lên ngôi Đại Hãn. Ông
cho xây lại kinh đô nhà Kim là
Trung Đô (sau này là Bắc Kinh),
xong năm 1267 và đặt tên là Đại
Đô, rồi thiên đô từ Karakorum về
đấy. Cũng năm ấy, Hốt Tất Liệt
lại tấn công Hà Nam, Hồ Bắc.
Quân Nam Tống chống cự mãnh liệt,
mãi đến năm 1273, ông mới chiếm
được thành Tương Dương trên sông
Hán Thuỷ. Năm 1274 bắt đầu cuộc
đại tấn công: đại tướng Bá Nhan
chỉ huy hai đạo quân, một đi
đường thuỷ, một đi đường bộ cùng
xuống Giang Tô, năm 1276, chiếm
được kinh đô Hàng Châu của Nam
Tống, bắt được vua và hoàng gia.
Tướng nhà Nam Tống ở miền nam
sông Dương Tử còn chống cự mãi
đến năm 1279 mới thôi.
Năm 1351, Hàn Sơn Đồng và Lưu
Phúc Thông sáng lập Bạch Liên
giáo, chống lại sự đô hộ của
người Mông Cổ. Chỉ vài tháng sau,
họ Hàn bị bắt rồi bị xử tử. Họ
Lưu dựng cờ khởi nghĩa ở quận
Anh Châu, tỉnh An Huy. Quân nổi
loạn quấn khăn đỏ trên đầu nên
còn được gọi là Hồng Bố Quân.
Chả mấy chốc mà quân này có đến
100 ngàn người, dân chúng hai
bên bờ sông Hán Thuỷ và sông
Dương Tử theo về càng đông. Rồi
năm 1352, Từ Huy Thọ nổi lên ở
Hồ Bắc, chiếm một dải dọc hữu
ngạn sông Dương Tử. Năm 1355,
Chu Nguyên Chương, một thủ lãnh
của Minh giáo, chiếm được Hàng
Châu và nhiều thành quan trọng
khác, rồi xông lên chiếm Đại Đô.
Vua nhà Nguyên bỏ chạy về Mông
Cổ. Họ Chu lập ra nhà Minh
(1368-1644).
Năm 1271, Hốt Tất Liệt đã tuyên
bố thành lập nhà Nguyên. Nhưng
sử Trung Hoa chỉ công nhận nhà
này từ năm 1280 là năm nhà Tống
không còn cầm quyền nữa đến năm
1368 là năm người Mông Cổ bị
đuổi khỏi Trung Hoa, dài 88 năm,
gồm 11 đời vua, kể từ Nguyên Thế
Tổ Hốt Tất Liệt.
Bốn Đại Hãn đầu (từ Thành-cát-tư
Hãn đến Mông Kha) được Hốt Tất
Liệt truy phong miếu hiệu. Mười
một Đại hãn sau (kể từ Hốt Tất
Liệt) thực sự là hoàng đế nhà
Nguyên.
Thành-cát-tư Hãn Thiết Mộc Chân
(1206-1227), miếu hiệu Nguyên
Thái Tổ.
Oa Khoát Đài (Ogotai)
(1227-1241), miếu hiệu Nguyên
Thái Tông.
Quý Do (Guyuk)
(1246-1248), miếu hiệu Nguyên
Định Tông.
Mông Kha (Monke)
(1251-1259), miếu hiệu Nguyên
Hiến Tông.
Hốt Tất Liệt (Kubilai)
(1259-1294), miếu hiệu Nguyên
Thế Tổ.
Thêm 10 đời đại hãn nữa
(1294-1368)
8. Nhà Nguyên mở mang bờ cõi
nhưng thất bại
Triều đại Mông Cổ cai trị đại
hãn quốc ở phương đông xưng là
nhà Nguyên (1280-1368). Nhà này,
dưới đời đại hãn Hốt Tất Liệt
(1259-1294), nhiều lần định mở
mang thêm bờ cõi, nhưng đều thất
bại. Những đời đại hãn sau Hốt
Tất Liệt đành bằng lòng với việc
cai trị người Tàu, hưởng thụ sự
sang giàu của nước Tàu, không
nghĩ đến việc chinh chiến nữa.
Rồi các đại hãn càng về đời sau
càng hèn kém.
Người Tàu có câu cửa miệng “Bắc
mã Nam chu”, phương bắc giỏi về
cưỡi ngựa và phương nam giỏi về
chèo thuyền, suy rộng ra, người
phương bắc giỏi về kỵ chiến và
người phương nam giỏi về thuỷ
chiến. Những lần Hốt Tất Liệt
đánh sang các nước chung quanh
đều bị thất bại, và đều thất bại
vì thuỷ chiến. Chúng tôi điểm
qua về những cuộc viễn chinh này.
Đánh Nhật Bản lần thứ nhất: năm
1274, Hốt Tất Liệt dùng thuyền
mang quân từ Triều Tiên sang
đánh Nhật Bản. Đoàn chiến thuyền
gặp bão lớn, đắm rất nhiều. Dân
Nhật tin là được trời giúp, gọi
trận bão ấy là Kamikazé (Thần
Phong, Gió Thần). Các nhà khảo
cổ học Nhật Bản đã lặn xuống đáy
biển nơi đoàn chiến thuyền Mông
Cổ bị đắm cách nay hơn bảy thế
kỷ, vớt lên những tàn tích để
nghiên cứu. Họ có hai nhận xét
chính.
Thứ nhất là thuyền đóng bằng
những loại gỗ mà nước Nhật không
có, như thế có nghĩa là những
chiến thuyền Mông Cổ được đóng ở
những nơi khác, nhiều khả năng
là đóng ở Triều Tiên. Thứ hai là
lỗ cắm cột buồm không được khít,
không ôm chắc lấy cột buồm nên
khi thuyền gặp sóng to gió lớn
là cột buồm lung lay dễ gẫy và
thuyền cũng bị đảo mạnh dễ đắm.
Nhận xét này cho phép chúng ta
nghĩ gì? Người Triều Tiên nổi
tiếng là những nhà đóng thuyền
giỏi vào bậc nhất Đông Á. Từ
thời cổ, họ đã có khả năng đóng
những chiến thuyền vừa to vừa
dài, phía trên là mặt bằng dùng
làm nơi chiến đấu, phía dưới là
nơi những tay chèo đẩy mái chèo
để thuyền di chuyển, giống như
những chiếc galère xưa ở biển
Địa Trung Hải. Nhưng những nhà
đóng thuyền Triều Tiên không
đóng thuyền cho thuỷ quân của tổ
quốc họ mà cho thuỷ quân của
Mông Cổ là bọn thống trị họ. Làm
sao mà họ có thể đem hết tài
năng ra chế tạo cho được những
chiến thuyền thật tốt để vượt
biển?
Đánh Nhật Bản lần thứ hai: năm
1281, Hốt Tất Liệt lại tấn công
Nhật Bản bằng hai đạo, một đạo
từ Triều Tiên, một đạo từ Hàng
Châu, cùng trực chỉ đảo Cửu Châu.
Lần này thuỷ quân Mông Cổ không
gặp bão, nhưng gặp quân Nhật đã
phòng thủ sẵn. Quân Mông Cổ vừa
đặt chân lên bãi biển, chưa kịp
hết say sóng, đã gặp quân Nhật
ào ra tấn công điên cuồng. Với
lối đánh cận chiến, cung tên của
Mông Cổ trở thành vô dụng, giáo
và kích dài trở thành vướng víu
khó xoay trở, trong lúc quân
Nhật dùng kiếm chém giết rất
tiện lợi trong cuộc giáp lá cà.
Quân Mông Cổ thua ngay trên bãi
biển, tàn quân vội vàng rút
xuống thuyền bỏ chạy.
Đánh Đại Việt lần thứ hai và
đánh Chiêm Thành: (năm 1253, sau
khi chiếm được nước Đại Lý ở Vân
Nam, quân Mông Cổ đánh nước Đại
Việt lần thứ nhất) năm 1282,
triều đình nhà Nguyên gây sự với
Đại Việt, sách nhiễu đủ thứ, đòi
cống nhân tài, vật lạ, châu báu,
đặt quan đạt-lỗ-hoa-xích (tiếng
Mông Cổ, có nghĩa là quan chưởng
ấn) để giám trị các châu quận.
Cho nên vua Trần Thánh Tông
(1258-1278) tu binh dụng võ đề
phòng. Sứ Mông Cổ là Sài Thung
nhũng nhiễu. Vua Trần Nhân Tông
(1279-1293) sai chú họ là Trần
Di Ái đi sứ. Nguyên bèn lập Ái
làm An Nam quốc vương và sai Sài
Thung dẫn 1.000 quân mang Ái về.
Nhân Tông sai quân đón đường
đánh: Thung bị bắn mù một mắt,
trốn về Tàu, Ái bị bắt phải tội
đồ làm lính.
Năm 1284, Hốt Tất Liệt sai con
là Thoát Hoan cùng các tướng là
bọn Toa Đô, Ô Mã Nhi mang 500
ngàn quân sang Đại Việt, giả
tiếng mượn đường đánh Chiêm
Thành. Vua Trần Nhân Tông không
thuận. Quân Mông Cổ chia làm hai
đạo cứ kéo bừa sang. Lục quân do
Thoát Hoan đích thân chỉ huy,
kéo vào Lạng Sơn. Thuỷ quân do
Toa Đô chỉ huy, từ Quảng Châu
vượt biển sang Chiêm Thành, đổ
bộ lên bờ biển nay là Quảng Ngãi,
Bình Định. Quân Chàm do hoàng tử
Harajit chỉ huy. Harajit cùng mẹ
là hoàng hậu Gaurendraksmi lánh
lên cao nguyên Ya Heou (nay gọi
là An Khê), mộ được 20 ngàn
người Thượng của nhiều sắc tộc
sơn cước, tổ chức kháng chiến
bằng chiến thuật du kích, đêm
đêm từ trên núi đánh xuống, gây
thiệt hại nặng cho quân Mông Cổ.
Toa Đô không làm nên cơm cháo gì,
phải bỏ Chiêm Thành, kéo quân ra
Nghệ An với ý đồ đánh quân Việt
bằng hai mặt. (Năm 1288, Harajit
lên làm vua, hiệu là Jaya
Simhavarman III, người Việt gọi
là Chế Mân. Năm 1306, ông dâng
hai châu Ô và Ri làm sính lễ,
cưới công chúa Huyền Trân, và
công chúa về kinh đô Đồ Bàn,
được phong là hoàng hậu
Parameçvari).
Vua Nhân Tông phong cho Hưng Đạo
vương Trần Quốc Tuấn làm tiết
chế. Ông hội tướng sĩ ở Đông Bộ
Đầu, được 200 ngàn quân thuỷ bộ.
Nhân Tông triệu các bô lão ở
điện Diên Hồng, mọi người đều
quyết đánh. Lúc đầu, quân Đại
Việt thua ở nhiều nơi và kinh đô
Thăng Long cũng thất thủ. Năm
sau, quân Đại Việt lợi dụng vùng
châu thổ Bắc Việt sông ngòi
chằng chịt, thắng liên tiếp
nhiều trận thuỷ chiến như Hàm Tử
(do Trần Nhật Duật và Trần Quốc
Toản chỉ huy, phá được quân của
Toa Đô), Chương Dương (do Trần
Quang Khải và Phạm Ngũ Lão chỉ
huy, khôi phục lại Thăng Long),
và nhất là Tây Kết (do Trần Hưng
Đạo đích thân chỉ huy, Toa Đô bị
giết, Ô Mã Nhi trốn thoát về Tàu),
để rồi kết liễu bằng trận Vạn
Kiếp (do Trần Hưng Đạo chỉ huy,
cùng các tướng Nguyễn Khoái,
Phạm Ngũ Lão..., Thoát Hoan trốn
về Tàu, Lý Hằng, Lý Quán bị bắn
chết).
Đánh Đại Việt lần thứ ba: năm
1281, sau khi thua Nhật Bản lần
thứ hai, nhà Nguyên đang chuẩn
bị đánh Nhật Bản lần thứ ba thì
xảy ra việc thua Đại Việt năm
1285. Nhà Nguyên hoãn việc đánh
Nhật Bản, quay sang chuẩn bị
đánh Đại Việt lần thứ ba: đóng
thêm ba trăm chiến thuyền, tụ
tập quân các tỉnh Giang Hoài, Hồ
Quảng, Giang Tây, theo đường
châu Khâm, châu Liêm đánh báo
thù. Năm 1287, Thoát Hoan cùng
các tướng A Bát Xích, Áo Lỗ Xích,
Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp... đem 300
ngàn quân giả danh đưa người tôn
thất nhà Trần là Ích Tắc về nước.
Tướng Trương Văn Hổ tải lương
theo đường biển.
Ngay từ đầu, Trần Khánh Dư cùng
Yết Kiêu, Dã Tượng đã cướp được
những thuyền lương của địch
trong trận Vân Đồn, Trương Văn
Hổ trốn về Tàu, quân Nguyên nao
núng. Năm sau, trận Bạch Đằng
nổi tiếng diễn ra. Lòng sông bị
cắm cọc, thuyền địch to nặng
vướng phải cọc đổ ngả nghiêng,
các tướng địch Ô Mã Nhi, Phàn
Tiếp, Tích Lệ, Cơ Ngọc bị bắt.
Quân Việt lấy được hơn bốn trăm
thuyền. Thoát Hoan dẫn bộ binh
đến ải Nội Bàng gặp Phạm Ngũ Lão,
đi đến ải Nữ Nhi và núi Kỳ Cấp
lại gặp phục binh bắn tên tẩm
thuốc độc, A Bát Xích, Trương
Ngọc tử trận. Cuối năm ấy, Đại
Việt lại thông sứ với nhà Nguyên
để giữ hoà khí, tránh việc binh
lửa.
Đánh Java (trong quần đảo Nam
Dương): Năm 1293, quân Mông Cổ
từ Hàng Châu đi thuyền xuống
đánh đảo Java, nhưng bị thua
ngay khi mới đặt chân lên bờ
biển. Còn đang bị say sóng chăng?
Từ đấy, người Mông Cổ chỉ lo
việc cai trị người Tàu, không
còn chí chinh chiến mở thêm bờ
cõi nữa.
9. Đế quốc Mông Cổ và bán đảo
Triều Tiên
Từ rất sớm, vua Hán Vũ Đế
(140-86) đã chinh phục bán đảo
Triều Tiên, lập ra bốn quận. Mỗi
khi Trung Nguyên mạnh lên thì
người Tàu lại tìm đủ mọi cách
chinh phục xứ sở Buổi Sáng Yên
Tĩnh này, và mỗi khi Trung
Nguyên suy yếu hoặc loạn lạc thì
người Triều Tiên lại nổi dậy
giành tự chủ. Về sau, bán đảo
này độc lập, nhưng chia làm ba
nước: Cao Câu Ly ở miền bắc, Tân
La ở miền đông-nam và Bách Tế ở
miền tây-nam. Nước Cao Câu Ly có
lãnh thổ là bắc bộ bán đảo và
lấn sang miền nay là “khu tự trị
Yên Biên” trong tỉnh Cát Lâm của
Mãn Châu, kinh đô là Bình Nhưỡng.
Trong ba nước thì nước Cao Câu
Ly có lãnh thổ lớn hơn cả, có
nền văn minh cao hơn cả, có nếp
sinh hoạt cũng phồn thịnh hơn cả.
Từ năm 668, bán đảo bị người Tàu
đô hộ một thời gian. Năm 1215,
Thành-cát-tư Hãn hạ được thành
Trung Đô của nước Kim, đốt phá,
cướp bóc, giết người, hãm hiếp
khủng khiếp. Cao Câu Ly khiếp sợ,
xin triều cống Mông Cổ, được ưng
thuận.
Năm 1225, bên Đại Việt có biến
cố lớn: nhà Trần cướp ngôi nhà
Lý. Người tôn thất nhà Trần là
Thủ Độ rất nham hiểm, tìm đủ mọi
cách thủ tiêu tôn thất nhà Lý.
Năm sau, một hoàng tử nhà Lý là
Lý Long Tường (con thứ sáu của
vua Lý Anh Tông và em vua Lý Cao
Tông Long Cán), cùng với người
họ là Đông Hải công Lý Quang Bật
vào nơi thờ vua Lý Thái Tổ là
miếu Nam Bình đem hết đồ thờ
chạy đến bến Vân Đồn ở Quảng Yên,
vượt biển, cập bến Phú Lương
Giang, nay đổi tên là Naknaewae
(bến của khách viễn phương có
mang đồ thờ) thuộc đảo Xương Lân,
quận Khang Linh, tỉnh Hoàng Hải
(ở đông-bắc bán đảo) tỵ nạn. Vua
Cao Câu Ly là Cao Tông phong cho
ông tước Hoa Sơn quân, cấp cho
đất ở Trấn Sơn, huyện Bồn Tân,
tỉnh Hoàng Hải. Ông cưới vợ
người Cao Ly, được hai con, đều
làm quan trong triều.
Năm 1233, vua Mông Cổ là Oa
Khoát Đài hạ được kinh đô Khai
Phong của nước Kim. Quân Mông Cổ
tràn qua sông Áp Lục (Yalu),
đánh xuống Bồn Tân, bị Hoa Sơn
tướng quân Lý Long Tường và Đông
Hải quân Lý Quang Bật đánh cho
đại bại. Năm 1253, vua Mông Cổ
là Mông Kha sai em là Hốt Tất
Liệt mang quân đi đánh nhà Tống.
Có một đạo quân tách ra đánh
xuống bán đảo Triều Tiên. Khi
đạo quân này tiến đến Bồn Tân
thì Hoa Sơn tướng quân đang bị
thương, nhưng được hai con là Lý
Cán và Lý Nhất Thanh giải nguy
và còn thắng quân địch nữa.
Vua Cao Tông của nước Cao Câu Ly
nhớ ơn Lý tướng quân, cho xây
Thụ Hàng Môn, ở đó có bia ghi sự
tích Hoa Sơn tướng quân, anh
hùng Cao Ly nhưng không quên
mình là người Đại Việt. Trên
đỉnh núi Quảng Đài Sơn có Vọng
Quốc Đàn, nay gọi là Vọng Cố
Hương, có một tảng đá gọi là
Việt Thanh Nham để Lý tướng quân
ngồi ngóng về quê cũ. Năm 1953,
chiến tranh Triều Tiên xảy ra,
chi chính của dòng họ Lý, gồm
hai trăm gia đình chạy xuống Hán
Thành của Đại Hàn (Nam Cao).
Vào thập niên (19)60, chính phủ
Đại Hàn đã dựng tượng Lý tướng
quân (còn gọi là Bạch Mã tướng
quân) trên đường từ phi trường
đến Hán Thành. Trong cuộc chiến
tranh Việt Nam vừa qua, chính
phủ Đại Hàn có gửi một sư đoàn
thiện chiến sang tham dự, đó là
sư đoàn Bạch Mã lừng danh. Năm
1994, hậu duệ đời thứ 25 của
ngài là Lý Xương Căn có về làng
Đình Bảng, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc
Ninh thăm quê cha đất tổ.
Năm 1392, bán đảo Triều Tiên
thống nhất dưới triều đại Lý.
Đầu thế kỷ thứ XVII, bán đảo lại
là chư hầu của Trung Hoa. Từ năm
1894, nơi đây là sân khấu của sự
tranh chấp giữa Tàu và Nhật, rồi
Tàu bị lép vế, mất hết quyền
hành. Năm 1910, bán đảo Triều
Tiên bị quân đội Thiên Hoàng
chiếm đóng, mãi đến năm 1945
Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh thì
Triều Tiên mới được giải phóng.
Nhưng lại bị chia đôi, miền bắc
(Bắc Cao) dựa vào Liên Xô và
miền nam (Nam Hàn) dựa vào Hoa
Kỳ. Từ năm 1950 đến năm 1953,
nội chiến xảy ra khốc liệt.
Ngày nay, “khu tự trị Yên Biên”
nằm trong lãnh thổ Trung Quốc,
chỉ có khoảng một triệu dân, văn
hoá khác hẳn văn hoá Tàu, thế mà
người Tàu cứ nhận bừa là của
mình. Sử gia Yeo Ho Kyu của Đại
Học Hán Thành nhân dịp này đã
phát biểu: “Người Tàu từ xưa
thường hay dùng lá bài văn hoá
người Hán để thôn tính các nước
lân cận, như họ đã làm tại Tây
Tạng, Tân Cương.
Nay họ đang có tham vọng biến
vùng đông bắc Á thành một tỉnh
của họ”. Trung Quốc sợ vùng này
đòi ly khai rồi trở lại với
Triều Tiên thống nhất nên đã
nhận vơ nền văn hoá Cao Câu Ly
là của mình để dễ đồng hoá. Việc
này đang bị cả Bắc Cao lẫn Nam
Hàn, cả Nhật Bản nữa, phản đối.
Một chính khách Nam Hàn đầu năm
2004 kêu gọi các dân tộc Triều
Tiên, Mông Cổ, Mãn Châu, Tân
Cương, Tây Tạng, Việt Nam... hãy
đoàn kết chống hiểm hoạ Tàu.
Thư tịch sơ lược
Đào Duy Anh, Trung Hoa sử cương.
Bốn Phương, Sài Gòn, 1954.
Đặng Vũ Nhuế, Phương đông –
Phương tây, phiếm luận, Paris,
2004.
Eberhard W., Histoire de la
Chine, Payot, Paris, 1952.
Gowen Herbert H., Histoire de
l’Aise, Payot, Paris 1929.
Grousset René, Histoire de
l’Aisa. PUF No 25, Paris 1958.
Huc R.E., Souvernirs d’un voyage
dans la tartarie et le Tibel,
Librarie Général Française,
1962.
Phan Khoang, Trung Quốc sử lược,
Sài Gòn, 1958.
Schafer Edward H., Ancient
Chine, Time-Life Books, New York
1967.
Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược,
Tân Việt: Sài Gòn 1954.
|