̣Sau
vụ án Lệ Chi Viên ngày 19/9/1442 (tức ngày
16 tháng 8 năm Nhâm Tuất), dòng họ Nguyễn
Trãi gần như tuyệt diệt. Một số con cháu
sống sót phiêu tán lánh nạn khắp nơi. Đến
nay chúng tôi tạm thống kê được 23 chi họ
phân tán ở một số tỉnh từ Cao Bằng đến Nghệ
An, Hà Tĩnh.
Năm 2002 Ban quản lý di tích Côn Sơn bước
đầu tổ chức khảo sát nghiên cứu sưu tầm tư
liệu ở 12 chi họ: Chi Ngại, Phương Quất, Quế
Lĩnh, Triều Bến, Xuân Dục, Phù Khê, Nhị Khê,
Canh Hoạch, Thụy Phú, Gia Miêu, Cẩm Nga, Lan
Trà, Dự Quần, ở các tỉnh Hải Dương, Hưng
Yên, Quảng Ninh, Thanh Hóa…
Chúng tôi đã sưu tầm được 14 cuốn gia phả
viết bằng Hán, Nôm của các chi họ. Niên đại
gia phả từ thời: Hồng Thuận Tứ Niên (năm
1513), Cảnh Hưng nguyên niên (năm 1740), gần
đây nhất là cuốn gia phả sao lại năm 1962.
Về nguồn gốc của các chi họ, gia phả đều
thống nhất ghi: Nguyên quán cụ tổ tiên đời
trước của họ ta ở xã Chi Ngại, huyện Phượng
Nhỡn, phủ Lạng Giang, trấn Kinh Bắc (nay là
thôn Chi Ngãi, xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh,
tỉnh Hải Dương). Sau dời về làng Hạ, xã Nhị
Khê, huyện Thượng Phúc; phủ Thường Tín, đạo
Sơn Nam.
Về gốc tích cội nguồn họ Nguyễn ở thôn Chi
Ngại, truyền thuyết của dòng họ kể rằng: Tổ
tiên dòng họ Thái Tể triều Đinh - Đinh Quốc
Công Nguyễn Bặc (924 - 979), có công giúp
Đinh Bộ Lĩnh thống nhất 12 sứ quân để lập ra
triều Đinh. Khi Nguyễn Bặc kéo quân về Côn
Sơn dẹp sứ quân của Phạm Phòng Át (Phạm Bạch
Hổ), ông để lại con cháu của mình cùng năm
vị tướng quân họ Phí ở lại Chi Ngại cai quản
vùng đất này. Khi năm anh em họ Phí mất,
người dân Chi Ngại tôn họ làm Thành Hoàng,
lập đền thờ cúng. Đình làng Chi Ngại bị phá
hủy trong kháng chiến chống thực dân Pháp,
nhưng bài vị, ngai thờ và thần tích của năm
vị tướng họ Phí vẫn được lưu giữ thờ phụng
đến ngày nay (nay bài vị của năm vị Thành
Hoàng thờ ở chùa Ngái của thôn Chi Ngại).
Qua những tư liệu trên, chúng ta thấy nguồn
gốc dòng họ Nguyễn Trãi ở Chi Ngại có xuất
xứ từ Nguyễn Bặc - Thái tể Định Quốc Công
triều Đinh, quê ở huyện Hoàng Hóa, Thanh
Hóa, di cư ra khoảng cuối thế kỷ X. Từ đó
dòng họ Nguyễn phát triển đến đời cụ Tiên
Nghiêm, sinh ra hai con trai. Vì nhà nghèo,
hai anh em họ Nguyễn từ Chi Ngại đến Trại Ổi
(tức làng Nhị Khê - Thường Tín, Hà Đông) làm
thuê cho một nhà bán tương để sinh nhai. Nhờ
một sự may mắn, hai anh em biết được ngôi
đất quý ở cánh đồng Trung, bèn mang mộ tổ từ
Chi Ngại sang táng ở bãi đất này. Ngôi mộ
phát tích đó nay vẫn còn, người Nhị Khê gọi
là “Dàn Cấm Địa”.
Một thời gian sau người em sang định cư ở
thôn Cổ Hoạch: (huyện Thanh Oai, Hà Đông),
người anh ở lại Nhị Khê. Từ đó lập nên ba
chi họ Nguyễn. Chi họ gốc ở Chi Ngại, Chi họ
Nhị Khê và chi họ Canh Hoạch.
Chi họ Nguyễn ở Canh Hoạch, đến thời Lê Mạc
(thế kỷ XVI) sinh ra Nguyễn Thiến đỗ Trạng
Nguyên, phù giúp vua Lê Trang Tôn trừ nhà
Mạc, dẹp loạn Ai Lao, đánh Chiêm Thành. Sau
con cháu vào Hà Tĩnh lập nên Chi họ Nguyễn
Tiên Điền, cháu ngoại là Đại thi hào Nguyễn
Du. Đến thế kỷ XX, cụ Nguyễn Du được Hiệp
hội UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa
thế giới.
Theo gia phả chi họ Nguyễn Nhị Khê (khoảng
năm 1455) thì cụ tổ sinh ra Nguyễn Ứng Long
- đổi tên thành Nguyễn Phi Khanh. 19 tuổi
ông đỗ đệ nhất giáp Tiến sĩ, đệ nhị danh
bảng nhãn thời Trần Duệ Tông (1374). Năm
1401, Nguyễn Phi Khanh ra làm quan dưới
triều Hồ. Năm 1407, giặc Minh sang xâm lược
nước ta, ông bị bắt đưa về Vạn Sơn Điếm-
tỉnh Hồ Nam- Trung Quốc và mất ở đó. Hài cốt
của ông được người con thứ ba là Nguyễn Phi
Hùng đưa về táng ở núi Báo Đức (còn gọi là
núi Bái Vọng). Nay thuộc xã Hoàng Hoa Thám,
huyện Chí Linh, Hải Dương (cách làng Chi
Ngại khoảng năm km về phía đông).
Nguyễn Phi Khanh lấy bà Trần Thị Thái hiệu
là Ngọc Điền, con quan Tư Đồ Trần Nguyên
Đán. Bà sinh được 4 người con trong đó có
Nguyễn Trãi, Nguyễn Phi Hùng, Nguyễn Phi Ly.
Cụ bà Trần Thị Thái mất sớm (năm 1490). Cụ
Nguyễn Phi Khanh lấy bà vợ kế người họ Nhữ ở
xã Mộc Nhuận, nay là xã Đông Yên, huyện Đông
Sơn, Thanh Hóa. Bà sinh được hai người con
trai tên là Nguyễn Nhữ Soạn. Ông là một
trong số ít người tham gia tiền khởi nghĩa
Lam Sơn. Trong khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn
Như Soạn là vị tướng tài ba lập nhiều công
được vua Lê phong là Binh Ngô Khai quốc công
thần. Sau khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Trãi và
Nguyễn Như Soạn cùng làm quan đông triều,
anh là quan văn, em là quan võ làm rạng tổ
tông. Từ đó dòng họ Nguyễn phát triển. Các
chi đều lấy đệ Nhất Thái Thượng Cao Tổ của
dòng họ là Nguyễn Phi Khanh (đời thứ nhất).
Đệ nhị tổ (đời thứ 2) là Nguyễn Trãi, hiệu
Ức Trai, ông sinh năm 1380.
Do có công lao lớn Nguyễn Trãi được vua Lê
Thái Tổ ban họ vua là Lê Trai và phong chức
tước: "Khai quốc công thần, Nhập nội hành
khiển, Trung thư hàn lâm ngự sử, Lục Bộ
Thượng Thư, Tứ Kim Ngư Đại Thượng Hộ Quan
Phục Hầu”. Năm 1442, vụ án Lệ Chi Viên oan
khuất đã kết thúc đời ông cùng ba họ.
Nguyễn Trãi có năm người vợ.
+ Bà họ Trần: Sinh ra Nguyễn Khuê, Nguyễn
Ứng, Nguyễn Phù.
+ Bà họ Phùng: Sinh ra Thị Trà, Nguyễn Bảng,
Nguyễn Tích.
+ Bà Thị Lộ: Không có con.
+ Bà Phạm Thị Mẫn: Sinh ra Nguyễn Ánh Vũ
(sau vụ án Lệ Chi Viên)
+ Bà họ Lê: Sinh ra con cháu ở chi Quế Lĩnh,
Phương Quất- huyện Kim Môn, Hải Dương.
Sau vụ án Lệ Chi Viên, dòng họ Nguyễn Trãi ở
Chi Ngại, Nhị Khê gần như bị thảm sát hết.
Trong các phả hệ ghi lại số ít thoát nạn là:
Nguyễn Phi Hùng con Nguyễn Phi Khanh là em
thứ ba của Nguyễn Trãi chạy về Phù Khê, Từ
Sơn, Bắc Ninh; Nguyễn Phù con Nguyễn Trãi
chạy lên Cao Bằng, đổi họ sang họ Bế Nguyễn.
Bà họ Lê vợ thứ năm của Nguyễn Trãi mang
thai chạy về Phương Quất, huyện Kim Môn, Hải
Dương.
Bà Phạm Thị Mẫn vợ thứ tư của Nguyễn Trãi có
mang ba tháng, được người học trò cũ của
Nguyễn Trãi là Lê Đạt đưa bà chạy trốn vào
xứ Bồn Man (phía Tây Thanh Hóa); Sau lại về
thôn Dự Quần, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia,
Thanh Hóa. Nay là thôn Dự Quần, xã Xuân Lâm,
huyện Tĩnh Gia. Tại Đây, bà sinh ra Nguyễn
Anh Vũ. Để tránh sự truy sát của triều đình,
Nguyễn Anh Vũ đổi sang họ mẹ là Phạm Thanh
Vũ.
Mặc dù trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn
Nguyễn Anh Vũ vẫn nối chí cha ông, dùi mài
kinh sử, thi đỗ hương cống.
Năm 1464, vua Lê Thánh Tông ra chiếu giải
oan cho Nguyễn Trãi, vụ án Lệ Chi Viên mới
đến hồi kết thúc sự truy sát của triều đình.
Nguyễn Anh Vũ được Lê Thánh Tông phong cho
chức Đồng Tri Phủ Tĩnh Gia- Thanh Hóa, cấp
cho 100 mẫu ruộng gọi là "Miễn hoàn điền"
(ruộng không phải trả lại) con cháu đời đời
được hưởng. Nhớ ơn ông cha tổ tiên, Nguyễn
Anh Vũ xây dựng mộ chí của Nguyễn Trãi tại
xứ đồng Tai Hà, làng Dự Quần. Lấy sọ dừa,
cành dâu táng làm cốt. Ông xây dựng từ đường
tổ tiên và người cha quá cố của mình. Lấy
ngày mất của Nguyễn Trãi, 16 tháng 8 là ngày
giỗ họ. Đời sau do khó khăn về kinh tế,
tháng 8 lại gió bão nhiều, không thuận tiện
cho việc tế tổ, họ chuyển ngày giỗ sang ngày
21 tháng Giêng (ngày mất của tổ Nguyễn Anh
Vũ).
Nguyễn Anh Vũ có hai bà vợ, tám người con:
Bà cả sinh hạ sáu con trai một con gái.
Con cả là Nguyễn Tạc năm 23 tuổi đỗ tiến sĩ
đệ tam danh "Thám hoa" được bổ nhiệm chức
trấn thủ xứ An Bang (khu vực tỉnh Quảng Ninh
hiện nay). Sau đi sứ Trung Quốc bị đắm
thuyền mất ở hồ Động Đình, tỉnh Hà Nam-
Trung Quốc.
Sau vụ Lệ Chi Viên ở quê tổ Chi Ngại và Nhị
Khê, dòng họ thất tán không còn ai. Nguyễn
Anh Vũ cử người con thứ hai là Nguyễn Đám
trở về Nhị Khê để khởi dựng lại dòng họ, tu
sửa từ đường phần mộ tổ để thờ cúng.
Cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, dòng họ
Nguyễn ở Nhị Khê lại cử cụ Nguyễn Thung hiệu
là Phúc Khánh trở về chốn tổ là thôn Chi
Ngại để chấn hưng dòng họ và trông coi phần
mộ tổ ở núi Bái Vọng. Vì vậy chi họ Nguyễn ở
Chi Ngại lấy đệm là Nguyễn Quy (Quy là quay
trở lại gốc tổ tiên).
Người con thứ ba của Anh Vũ là Nguyễn Quân,
thi trúng Sùng Văn Quán, được bổ nhiệm làm
Thừa tuyên phủ Tĩnh Gia. Hậu duệ là con cháu
làng Dự Quần ngày nay.
Con thứ tư là Nguyễn Thiêm.
Con thứ năm là Nguyễn Giáp, về Xuân Dục, lập
gia chi họ Xuân Dục, ở huyện Mỹ Hào, tỉnh
Hưng Yên.
Con thứ sáu là Nguyễn Thung, về xã Hải
Phương huyện Hải Hậu - Nam Định.
+ Bà vợ thứ hai của Anh Vũ sinh được một con
trai là Nguyễn Chân Phượng sau đổi sang họ
Phạm về thôn Nỗ Vệ, xã Thụy Phú, huyện Phú
Xuyên, tỉnh Hà Tây, để trông coi phần mộ và
từ đường bà Phạm Thị Mẫn - thân mẫu của Anh
Vũ. Nay thành chi họ Phạm Nguyễn.
Như vậy kể từ sau vụ án Lệ Chi Viên năm
1442, đến năm 1464 khi vua Lê Thánh Tông
xuống chiếu giải oan cho Nguyễn Trãi, con
cháu Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi mới phục
hưng trở lại. Đến nay thành dòng họ lớn, các
lớp con cháu không ngừng kế tiếp truyền
thống tổ tiên, cống hiến nhiều công lao cho
đất nước.
Theo phả các chi họ, từ cụ Nguyễn Phi Khanh
đến các đời sau, đời nào cũng có người đỗ
đạt làm quan giúp nước. Qua thống kê ở năm
chi họ là: Dự Quần, Canh Hoạch, Thuỵ Phú,
Phù Khê, Xuân Dục, từ nửa thế kỷ XV đến đầu
thế kỷ XX đã có 11 tiến sĩ nho học, một quận
công, cùng hàng chục người đỗ cử nhân, tam
trường, tứ trường... Họ được bổ nhiệm nhiều
chức vụ quan trọng trong triều đình làm tri
phủ, tri huyện, võ quan... ở các địa phương.
Họ Nguyễn ở Phủ Khê, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh
có tới 10 tiến sĩ (6 tiến sĩ nho học), 2
tiến sĩ, 3 giáo sư 42 cử nhân, 9 bác sĩ, 1
nhạc sĩ... Trong phong trào cách mạng vô sản
đồng chí Nguyễn Văn Cừ - Bí thư Đảng Cộng
sản Đông Dương (1938-1940) là hậu duệ đời
thứ 17 của dòng họ này.
Chi họ Nguyễn Xuân Dục- Mỹ Hào- Hưng Yên, có
4 tiến sĩ (2 tiến sĩ nho học), 1 giáo sư, 4
phó giáo sư, 30 cử nhân. Trong phong trào
yêu nước cuối thế kỷ XIX, một người con ưu
tú của dòng họ là Nguyễn Thiện Thuật tự là
Mạnh Hiếu, (cử nhân khoa Bính Tý 1866) cùng
các em là Nguyễn Thiện Kế, Nguyễn Thiện
Dương đã thu nạp thân hào nghĩa sĩ, tế cờ
khởi nghĩa Bãi Sậy, chống thực dân Pháp.
Khởi nghĩa Bãi Sậy tan rã (1892), Nguyễn
Mạnh Hiếu; Nguyễn Thiện Kế, Nguyễn Thiện
Dương, Nguyễn Tuyễn Chi... còn tiếp tục phò
vua Hàm Nghi, vua Duy Tân trong phong trào
Cần Vương. Các ông còn tham gia khởi nghĩa
Hoàng Hoa Thám, phong trào Quang Phục Hội
của Phan Bội Châu chống thực dân Pháp.
Hơn năm thế kỷ hồi sinh phát triển dòng họ
Nguyễn Trãi qua biết bao thăng trầm, có lúc
tưởng như đã tuyệt diệt. Nhưng bởi phúc ấm
tổ tiên với lòng nhân nghĩa thấu đất trời,
dòng họ Nguyễn từ một mầm non đơn độc giữa
phong ba bão tố, vẫn tồn tại phát triển đến
ngày nay. Các thế hệ con cháu nối tiếp nhau
kế thừa xứng đáng truyền thống: Yêu nước,
hiếu học, "Bình dị, Cận dân"; "Lo trước vui
sau giữ nếp nhà" của Ức Trai, để không ngừng
học hành cống hiến xây dựng Tổ quốc Việt
Nam.
Theo Nguyễn Khắc Minh
===Đọc thêm:
NGUYỄN TRÃI CỨU NƯỚC, CỨU DÂN
BẰNG CON ĐƯỜNG NHÂN BẢN CỦA DÂN TỘC
(Lâm Văn Trung)
Khi chọn Nguyễn Trãi làm chủ đề cho trại Về
Nguồn lần thứ 12, chúng tôi được một số vị
tán thưởng và đồng thời cũng nhận được lời
khuyến cáo là sẽ gặp phải khó khăn vì đề tài
quá rộng lớn. Nguyễn Trãi không chỉ là một
nhà quân sư lỗi lạc, một chiến lược gia có
tài mà còn là một nhà văn hóa vĩ đại: Ở ông
là một kho tàng lớn về thi ca, âm nhạc và
hội ho.a. Rất nhiều cuốn sách, bài báo nói
về ông, ca tụng ông mà vẫn không thể nói hết
được về con người tài hoa ấy.
Chúng tôi cũng rất dè dặt nên chỉ đề cập thô
thiển, ngắn gọn trong phạm vi bài chủ đề cốt
để các bạn thanh niên thấy được nhờ đâu mà
nắn đúc được con người thiên tài đó và con
người đó đã thể hiện một cách toàn vẹn
truyền thống dân tộc qua cuộc sống, qua sứ
mệnh cứu dân cứu nước và qua nhân sinh quan.
Đó có phải là truyền thống NHÂN BẢN, NHÂN
CHỦ xuyên suốt từ thời vua Hùng dựng nước
đến thời đại Lý, Trần qua sự dung hóa tam
giáo Nho-Phật-Lão thành một đặc thù tư tưởng
của người Việt. Lời không đạt ý và ý cũng
không đạt hết tư duy của Nguyễn Trãi, một
con người xuất chúng, nên chúng tôi kính
mong quý vị chỉ điểm cho những sai sót của
chúng tôi.
Sau đây chúng tôi xin đề cập đến thân thế và
sự nghiệp của Nguyễn Trãi, kế đến là ba giai
đoạn của cuộc đời ông liên quan đến đặc thù
tư tưởng Việt và sau cùng là vài nhận định
của chúng tôi.
Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi sinh ra ở Thăng Long vào năm
Canh Thân 1380, hiệu Ức Trai, người gốc làng
Nhị Khê, huyện Thường Phúc, tỉnh Hà Đông.
Thân phụ ông là Nguyễn Ứng Long (sau khi ra
làm quan với nhà Hồ đổi tên là Nguyễn Phi
Khanh), thân mẫu là bà Trần Thị Thái con gái
quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Năm lên sáu tuổi
mồ côi mẹ, Nguyễn Trãi khi thì sống với cha
ở Nhị Khê, khi thì về với ông ngoại ở Côn
Sơn (tức núi Hanh, làng Chi Ngãi, tỉnh Hải
Dương) để học hành.
Năm Mậu Thìn 1388, cha ông cùng với một số
sĩ phu trong đó có ông nội và bác ruột của
ông là Nguyễn Công Luật và Nguyễn Bát Sách
âm mưu lật đổ bè cánh gian thần của Hồ Quý
Ly bị bại lô. Mọi người đều bị giết duy có
cha ông và ông nội trốn thoát vào Thanh Hóa.
Sau một thời gian yên ổn mới dám trở về Nhị
Khê. Mùa đông năm 1390, ông buồn rầu thê
lương vì vừa qua tang mẹ, đến tang ông nội
và ông bác, nay lại là tang ông ngoại, người
mà ông rất mực kính yêu và đã ảnh hưởng rất
nhiều đến cuộc đời ông. Năm Canh Thìn 1400,
sau khi bàn bạc
cùng cha đặt nợ nước trên tình nhà, hai cha
con ông đã đồng ý ra hợp tác với nhà Hồ. Năm
ấy ông đỗ tiến sĩ. Năm sau ông được cử làm
Chánh Chưởng Ngự Sử Đài, còn cha ông được cử
làm Học Sĩ Hàn Lâm Viện kiêm chức Tư Nghiệp
Quốc Tử Giám.
Từ khi thoán đoạt ngôi vua Trần Thiếu Đế,
Quý Ly đổi từ họ Lê sang họ gốc là Hồ Quý
Ly, lấy quốc hiệu là Đại Ngu, khởi sự nhiều
cuộc cải cách gấp rút, táo bạo trong nước
gây bất bình, oán thán khắp nơi, nhất là
giới hoàng tộc nhà Trần. Đây là cơ hội cho
nhà Minh lợi dụng danh nghĩa "phù Trần diệt
Hồ" để đem quân xâm lăng nước ta. Tuy nhà Hồ
có phòng bị nhưng vì chưa kịp thu phục nhân
tâm và củng cố chính quyền nên quân Minh
đánh đâu thắng đó. Cuối cùng cha con Hồ Quý
Ly và một số quan chức bị bắt dẫn đi đày
trong đó có Nguyễn Phi Khanh. Nguyễn Trãi
theo hầu cha đến cửa ải Nam Quan, được cha
dặn dò về lo việc phục quốc và báo thù nhà.
Khi giã biệt cha trở về, Nguyễn Trãi trải
qua nhiều gian nan, nguy hiểm đi khắp nơi
đằng đẳng 10 năm trời, ông chứng kiến bao
cảnh hãi hùng, thê lương mà quân Minh áp đảo
đầy đọa nhân dân, bao nhiêu đền đài miếu mạo
bị phá hủy, bao nhiêu sách vở văn hóa bị đốt
sạch:
"Độc ác thay trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay nước Đông Hải không rửa hết mùi
..."
(Bình Ngô Đại Cáo)
Trong nước nhiều nhóm khởi nghĩa như Giản
Định Đế (Trần Ngỗi), Trần Quý Khoáng, Đinh
Tôn Nhân, Lê Văn Linh... đã nổi lên ở từng
địa phương đều bị quân Minh đàn áp dã man.
Sau khi nghiên cứu tình hình địch và các
nhóm kháng chiến, Nguyễn Trãi đã quyết định
cùng với người em bên họ ngoại là Trần
Nguyên Hãn (cháu nội Trần Nguyên Đán) vào
Lam Sơn phò Lê Lơ.i. Ông dâng lên Lê Lợi tập
"Bình Ngô Sách" và thuyết phục Lê Lợi dùng
nhân nghĩa đối với tướng sĩ, dùng công tâm
để lấy thành. Ông đề ra ba phương sách uyển
chuyển giữa quân sự và chính trị: công tâm
là thượng sách, vừa công thành vừa công tâm
là trung sách, công thành là hạ sách (ba
phương cách này phù hợp với ba đường lối trị
nước là đế đạo, vương đạo và bá đạo). Đinh
Liệt có ghi lại bài thơ ca tụng Bình Ngô
Sách, được dịch ra quốc âm như sau:
Nguyễn Trãi thực uyên bác,
Diệu kế đánh vào lòng (công tâm)
Lá rừng thành thiên hịch
(Nguyễn Trãi cho dùng mật viết lên lá rừng
câu "Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần" để
kiến đục thành chữ). Bình Định Vương Lê Lợi
phong cho Nguyễn Trãi chức Tuyên Phụng Đại
Phu thừa chỉ học sĩ Hàn Lâm Viện. Nguyễn
Trãi đưa ra nhiều chiến lược, sách lược cho
Lê Lơ.i. Năm 1423 Nguyễn Trãi khuyên Lê Lợi
rút quân về Lam Sơn để bảo toàn và gây dựng
thêm lực lượng, một mặt ông viết thư hòa
hoãn với tướng Minh là Trần Trí và Sơn Tho..
Năm 1424 ông đề nghị nghĩa quân dùng kế hư
thực, giả danh tiến đánh Nghệ An nhưng thực
ra đại quân chia ba ngả tiến đánh Trà Lung.
Đồng thời bằng đường ngoại giao Nguyễn Trãi
viết thư cho Sơn Thọ nêu lên điều cơ bản làm
người trung nghĩa và danh tiết và vạch những
mâu thuẫn để chia rẽ đi.ch. Ông dùng lời lẽ
lúc cương lúc nhu và cũng không màng nguy
hiểm trực tiếp gặp các tướng Minh để thuyết
phục. Tướng Minh là Thái Phúc mở cửa xin
hàng, giao thành Nghệ An cho nghĩa quân. Từ
đó quân ta thắng liên tiếp mọi nơi. Năm 1427
Lê Lợi tổ chức hội
thề Đông Quan (Thăng Long) tha cho quân Minh
về nước theo lời bàn nhân nghĩa của Nguyễn
Trãi.
Đầu năm 1428 , Lê Lợi lên ngôi hoàng đế,
miếu hiệu Thái Tổ, niên hiệu Thuận Thiên,
quốc hiệu là Đại Việt. Nguyễn Trãi được
phong tước Quan Phục Hầu. Nhưng chưa đầy hai
năm sau nhà vua nghe bọn nịnh thần Đinh Bang
Bảng, Lê Quốc Chí ... bức tử tướng Trần
Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo còn Nguyễn
Trãi bị đưa đi an trí ở Côn Sơn.
Đến năm 1434 sau khi vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi)
băng hà, vua Lê Thái Tông lên ngôi, cho vời
Nguyễn Trãi về phục chức cũ. Ông khuyên nhà
vua lấy nhân nghĩa làm gốc trị dân. Đồng
thời ông hăng hái đề nghị cải tổ xã hội, xây
dựng nền giáo dục quốc âm và soạn thảo văn
hiến dân tộc. Chẳng bao lâu bọn quần thần
tham ô nhũng lạm lại tìm cách ngăn cản phá
hoại, quốc sách của ông không thực hiện
được, ông chán nản xin về ẩn ở Côn Sơn.
Năm 1442 vua Lê Thái Tông trên đường tuần
du, ghé thăm Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, Nguyễn
Trãi thẳng thắn tâu trình vua việc dân việc
nước. Khi nhà vua rời Côn Sơn, Nguyễn Trãi
bận đi kinh lý Bắc Đạo, chỉ có Nguyễn Thị
Lộ, người thiếp của Nguyễn Trãi, đi hộ giá
nhà vua cùng đoàn tùy tùng. Đến Lệ Chi Viên
(trại trồng vải) nhà vua ngã bệnh băng hà.
Nguyễn Thị Lộ bị vu oan giết vua và Nguyễn
Trãi bị chu di tam
tộc.
Qua thân thế, sự nghiệp và các tác phẩm còn
sót lại của Nguyễn Trãi, chúng tôi xin chia
cuộc đời ông thành ba giai đoạn:
Giai đoạn ý thức tinh thần dân tộc trong
thời niên thiếu: Trong thời niên thiếu, mẹ
mất sớm, Nguyễn Trãi có lúc ở với cha, có
lúc ở với ông ngoa.i. Chính qua sự dạy dỗ
của cha và ông ngoại, Nguyễn Trãi đã hấp thụ
tất cả nét tinh hoa của nền văn hóa Lý,
Trần. Đặc biệt nền giáo dục đã qua sự đãi
lọc và dung hóa tinh hoa của Nho, Phật, Lão
thành một tư tưởng độc đáo dưới hai triều
đại này. Ông đã được hun đúc và trưởng thành
trong tư tưởng ưu việt đó và sau này chính
ông đã hành xử một cách sáng tạo để giúp dân
giúp nước. Chúng ta thấy rõ lối cư xử này
của ông khi ông cùng cha ra giúp nhà Hồ xây
dựng nền quốc học mà không phân biệt mình là
thân nhân dòng họ Trần và sau đó ông đã cùng
Trần Nguyên Hãn lặn lội vô Lam Sơn giúp Lê
Lợi khởi nghĩa chống quân Minh.
Nhiều người khi nhận định về Nguyễn Trãi cho
ông là một nhà Nho lỗi lạc và gán ép cho ông
là tác giả của "Gia Huấn Ca", cũng như một
số vị cho ông là một thiền sư hay một đạo sĩ
của Lão giáo. Nhưng thật ra ở ông chúng ta
đã thấy, qua các tác phẩm, qua cuộc đời ông,
ông hành xử một cách uyển chuyển, theo từng
giai đoạn chứ không cố chấp hay gò bó theo
một khuôn mẫu nào. Tư tưởng này không phải
được hình thành trong một thời gian ngắn mà
phải qua một quá trình thử thách và chuyển
hóa tâm thức của người Việt. Chúng ta tự hỏi
tại sao dân tộc ta lại có cơ may để có thể
dung hóa các tư tưởng lớn thành một tinh anh
của dân tộc? Nhìn qua lịch sử, qua các huyền
thoại, ca dao, tục ngữ, chúng ta thấy văn
hóa Việt là một nền văn hóa mở rộng, không
khép, không giáo điều, dựa vào hai yếu tố
căn bản dó
là tinh thần NHÂN CHỦ và NHÂN BẢN. Nhờ quá
trình định cư, định canh sớm của nghề trồng
lúa nước, tổ tiên chúng ta sớm hình thành
xóm làng dưới thời vua Hùng, quây quần
thương yêu đùm bọc nhau trong một đại gia
đình gọi nhau bằng cô dì, chú bác, cậu
mơ.... Huyền thoại Lạc Long Quân-Âu Cơ
lấy nhau sinh ra một bọc trứng trăm con đã
nói lên tất cả nền văn hóa ưu việt đó. Đó là
tinh thần bình đẳng, thương yêu, không phân
biệt hay kỳ thị chủng tộc. Một bằng chứng
khác là Lục Tổ Thiền Huệ Năng, một người
Việt đất Lĩnh Nam thất học đã thẳng thắn trả
lời sự khinh miệt của học giả miền Bắc bằng
câu: Bắc Nam tuy có khác, song nhân tính Bắc
Nam đâu có khác (*).
Theo các công trình khảo cứu, người Việt là
một chủng tộc mang trong người dòng máu di
dân. Tổ tiên chúng ta sống rải rác khắp miền
Hoa Nam từ miền Động Đình Hồ, phía nam sông
Dương Tử vốn mang tính tự do phóng khoáng,
không chịu sự hà khắc của những kẻ du mục
hung hãn nên đã dần dà xuôi nam tìm nơi nắng
ấm và dễ dàng cho việc canh tác. Khi xuôi
nam, nhờ đặc tính nhu thuần và chăm lo ruộng
đồng, tổ tiên chúng ta đã tiếp xúc và chung
sống với dân bản địa một cách hài hòa. Sách
Trung Dung Mạnh Tử có viết: "Khoan nhu dĩ
giáo, bất báo vô đạo, nam phương chi cường
dã, quân tử cư chi. Nhẫn
kim cách, tử chi bất yếm, bắc phương chi
cường dã nhi cường dã cư chi" ("Khoan nhu mà
dậy, tha thứ kẻ vô đạo, đó là cái cường của
người phương nam, người quân tử theo đó. Nằm
trên áo giáp binh khí, chết mà không sợ, đó
là cái cường của người phương bắc, người anh
hùng theo đó ").
Trong ca dao dân tộc ta có câu "bầu ơi
thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống
nhưng chung một giàn" đã nói lên tinh thần
nhu thuận và bao dung của người Việt. Người
Việt vốn có đầu óc sáng tạo, tính tình hài
hòa, cho nên mỗi khi định cư trên vùng đất
mới hay khi tiếp xúc với các nền văn hóa
khác đều là những cơ hội cho họ làm một cuộc
dung hóa, cuộc dung hóa sau tốt đẹp hơn cuộc
dung hóa trước. Nhưng cuộc dung hóa đáng kể
nhất là cuộc dung hóa của thiền sư Vạn Hạnh
trước sự giao lưu của các nền văn hóa
Ấn-Hoa. Vạn Hạnh đã không cố chấp trong
chiếc áo tu hành, và gạt đi ấn tượng dị giáo
với các tôn giáo khác, ông dày công dung hóa
các tôn giáo Nho-Thích-Lão thành một tư
tưởng đặc thù
của dân tộc làm nền tảng văn minh của hai
triều đại Lý-Trần. Người ta thường nhắc đến
câu "Vạn Hạnh dung tam tế " mỗi khi nhớ đến
công lao của ông.
Với truyền thống nhân bản, nhân chủ trong
giòng máu, với cơ duyên đặc biệt hiện nay
của người Việt, chúng ta tin tưởng rằng thế
hệ tương lai của chúng ta sẽ thai nghén một
cuộc dung hóa mới vĩ đại hơn không những lợi
ích cho dân tộc mà còn mang lại một nền hòa
bình đích thực cho nhân loa.i.
Giai đoạn hai: Nguyễn Trãi mang tinh thần
dung hóa áp dụng vào cuộc đấu tranh kháng
Minh và xây dựng đất nước.
Trước khi tìm đến Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã
chịu bao gian nguy, bao sự khổ nhục suốt
mười năm đằng đẳng đi khắp nơi tìm hiểu tình
hình địch, phân tích tâm lý từng tên quan
Minh cai trị, tìm hiểu từng nhóm kháng
chiến, cơ sở cũng như các cấp lãnh đạo kháng
Minh để biết rõ ưu và khuyết điểm của ta và
đi.ch. Cuối cùng ông đúc kết nên tập "Bình
Ngô Sách" và trao cho Lê Lợi, người mà ông
tin tưởng có thể
thực hiện được. Ông đã phân tích đặc tính
các cuộc xâm lăng của phương Bắc vào nước ta
và nhận thấy rằng cuộc xâm lăng lần này của
quân Minh mưu mô hơn, tàn độc hơn vì chính
họ đã có kinh nghiệm kháng chiến chống
Nguyên Mông và kinh nghiệm cai trị sau một
thời gian dài bị đô hô.. Họ đã khôn ngoan
dùng chính sách mị dân và đào tạo người địa
phương làm tay sai với chiêu bài "phù Trần-
diệt Hồ". Miệng họ nói khai hóa dân ta mà
thực chất là thủ tiêu văn hóa Việt và biến
nước ta dần dà thành quận huyện của ho..
Nhưng bọn quan quân cai trị tham lam vơ vét,
hống hách cộng thêm sự những lạm của bọn bán
nước cầu vinh đã không che đậy được bề mặt
giả nhân giả nghĩa của ho.. Nhờ tính kiên
nhẫn, nhu thuận, người Việt cắn răng chịu
đựng nhưng trong xóm làng ngầm dạy nhau giữ
nếp sống tổ tiên và nung đúc ý chí quật
cường. Dưới một hoàn cảnh đặc biệt như vậy,
Nguyễn Trãi đã đề ra chính sách vừa tâm lý
vừa quân sự, khi cương khi nhu, tùy nơi tùy
lúc. Nguyễn Trãi luôn luôn hành động sáng
tạo để đưa nghĩa quân từ thế yếu thành thế
mạnh, từ hoàn cảnh hiểm nghèo ra thế xung
kích đi.ch. Ông đã xử dụng ngòi bút linh
hoạt, lời nói khôn khéo để hòa hoãn với địch
hay kêu gọi địch đầu hàng để không tổn hại
đến lực lượng ta. Bí quyết của Nguyễn Trãi
không phải chỉ chiến thắng địch trên chiến
trường mà biết xử dụng một cách quyền biến
bằng tư tưởng sinh động của dân tộc, Nguyễn
Trãi đã
nhìn sâu vào lòng mình để hòa mình vào cảnh
ngộ của địch. Địch với ta là một, cũng là
con người. Bắc Nam tuy có khác nhưng nhân
tính đâu có khác. Chỉ vì lòng tham lam của
một thiểu số cầm quyền đã đưa đẩy họ vào nơi
thù hận chém giết.
"Giữ ý kiến một người gieo họa cho bao nhiêu
kẻ khác tham công danh một lúc, để cười cho
tất cả thế gian" (Bình Ngô Đại Cáo)
Với tấm lòng nhân từ, đại nghĩa, vua Trần
Nhân Tôn đã không cho phép quân mình truy
kích địch khi địch bỏ chạy, và đối xử tử tế
với tù binh địch, tiếp tế cho họ lương thực,
phương tiện để họ về nước dầu địch có hành
động dã man, giết người cướp của. Dân tộc ta
luôn luôn tỏ lượng bao dung nhân ái mà tha
chết cho ho.. Cũng với tấm lòng đại nghĩa
đó, trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi đã
viết:
"Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở
đức hiếu
sinh
Vương Thông, Mã Anh phát cho vài nghìn cỗ
ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập, chân run!
Họ đã tham sống sợ chết, mà hòa hiếu thật
lòng Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân
nghỉ sức"
Nhờ hun đúc trong một nền văn hóa như vậy,
người Việt hình như đã cảm nhận sâu sắc
trước những nỗi đau khổ của kẻ khác. Chúng
ta ít thấy dân tộc nào thương kẻ thù sa cơ
như chính thương mình vâ.y. Bài thơ của
Trạng Nguyên Lý Tải Đạo nói lên tình thương
đối với kẻ thù bị bắt:
"Chích máu thành thư muốn gởi lời
Lẽ bay nhạn buốt ải mây khơi
Đêm nay mấy kẻ nhìn trăng nhỉ
Đôi ngã lòng chung một vời vợi"
("Khóa huyết thư thành dục ký âm
Cô phi hàn nhạn tái vân thâm
Kỷ gia sầu đối kim tiêu nguyệt
Lưỡng xứ mang nhiên nhất chủng tâm")
Cũng tấm lòng đại nghĩa đó mà Nguyễn Trãi đã
cảm hóa được tướng Thái Phúc từ kẻ thù thành
bạn, Thái Phúc đã giúp nghĩa quân kêu gọi
quân Minh ra đầu hàng và cả tổng binh Vương
Thông trước khi kéo bại quân về nước đã qua
dinh Lê Lợi, Nguyễn Trãi tâm sự suốt đêm cho
đến sáng.
Khi chiến tranh chấm dứt, hòa bình ló dạng
trên quê hương, Nguyễn Trãi hăm hở lo mở
trường thi tuyển chọn nhân tài, kiến thiết
lại đất nước sau những năm bị chiến tranh
tàn phá. Ông nhấn mạnh giai đoạn võ lực đã
hết, tương lai phải trông cậy vào văn trị
"yêu trọng người dân là của cải", vào xây
dựng một xã hội công bằng, bác ái, nhân
nghĩa hơn là dùng pháp tri.. Ông đã khuyên
vua "xin bệ hạ yêu nước yêu dân để cho các
nơi làng mạc không có tiếng oán hận than
sầu, đó là không mất cái gốc của nhạc vậy".
Lý tưởng của Nguyễn Trãi là muốn xây dựng
một nền thịnh trị Nghiêu Thuấn lâu dài, nước
có văn hiến, vua dân hòa mục
"Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn
Dường ấy ta đà phỉ thửa nguyền"
(Quốc Âm Thi Tập, Tự Thán)
Suốt đời Nguyễn Trãi làm việc với tinh thần
không mệt mỏi, tận tụy trách nhiệm với dân
với nước
"Còn có một lòng âu việc nước Đêm đêm thức
nhẫn nẻo sơ chung"
Ông quan niệm người anh hùng cao cả trong
thời bình không như người anh hùng trên lưng
ngựa dưới lằn tên mũi đạn:
"Trừ độc trừ tham, trừ bạo ngược
Có nhân có trí mới anh hùng"
(Quốc Âm Thi Tập, Báo Kính Cảnh Giới)
Chí nguyện ông muốn rải hết tấm lòng của
mình đến tận người dân đang đau khổ khắp bốn
biển
"Nguyện bả lan thang phân tứ hải
Tùng kim tảo tước cựu ô dân"
(Đoan Ngọ Nhật)
(Nguyện đem nồi nước hoa lan gội hết cho
trần gian được sạch làu)
Ông hòa đồng với mọi người, ông không còn
phân biệt khách thể hay chủ thể nữa. Ông cởi
bỏ tất cả để hòa tan vào sâu thẳm niềm đau
của thế nhân. Tâm hồn của ông không chỉ là
một tâm hồn vị tha mà còn là tâm hồn của một
người đắc được yếu tính vô vi của Lão, tính
vô tướng, vô tác của Phật. Qua cuộc đời và
các tác phẩm của ông chúng ta thấy ông hành
xử uyên thâm tam giáo. Càng về già ông càng
ngán ngẩm với lối xử thế "cực quanh co" với
"cửa quyền hiểm hóc":
"Ta dư cửu bị nho quan ngộ
Bản thị canh nhàn điếu tịch nhàn"
(Thương ta bị cái mũ nhà nho làm ta lầm lẫn
từ lâu Ta vốn người cày trong chốn nhàn nhã,
câu nơi vắng vẻ) Ông coi công danh phú quý
như nước chảy qua cầu, như chất bẩn đục làm
ông buồn nôn, như trâu suyển khi thấy trăng
lên "Tục cảnh kinh tâm suyển nguyệt ngưu"
dầu tình ý ông lúc nào cũng gắn bó với dân
với nước. Điều này làm ông băn khoăn giữa
hai đường xuất xử
"Lấy đâu xuất xử lọn hai bề
Được thú làm quan, mất thú quê"
(Quốc Âm Thi Tập, bài 109)
Giai đoạn về ẩn Côn Sơn:
Dường như tự thâm tâm ông luôn luôn nghe
tiếng réo gọi quay về nơi chốn tĩnh mịch có
non xanh, nước biếc, chim kêu vượn hú
"Vấn quân hồ bất quy khứ lai ?
Bán sinh trần thố trường dao ốc"
(Hỡi ai nào chẳng sớm quay về
Nửa đường vùi mãi trong lầm đục)
Lòng ông nao nao muốn trở về nhà xưa cảnh cũ
nơi một thời ông sống với ông ngoại Trần
Nguyên Đán ở Côn Sơn
"Côn Sơn có suối nước trong
Ta nghe suối chảy như cung đàn cầm
Côn Sơn có đá tần vần
Mưa tuôn đá sạch ta nằm ta chơi
Côn Sơn thông tốt ngất trời
Ngả nghiêng dưới bóng ta thời tự do
Côn Sơn trúc mọc đầy gò
Lá xanh bóng rợp tha hồ tiêu dao"
(Côn Sơn Ca - Bản dịch của Nguyễn Trọng
Thuật)
Ông vui với cảnh thanh nhàn không vướng chút
bụi trần ai
"Hà thời kết ốc vân phong hạ ?
Cấp giản phanh trà, chẩm thạch miên ?"
(Ức Trai Thi Tập)
(Bao giờ nhà dựng dưới núi mây Múc nước suối
pha trà và gối đá ngủ) và ông vui với cảnh
đạm bạc
"ngày tháng kê khoai những sẵn hàng
tường đào ngõ mận ngại thung thăng"
(Quốc Âm Thi Tập, bài 23)
Ông chẳng ngại ngùng
"Một cày một cuốc thú nhà quê
Áng cúc lan chen vãi đậu kê"
(Quốc Âm Thi Tập, bài 48)
Đôi khi để được những miếng ăn rau cải hằng
ngày, ông gởi nhờ
"Ao quan thả gởi hai bè muống
Đất bụt ương nhờ một luống mùng"
(Quốc Âm Thi Tập, bài 68)
(mùng = rau dọc mùng để nấu canh chua)
Những món ăn hương quê đã giúp cho ông có
kinh nghiệm canh tác:
"Nước dưỡng cho thanh trì thưởng nguyệt
Đất cày ngõ ải, lãnh ương hoa"
(ngõ, lãnh là hai tiếng xưa miền Trung. Ngõ
= hầu cho, lãnh = luống, ải = cuốc đất cho
tơi ra)
Nhà ở, áo quần giản dị đạm bạc:
"Chốn ở trên gian lều lá "
"Mùa qua chằm bức áo sen"
"Hài cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh"
(Quốc Âm Thi Tập, bài 124)
Vậy mà lúc nào ông cũng cảm thấy sung túc
giàu có
"Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc
Thuyền chở yên hà nặng vạy thêm"
(Quốc Âm Thi Tập, bài 69)
Ông còn hóm hỉnh để lại cho con cháu mai sau
"Thong thả lại toan nào của tích:
Bạc mai, vàng cúc để cho con"
(Quốc Âm Thi Tập, bài 49)
Bạn bè vui công danh nơi cao sang quyền quý,
còn ông thì bạn tri âm với
"Án sách, cây đèn hai bạn cũ
Song mai yên trúc một lòng thanh"
(Quốc Âm Thi Tập)
Trong cuộc sống quy ẩn ông thoải mái, tiêu
dao với cảnh đẹp thiên nhiên, khi xem hoa
nở, khi chờ trăng lên, thiên nhiên quấn quýt
với ông trong từng bước chân, từng hơi thở
như người bạn đường quen thuộc
"Quét trúc bước qua làn suối
Thưởng mai về đạp bóng trăng"
(Ngôn Chí, bài 15)
"Say minh nguyệt chè ba chén
Dịch thanh phong lều một gian"
Thiên nhiên là nguồn sống của ông với cái
bao la bất tận, hồn nhiên tự tại
"Đạp áng mây, ôm bó củi
Ngồi bên suối gác cần câu
Giang sơn mặt thấy nên quen thuộc
Danh lợi lòng nào ước chác cầu"
hay trong bài "Túc sự ở Ức Trai Thi Tập" ông
đã tán thán sự thảnh thơi buông chèo theo
sóng nước
"Thương ba giang thượng nhàn thùy điếu
Lục thụ âm trung tính khán thư
Vũ quá tình lam khuy hộ dũ,
Phong lai tuyết lãng vũ đình trừ"
(Thuyền câu sóng nước buông chèo
Bóng cây đọc sách những chiều thảnh thơi
Mưa trong cửa sổ tạnh rồi
Ngoài sân gió thổi, tuyết rơi đầy thềm)
Nguyễn Trãi bốn trăm năm về trước và Nguyễn
Công Trứ bốn trăm năm sau đó có khác chi
đâu. Nguyễn Trãi và hậu sinh của ông đã sống
nếp sống quen thuộc của người Việt, dầu thời
thế, hoàn cảnh có khác. Nguyễn Trãi trải qua
tuổi thanh niên trong cảnh ngoại xâm, nước
mất nhà tan, bương chải tìm con đường cứu
nước cứu dân. Nguyễn Công Trứ trải qua tuổi
ấu thơ trong loạn lạc nội tranh. Nhưng cả
hai đều nhìn con đường đi lên bằng học vấn,
rồi đem học vấn đấu tranh cho đời, và cuối
cùng trở về nơi thôn dã vui với thiên nhiên,
an bần lạc đa.o. Nguyễn Trãi giang tay góp
phần dựng lên một triều đại rồi chính ngay
triều đại đó nhận chìm ông xuống tận bùn
đen. Ba họ nhà ông bị chết thê thảm dưới bàn
tay của những kẻ gian tham bạo ngược, đại
diện cho tinh thần Tống Nho rỗng nát du nhập
ngoại lai (Quân xử thần tử, thần bất tử bất
trung) và vì những tranh giành quyền lợi
cung đình.
Cả Nguyễn Trãi và Nguyễn Công Trứ dầu cách
nhau đến bốn trăm năm lịch sử đều biểu tượng
cho cốt cách đạo sống Việt. Đạo sống đó được
lưu truyền từ đời này sang đời nọ bàng bạc
qua các huyền thoại, ca dao và tục ngữ của
người Việt. Đạo sống đó được biểu hiện qua
người nông dân chất phác là đạo làm người,
đạo vợ chồng, đạo thờ kính cha mẹ, thương
anh chị em trong nhà, láng giềng chòm
xóm:
"Thường thường phải đạo thì thôi
Đừng săn mà đứt, đừng lơi mà chùng"
hay biểu lộ qua cuộc sống
"Ở sao cho vẹn cho toàn
Giao nhau chớ phụ, nghĩa vàng chớ vong"
họ quan niệm rằng
"Người còn thì của cũng còn
Miễn là nhân nghĩa vuông tròn thì thôi"
hay "Nghèo nhân nghèo nghĩa thì lo
Nghèo tiền nghèo bạc chớ cho là nghèo"
Cho nên cuộc sống họ
"Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc"
(Nguyễn Công Trứ)
Đạo Việt phổ vào cuộc sống mà không công
thức, không giáo điều, không biên cương, cho
nên đạo sống Việt không săn (căng), không
chùng, không thêm, không bớt, thư thái, tự
nhiên, gồm thâu tất cả mà cũng mở rộng ra
khắp tất cả. Nhờ ưu điểm đó nên suốt ngàn
năm đô hộ Tàu, trăm năm đô hộ Tây, bản sắc
dân tộc Việt không mất đi. Nhờ áp dụng những
nét tinh hoa đó Nguyễn Trãi đã đem lại những
lợi ích
thiết thực cho dân tộc. Nhưng tiếc thay, từ
khi lên ngôi vua, Lê Lợi đã manh nha dùng
chính sách nô dịch Tống Nho trong việc trị
dân và thi cử để củng cố vương quyền. Cái
chết của Nguyễn Trãi là cái tang chung cho
đất nước và đánh dấu sự cáo chung của nền
văn hóa Việt trong nếp sinh hoạt và tư duy
của giới quý tộc và sĩ phu Việt. ......(Xin
ph'p ta'c gia? ddu+o+.c phe'p ca('t pha^`n
na^`y dde^? tra'nh pha^`n tranh lua^.n
chi'nh tri. hie^.n dda.i trong trang ca dao)
Qua những trang sử hào hùng của tổ tiên, qua
những ngày tháng tang thương của dân tộc,
chúng ta suy ngẫm và bừng tỉnh rằng chúng ta
đã đánh mất một nền văn hóa tinh hoa mà tổ
tiên chúng ta đã dày công xây đắp. Chúng tôi
ước mong thế hệ chúng ta, con cháu chúng ta
trong cũng như ngoài nước cố gắng
khôi phục lại cội nguồn dân tộc để khỏi hổ
thẹn là một người Việt Nam.
Đó là ý nghĩa duy nhất mà bài học Nguyễn
Trãi mang lại cho chúng ta.
-------------------------------------------------------------------------
Ghi chú:
* Chúng tôi dùng chữ "nhân tính" cho thanh
niên dễ hiểu thay vì "Phật tính" cùng nghĩa.
Trích câu nói trong Kinh Pháp Bảo Đàn do
thiền sư Thích Mãn Giác dịch: Lúc Huệ Năng
tìm đến tu học với thiền sư Hoằng Nhẫn,
Hoằng Nhẫn mắng Huệ Năng "Mi là dân Lĩnh
Nam, vốn đồ mọi rợ, làm thế nào thành Phật
được" (phân đoạn 3, bản Đôn Hoàng) Huệ Năng
nói "Con người tuy có Nam Bắc, Phật tính
chẳng có Bắc Nam. Tuy thân mọi rợ không
giống với thân Hòa Thượng, Phật tánh trong
chúng ta có gì là sai biệt"
o Tâm tánh ví như ly nước đục, để yên chất
đục bẩn lắng xuống đáy, hiển hiện chất nước
trong suốt đó chính là Phật tánh.
o Trong Cựu ước kinh Thiên Chúa giáo, lúc
ông Adam và bà Eva chưa ăn trái cấm, nhân
tính hiển hiện trong hai người, không có
phân biệt nhị nguyên: tốt xấu, thiện ác...
nhưng sau khi ăn trái cấm, phần nhân tính bị
che lấp trong đám ô trọc, như ly nước trong
bị đục bụi bùn. Cố gắng tu luyện thì phần
nước trong, nhân tính sẽ hiển lô..
o Trong Khổng giáo có nói "Nhân chi sơ tánh
bổn thiện", con người khi sơ khai vốn tánh
không bị nhiễm đục. Chữ thiện vẫn còn là nhị
nguyên, nhưng chắc không còn chữ nào để mô
tả sự uyên nguyên của con người nên tạm dùng
chữ thiện.
o Trong Lão giáo, nhân tính được dùng như
chữ Đa.o. Trong Thượng Thiên, Lão Tử viết:
"Có vật trộn lộn mà thành. Nó sinh ra trước
trời đất, vừa trống không vừa yên lặng, đứng
một mình mà không biến cải, trôi khắp mọi
nơi mà không mỏi, có thể làm mẹ của thiên
ha.. Ta không biết tên nó là gì nên mới đặt
cho nó là đạo, gượng gọi nó là lớn...
Trong vũ trụ có bốn cái lớn mà người là
một." Đạo đây là cái tính uyên nguyên cũng
là nhân tính hay Phật tính vâ.y.
-----------------
Sách tham khảo:
- Đại Cương Triết Học Trung Quốc (Giản Chi
và Nguyễn Hiến Lê)
- Kinh Pháp Bảo Đàn (thiền sư Thích Mãn Giác
dịch từ bản Đôn Hoàng)
- Ức Trai Tập (Nguyễn Trãi)
- Nguyễn Trãi Và Bản Hùng Ca Đại Cáo (Bùi
văn Nguyên)
- Nguyễn Trãi - Sinh Thức Và Hành Động (Võ
Văn Ái)
- Nguyễn Trãi - Về Tác Gia và Tác Phẩm
(Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn)
- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Hoàng văn Lân
dịch và chú thích)
- Vua Trần Nhân Tông - Thân Thế Và Sự Nghiệp
(Lê Mạnh Thát)
(Trích E Cadao)