|
TỔ SƯ ĐỜI THỨ
SÁU CỦA PHẬT GIÁO THIỀN TÔNG TRUNG HOA LÀ NGƯỜI VIỆT
NAM
(Nguyễn Cẩm Xuyên)
Phật giáo Đại thừa (1) và Tiểu Thừa cùng thuộc tư
tưởng nhà Phật nhưng khác nhau về quan điểm và đường
lối thực hành. Nếu Tiểu Thừa quan tâm đến sự giác ngộ
của bản thân mỗi người thì Đại Thừa muốn giải thoát,
cứu độ cả chúng sinh. Đại Thừa từ Ấn Độ truyền sang
Trung Hoa, về sau chia nhiều nhánh: Thiền Tông, Hoa
Nghiêm Tông, Thiên Thai Tông, Chân Ngôn Tông, Tịnh Độ
Tông.
Thiền Tông chủ trương “Dĩ tâm truyền tâm” (2) và dùng
toạ thiền để “kiến tánh”, trực giác chân lí. Phật
Thích Ca vốn đã có chủ trương này nhưng không phát huy
được ở Ấn Độ mà phải đợi đến khoảng thế kỉ thứ VI, thứ
VII khi tổ sư thứ 28 của Phật giáo Ấn Độ đem tâm ấn
truyền sang đất Trung Hoa thì đạo Thiền mới phát triển
rực rỡ. Vị tổ sư ấy là Bồ Đề Đạt Ma, được tính là tổ
sư đầu tiên của Thiền Tông Trung Hoa, gọi là Sơ Tổ.
Nhị Tổ là Đại sư Huệ Khả, Tam Tổ là Đại sư Tăng Xán,
Tứ Tổ là Đại sư Đạo Tín, Ngũ Tổ là Đại sư Hoằng Nhẫn
và Lục Tổ là Đại sư Huệ Năng.
Huệ Năng là vị tổ sư cuối của Thiền Tông Trung Hoa. Từ
đời Huệ Năng, Thiền Tông bắt đầu chia làm hai phái:
Nam Tông và Bắc Tông và
không còn lệ truyền Y
Bát nữa (3).
LAI LỊCH CỦA LỤC TỔ HUỆ NĂNG;
LỤC TỔ LÀ NGƯỜI VIỆT NAM
Việc khai quật quần thể hang động Mạc Cao - Đôn Hoàng,
nằm ở phía đông nam huyện Đôn Hoàng, thuộc tỉnh Cam
Túc (4) đã thu được nhiều sách vở, nhiều đồ vật mới
thấy lần đầu ở Trung Quốc như tiền kẽm Ba Tư, đồ đồng,
đồ gốm, các vật chế từ cỏ tranh, những sách cổ đã thất
truyền, đặc biệt là thu được nhiều kinh sách Phật.
Trong các kinh sách này có cuốn Pháp Bảo Đàn kinh,
được viết khoảng từ năm 830 đến 860. Bản kinh này được
xem là cổ nhất so với các bản có trước đó như bản Huệ
Hân chép năm 967, bản Tào Khê Nguyên Bản của Khế Tung
năm 1054-1056, bản của Tông Bảo năm 1291…
Đọc Pháp Bảo Đàn kinh, lai lịch của Tổ Huệ Năng
(638-713) hiện lên khá rõ: “…Nghiêm phụ của Huệ Năng
quê gốc ở Phạm Dương, bị cách chức đày đến Lĩnh Nam,
làm thường dân ở Tân Châu. Thân này bất hạnh, cha lại
mất sớm, mẹ gìà đơn chiếc dời đến Nam Hải, gian khó
đắng cay, thường ra chợ bán củi…”
Địa danh “Phạm Dương” ghi trong kinh có thể là ở tỉnh
Hà Bắc của ta (5); riêng tên đất “Lĩnh Nam”, “Nam Hải”
thì rất quen thuộc trong sử sách Việt Nam : Đại Việt
sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên có nói đến đất Lĩnh
Nam, Nam Hải khi viết về việc Trưng Trắc khởi nghĩa
như sau:
“Tên húy là Trắc, họ Trưng. Nguyên là họ Lạc, con gái
của Lạc tướng huyện Mê Linh, Phong Châu, vợ của Thi
Sách ở huyện Chu Diên […] khổ vì Thái thú Tô Định dùng
pháp luật trói buộc, lại thù Định giết chồng mình, mới
cùng với em gái là Nhị nổi binh đánh hãm trị sở ở châu.
Định chạy về nước. Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật
Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, lấy được 65 thành ở Lĩnh
Nam, tự lập làm vua, mới xưng là họ Trưng.”
Phần viết về Triệu Đà của Việt Sử Tiêu Án cũng xác
định đất Lĩnh Nam chính là vùng Quảng Đông, Quảng Tây
ngày nay. Sách này cũng xác định đất này là của ta từ
đời vua Hùng (6) mà sau bị Tô Định cai quản trong thời
Bắc thuộc, về sau Trưng Trắc đã khởi nghĩa giành lại
rồi các đời vua sau lại không giữ được, cương thổ phải
lui dần về phương nam.
Vậy là quê hương của Lục Tổ chính là ở miền Bắc nước
ta thời đó. Huệ Năng là người nước Nam. Đoạn đối thoại
sau đây trong Pháp Bảo Đàn kinh chứng rõ thêm điều này:
“…Huệ Năng sắp xếp cho mẹ mọi việc rồi từ biệt. Không
quá 30 ngày đã đến được Hoàng Mai vào bái Ngũ Tổ. Ngũ
Tổ hỏi: ngươi là người ở xứ nào? Muốn cầu việc chi?
Huệ Năng đáp: Đệ tử là dân ở xứ Tân Châu, Lĩnh Nam, từ
xa đến lễ Thầy, chỉ cầu được làm Phật, không cầu việc
chi khác. Ngũ Tổ nói: Ngươi là người Lĩnh Nam, ấy là
dân mọi rợ (7) sao có thể làm Phật được? Huệ Năng thưa:
Người có chia ra nam bắc nhưng tính Phật vốn không có
nam bắc. Tấm thân mọi rợ này với thân Hòa-thượng tuy
có khác, nhưng tính Phật có chi khác biệt?”
Ngũ Tổ có ý muốn nói thêm nhưng lại thấy học trò đông
đúc ở hai bên bèn bảo ngài hãy lui ra, theo mọi người
mà làm việc…(8)
CUỘC TRUYỀN Y BÁT NỔI TIẾNG ĐƯỢC GHI LẠI
TRONG LỊCH SỬ PHẬT GIÁO
Theo lệ từ đời Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma, Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn
chuẩn bị tìm người truyền Y Bát. Lúc này tăng chúng,
đệ tử theo học tại chùa khá đông, trong đó Đại sư Thần
Tú là trội nhất trong 11 môn đệ xuất sắc của ngài.
Nguyên Thần Tú đến tuổi 50 mới nghe danh Đại sư Hoằng
Nhẫn, đã vượt ngàn dặm xa xôi tìm đến làm đệ tử, được
Ngũ Tổ rất quý cử làm Giáo Thụ chuyên giảng dạy cho
tăng chúng. Một hôm, Ngũ Tổ gọi mọi người hãy tự viết
bài kệ trình bày sự hiểu biết của mình về đạo Thiền;
ai ngộ được trọn ý của Phật pháp thì sẽ truyền Y Bát.
Muốn trình kiến giải nhưng lại chẳng muốn bộc lộ bản
tâm của mình là muốn cầu chức vị, Thần Tú đương đêm
cầm đèn viết ở hành lang bài kệ:

Thân thị Bồ Đề thụ
Tâm như minh kính đài
Thời thời cần phất thức
Vật sử nhạ trần ai
DỊCH:
Thân là cội Bồ Đề
Tâm ấy đài gương sáng
Ngày ngày năng quét lau
Bụi trần không dễ bám
(Nguyễn Cẩm Xuyên dịch)
Những ai hiểu Thiền đều có thể nhận ra được bài kệ
trên của Thần Tú chưa đạt đến được chỗ quan yếu của
đạo vốn không phân biệt nhị nguyên: tâm/ thân ; Bồ Đề
thụ/ minh kính đài và cũng không chủ trương hành động
theo cách “hữu vi” : thời thời cần phất thức…và như
vậy là chưa “kiến tánh”. Nhận ra khiếm khuyết ấy, hôm
sau Ngũ Tổ gọi riêng Thần Tú đến để cho biết chỗ chưa
đạt và yêu cầu làm lại bài kệ khác. Qua nhiều ngày
Thần Tú vẫn không có được bài kệ mới.
Đến đây Pháp Bảo Đàn Kinh có nêu một sự kiện đáng suy
nghĩ: tuy không chấp nhận trí huệ của Thần Tú vậy mà
Ngũ Tổ vẫn phải tỏ vẻ hoan hỉ, cho đốt hương lễ kính
trước bài kệ và dạy đồ chúng cứ tụng bài kệ ấy mà tu
niệm. Ấy mới biết đến như Ngũ Tổ ở chốn Thiền môn mà
cũng phải dè chừng những họa hiểm của lòng người.
Chẳng bước chân lên nhà trên, mấy ngày sau mới nghe
được bài kệ của Thần Tú, Huệ Năng bèn nhờ người viết
lên tường bài kệ của mình:

Bồ Đề bản vô thụ
Minh kính diệc phi đài
Bản lai vô nhất vật
Hà xứ nhạ trần ai
DỊCH:
Bồ Đề chẳng phải cây
Gương kia nào là đài !
Trước sau không một vật
Đâu chỗ lấm trần ai ?!
(Nguyễn Cẩm Xuyên dịch)
Xem bài kệ, Ngũ Tổ lấy làm vừa lòng, biết đã chọn được
để tử chân truyền nhưng lại làm ra vẻ chẳng xứng ý,
lấy giày chà bài kệ đi và cho là vẫn chưa đạt. Mọi
người không ai nghi ngờ chi cả. Vậy là qua thời gian
khảo nghiệm, ngài đã chọn Huệ Năng - mà Huệ Năng lúc
này mới chỉ nhập môn được hơn 8 tháng, đang xay giã
gạo suốt ngày ở nhà dưới. Suốt thời gian dài, bề ngoài
tuy lộ vẻ coi thường nhưng bên trong Ngũ Tổ đã đánh
giá cao khả năng đốn ngộ của Huệ Năng, vì vậy đọc bài
kệ rồi, ngay nửa đêm, Ngũ Tổ gọi Huệ Năng vào truyền Y
Bát và pháp môn đốn ngộ rồi lập tức đến bến Cửu Giang
cùng lên thuyền. Ngũ Tổ tự tay cầm chèo mà đưa Huệ
Năng rời chùa đi về phương nam. Mấy ngày sau, biết
việc, đồ chúng có đến vài trăm người quyết đuổi theo,
giành lại chức vị. Huệ Năng đi 2 tháng thì đến núi Đại
Dữu, lại đi tiếp đến Tào Khê… Vẫn bị ác nhân săn đuổi,
Huệ Năng lại đến đất Tứ Hội ẩn mình sống chung với đám
thợ săn, mãi 15 năm sau mới đến chùa Pháp Tánh đưa Y
Bát ra để định danh và bắt đầu giảng kinh truyền đạo
pháp. Đồ chúng tập trung về học đạo ngày một đông. Từ
đây Lục Tổ Huệ Năng lập nên phái Thiền Tông ở phương
nam gọi là Nam Tông, chủ trương “Đốn ngộ” khác với
đường lối “Tiệm ngộ” của Bắc Tông ở phương bắc do Thần
Tú lập nên rồi tàn lụi chỉ sau vài đời.
Theo tác giả Nguyễn Minh Tiến thì thời gian trên Huệ
Năng có thể đã cư trú trên đất Việt Nam bởi vì tại
làng Dịch Bảng, phủ Thiên Đức nước ta có chùa Lục Tổ
(nay là làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh).
Chùa Lục Tổ (sau gọi là chùa Cổ Pháp) là nơi sư Vạn
Hạnh đời Lý đã tu ở đó. Lúc đắp nền chùa có đào được
một cái lư hương và mười cái khánh. Lư và khánh này là
của một ngôi tổ đình rất xưa trước đó; có thể đây
chính là ngôi chùa Lục Tổ Huệ Năng đã tu. Nguyễn Minh
Tiến cũng nêu thêm một bằng chứng nữa là Thiền Uyển
tập anh có chép việc Trưởng lão La Quý (852-936) có
cho đúc một pho tượng Lục Tổ bằng vàng; vậy rõ ràng là
hình ảnh Lục Tổ Đại sư đã ăn sâu trong tâm thức của
người Việt (9).
THIỀN TÔNG PHÁT HUY TƯ TƯỞNG
CỦA LỤC TỔ HUỆ NĂNG
Quá trình tu tập giảng đạo pháp của Huệ Năng, một
thiền sư Việt Nam đã ghi lại những ảnh hưởng khá quan
trọng tại Trung Hoa: Năm 675 các vị sư đức hạnh, danh
tiếng đương thời như Trí Quang Luật Sư ở Trường An,
Huệ Tịnh Luật Sư ở Tô Châu, Kỳ-Đa-La Luật Sư ở Trung
Ấn, Mật-Đa Tam Tạng Pháp Sư ở Ấn Độ tôn Huệ Năng tức
Lục Tổ làm thầy. Rằm tháng giêng năm 684, Đường Trung
Tông sai quan Nội Thị Tiết Giảng đến chùa Bảo Lâm
thỉnh Lục Tổ vào triều để thuyết pháp cho thái hậu và
vua. Cùng năm ấy, vua nhà Đường ban chiếu khen thưởng,
cúng dường “y cà sa bá nạp”, bình bát thủy tinh và
truyền cho Thứ Sử Thiều Châu sửa sang chùa. Năm 760.
Đường Túc Tông sai sứ thỉnh Y Bát của Lục Tổ đem vào
nội cung cúng dường, năm 765 lại sai Trấn Quốc Đại,
Tướng quân Lưu Sùng Cảnh mang Y Bát về lại chùa Bảo
Lâm và cho Thứ Sử Thiều Châu Dương Giam đến truyền
chùa giữ gìn cẩn thận. Vua lại đặt tên chùa là Quốc
Bảo. Đời Đường Hiến Tông (806 - 821), vua ban thụy
hiệu Huệ Năng là Đại Giám Thiền Sư, đề tên tháp nhục
thân là Nguyên Hòa Linh Chiếu. Đời Tống Thái Tông (976
- 983) gia tặng thụy hiệu là Đại Giám Chân Không Thiền
Sư, cho sửa sang lại tháp và đặt tên là Thái Bình Hưng
Quốc Chi Tháp. Năm 1033, Vua Tống Nhân Tông (1023 -
1064) rước nhục thân, Y Bát của Lục Tổ vào đại nội
cúng dường lại gia tặng thụy hiệu là Đại Giám Chân
Không Phổ Giác Thiền Sư. Vua Tống Thần Tông (1068 -
1086) gia tặng thụy hiệu là Đại Giám Chân Không Phổ
Giác Viên Minh Thiền Sư.
Tóm lại, Lục Tổ Huệ Năng đã có nhiều ảnh hưởng đối với
các triều đại vua chúa Trung Hoa đồng thời đào tạo
được nhiều đệ tử danh tiếng như Thanh Nguyên Hành Tư,
Nam Nhạc Hoài Nhượng, Hà Trạch Thần Hội, Vĩnh Gia
Huyền Giác, Nam Dương Tuệ Trung, Pháp Hải… Chính Ngài
Pháp Hải thường theo Lục Tổ ghi chép thiền ngữ, ngôn
hành rồi soạn thành bộ Tông Bảo. Tư tưởng, hành trạng
của Lục Tổ cũng được ghi lại trong các văn bia của 3
nhà thơ, nhà văn lớn đời Đường là Vương Duy, Liễu Tông
Nguyên và Lưu Vũ Tích.

Về mặt tư tưởng, quan điểm của Lục Tổ đã có tầm quyết
định cho việc quảng bá Thiền tông trên thế giới. Những
bài thuyết pháp của Huệ Năng giàu tính quần chúng bởi
vì không uyên bác-trừu tượng, không xa rời đại chúng.
Tư tưởng Lục Tổ bàn đến những điều cụ thể của đời sống
và thực nghiệm cá nhân. Những lời giảng của Tổ phát
xuất từ kinh nghiệm bản thân nên sống động và sáng tạo.
Ðiểm chánh yếu của pháp môn Lục Tổ là “kiến tánh”. Học
giả nổi tiếng của Nhật Bản là Giáo sư Suzuki đã căn cứ
Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục Tổ mà luận về “Tánh” một
cách đầy đủ trong hai cuốn: Zen Buddhism và The Zen
doctrine of no-mind. Đạo Thiền trình bày trong hai
cuốn sách này gọn, dễ hiểu, nhờ đó đã phổ biến được tư
tưởng Thiền rộng rãi trên thế giới.
Vinh danh thay cho một người Việt Nam đã có tầm tư
tưởng lớn trong dòng tư tưởng chung của nhân loại.
---------------------------------------------------------
Chú thích:
(1) Đại Thừa (大乘) nghĩa là cỗ xe lớn; Tiểu Thừa là cỗ
xe nhỏ.
(2) Thiền tông chủ trương không dùng các nghi thức và
lí luận rườm rà về giáo pháp. Để truyền chân lí cho
người thì Phật Thích Ca cũng như Thiền Tông chủ trương
cách tốt nhất là “dĩ tâm truyền tâm” nghĩa là không
dùng ngôn từ mà chỉ dùng tâm của mình truyền chân lí
cho tâm của người khác (xem tích Niêm hoa vi tiếu ở
bài “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận…”; tạp chí Kiến thức
ngày nay số Tất niên Kỉ Sửu ngày 01/ 02/ 2010)
(3) Truyền Y Bát : Sư tổ đời trước truyền lại cho
người kế vị chiếc bình bát và tấm áo cà sa đã dùng từ
đời Sơ Tổ.
(4) Năm 1900, một mật thất tàng chứa nhiều kinh
sách tình cờ được phát hiện tại hang Mạc Cao,
Đôn Hoàng với hơn 500 nghìn văn vật có niên đại từ
công nguyên thứ 4 đến công nguyên thứ 11. Nhiều
đoàn thám hiểm khắp nơi đã ồ ạt đến và chưa đầy 20
năm sau họ đã lần lượt lấy đi gần 40 nghìn cuốn
sách Kinh, nhiều bích họa, vật điêu khắc… Mấy
chục năm qua, học giả của các nước trên thế
giới không ngừng tiến hành nghiên cứu nghệ
thuật Đôn Hoàng. Riêng khoa Đôn Hoàng học ở Trung
Quốc nay đã có nhiều kết quả nghiên cứu quan
trọng. Hiện Mạc Cao-Đôn Hoàng được chính phủ Trung
Quốc bảo tồn và xem đây là kho tàng văn hóa quý
giá của quốc gia..
(5) Theo Nguyễn Minh Tiến; Lục Tổ Đại sư - Con người
và huyền thoại ; NXB Tôn Giáo 2006; trang 20.
(6) Ở phần viết về Hùng Vương, Việt Sử Tiêu Án chép:
“…Hùng Vương là con vua Lạc Long, dựng nước đặt tên là
Văn Lang, đóng kinh đô ở Phong Châu. Phong Châu theo
sử cũ: đông đến bể, tây đến Ba Thục, bắc đến Động Đình,
nam tiếp giáp Hồ Tôn chia làm 15 bộ… gồm: Giao Chỉ,
Chu Diên,Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải,
Dương Toàn, Lục Hải, Vũ Dinh, Hoài Hoan, Cửu Chân,
Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức.”
Vậy là vào đời Hùng Vương phía bắc nước ta rất rộng :
“tây đến Ba Thục” nghĩa là gồm một phần của Tứ Xuyên,
Vân Nam; “bắc đến Động Đình” nghĩa là gồm một phần của
Hồ Nam và 2 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay.
(7) Dịch chữ “cát lão” 獦獠 nghĩa là giống mọi ở phía
tây nam Trung Hoa. Nguyên người Hán xưa vẫn thường tự
tôn, xưng nước mình là Trung Hoa nghĩa là tinh hoa ở
chính giữa, còn các chủng tộc ở bốn bên họ đều gọi là
man di, cát lão… Người Âu Mĩ ngày trước cũng bị họ gọi
là Tây di (bọn mọi ở phía tây).
(8) Dịch từ Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh (六祖大師法寶壇經
- http://www.foshu.org/wenhai/books/0011.htm):
能安置母畢。即便辭親。不經三十餘日。便至黃梅禮拜五祖。問能曰。汝何方人。欲求何物。能對曰。弟子是嶺南新州百姓。遠來禮師。惟求作佛。不求餘物。祖言。汝是嶺南人。又是獦獠。若為堪作佛。能曰。人雖有南北。佛性本無南北。獦獠身與和尚不同。佛性有何差別。祖更欲與語。且見徒眾總在左右。乃令隨眾作務。
Năng an trí mẫu tất. Tức tiện từ thân. Bất kinh tam
thập dư nhật, tiện chí Hoàng Mai lễ bái ngũ tổ. Vấn
Năng viết: nhữ hà phương nhân; dục cầu hà vật . Năng
đối viết: đệ tử thị Lĩnh Nam, Tân Châu bá tính; viễn
lai lễ sư; duy cầu tác phật; bất cầu dư vật. Tổ ngôn:
nhữ thị Lĩnh Nam nhân; hựu thị Cát Lão; nhược vi kham
tác phật. Năng viết: nhân tuy hữu nam bắc; Phật tính
bản vô nam bắc. Cát Lão thân dữ hoà thượng bất đồng.
Phật tính hữu hà sai biệt. Tổ cánh dục dữ ngữ. Thả
kiến đồ chúng tổng tại tả hữu. Nãi lệnh tuỳ chúng tác
vụ
(9) Sách đã dẫn ở mục (5); trang 68-75
|
|
|