|
Nhân đọc hai bài viết “AN NINH THƯỢNG HẠ” của tác giả Thân trọng Tuấn ( tuyển tập Nhớ Huế 18 phát hành năm 2008 tại Nam California, Hoa Ky) có nói về việc ám hại Đệ nhất Phụ chánh Trần tiễn Thành , và mới đây “CUỘC ĐẤU TRANH CỦA HAI PHE CHỦ CHIẾN - CHỦ HÒA VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁP XÂM LƯỢC (1858 – 1888)” của tác giả Phạm Thị Tíu - K56, VNH (8/7/2009 http://vns.hnue.edu.vn ) (Khoa Việt Nam học, Đai học Sư phạm Hà Nội ) có đề cập đến sự phân hoá sâu sắc trong nội bộ triều Nguyễn , tôi xin viết bài này mong đóng góp thêm vào những dử kiện mâu thuẫn về tư tưởng trong lực lượng quan lại Việt Nam cuối thế kỷ XIX dựa trên những tài liệu mới nhất. Cũng như cung cấp những tài liệu lich sử về vị thế của Trần tiễn Thành thuộc tư tưỏng canh tân mà tác giả Phạm thị Tíu không được tham khảo.
Bài viết này gồm bốn phần: Sau khi điểm qua các xu hướng canh tân, bảo thủ và cấp tiến trước sự xâm lăng nước ta của thực dân Pháp, vấn đề Chủ hòa hay Chủ chiến được xét đến trong phần hai. Việc ám hại Trần tiễn Thành được bàn đến trong phần ba và những nỗi niềm tâm sự của vua Tự Đức và Trần tiễn Thành được đề cập trong phần cuối và phần phụ lục với Thư Chúc thọ Trần tiễn Thành 70 tuổi của vua Tự Đức, bản văn Truy phục Trần tiễn Thành dưới triều vua Đồng Khánh và Lời Bạt của Giáo Sư Nguyễn Lý Tưởng.
A- BẢO THỦ - CẤP TIẾN: PHÁI CANH TÂN
Từ khi Pháp nhòm ngó Viet Nam trong mục đích đi tìm thuộc địa qua cuộc hải chiến tại Đà nẵng 1847, triều đình và sĩ phu trong nước đã manh nha chia làm 2 xu hướng chính:
- BẢO THỦ chủ trương bởi vua và đa số quan lại trong triều đình Huế cùng đa số nho sĩ . Họ vẫn xem trọng giá trị chế độ quân chủ truyền thống và giáo dục Tống Nho, không chấp nhận kiến thức Tây Phương với nền văn minh kỹ thuật qua chủ trương “bế quan tỏa cảng” và trông cậy vào Trung Hoa.
- CẤP TIẾN do một số rất ít quan lại và một vài sĩ phu thức thời bắt đầu manh nha tư tưởng tiến bộ cởi mở để nâng cao dân trí và canh tân đất nước, tiếp nhận những điều hay của kỹ thuật tân tiến để kịp thời đối phó với nạn ngoại xâm và nhất là bắt kịp sự phát triển khoa học kỹ thuật và xã hội nhân bản của Tây phương.
Giữa hai xu hướng trên là chủ trương Canh Tân hay Duy Tân. Trong thời gian Pháp tiến hành cuộc xâm lăng Việt Nam bắt đầu từ năm 1858 và kết thúc vào năm 1884, vua Tự Đức đã có chủ trương ĐÁNH và ĐÀM đầy tính chất thụ động không thuần nhất qua các Cụ Phan Thanh Giản (tuẫn tiết năm 1867) và Nguyễn tri Phương (tuẫn tiết năm1873)...và đôi khi muốn kéo dài thời gian thương thuyết hay hòa hoản (một chính sách chiến, không phải hòa-tk18) hay mượn thời gian để canh tân đất nước theo những đề nghị của PHÁI CANH TÂN ( Phan thanh Giản, Phạm phú Thứ và Trần tiễn Thành).
Thời gian sau khi ba tỉnh Miền Đông mất (1860), trong cuộc luận bàn kế sách với vua Tự Đúc, các đại thần Đoàn Thọ và Trần tiễn Thành trình bày rất thành thật và khẳng khái : “tài lực còn mong manh, phải từng bước tổ chức lại để chờ cơ hội tốt hơn mà tự cường” (Tk6, tr44) ; Và đó là kế sách "hòa để thủ, thủ để mưu chiến" (tk18) hay là “tạm hòa với Pháp” để giữ nước, bảo tồn chủ quyền bằng hòa nghị (kế hoản binh) tạo điều kiện canh tân tự cường (Tk6, tr156). Nhà học giả Đào duy Anh gọi đó là phái Duy tân, hay Canh tân khác hẳn với phái Chủ hòa hợp tác với Pháp.
Kể từ năm 1862 khi được sung vào Cơ Mật Viện và sau đó trở thành vị quan đại thần đầu Triều rất thân cận với vua Tự Đức trong suốt 20 năm, Trần tiễn Thành đã phải trực diện với:
- nạn ngoại xâm với thế mạnh quân sự và sự quyết tâm đô hộ của thực dân Pháp,
- nội loạn (Bắc kỳ ) và nội bộ triều đình đầy những tranh chấp tạo nên thế yếu quân sự và tài chính của nước Đại Nam ta,
- lòng dân Việt ly tán vì vấn đề lương-giáo và mất tin tưởng vào tài lãnh đạo của vua và quan.
Trần tiễn Thành đã cố gắng không ngừng giúp vua Tự Đức và cầm đầu triều đình Huế trong hơn 20 năm theo chiều hướng đổi mới để canh tân đất nước hầu đưa các nền ngoại giao, quân sự và kinh tế nước ta mạnh lên hầu đủ sức đối đầu với Pháp, dù đôi lúc phải thỏa hiệp cấp thời để có đủ thời gian và điều kiện tiếp tục chiến đấu bằng hình thức nầy hay hình thức khác. Đồng thời Trần tiễn Thành đã nắm vững và rất thận trọng trong việc khai triển chính sách Chiến-Thủ-Hòa của vua Tự Đức để giử vửng chủ quyền quốc gia, không đưa đất nước vào những cuộc phiêu lưu chính trị hay quân sự, nhưng cũng không đầu hàng hay cộng tác với giặc Pháp.
Các đại thần Phan thanh Giản và Phạm phú Thứ sau khi đi Pháp về (1863) chủ trương một cuộc đổi mới thật sự để theo kịp sự tiến bộ của nền văn minh tây phương. Một số sĩ phu cũng như một số quan lại thuộc triều đình đã nhận thức được sự yếu kém và lạc hậu của nước Nam ta để hô hào canh tân đất nước từ ngày Pháp xâm chiếm miền Nam .Chủ trương nầy đã được Trần tiễn Thành ủng hộ triệt để, nhất là sau cái chết của Phan Thanh Giản (1867), duy chỉ có một mình Trần tiễn Thành trong triều đình và Cơ mật viện tích cực vận động cho những ý kiến phương sách mới mẻ này mà thôi. Ngoài ra Trần tiễn Thành còn trực tiếp trao đổi, chấp nhận và ủng hộ những sĩ phu tiến bộ trong nhiều thập niên như Nguyễn trường Tộ từ 1859 đến 1871 và Nguyễn lộ Trạch từ 1872 đến 1884 đệ trình những quan điểm, phương án canh tân và hiện đại hóa đất nước để đủ sức chống Pháp.
Nguyễn trường Tộ là một nho sĩ cấp tiến theo Thiên Chúa giáo, một trong nhiều giáo dân đã bí mật được đưa đi du học ngoại quốc nhiều lần 1858-1861 (Singapour, Hongkong) để về giúp việc cho phái đoàn truyền giáo hay ngoại giao Pháp và đã tiếp xúc lần đầu tiên với Trần Tiễn Thành trong thời gian 1860-1861. Từ sau hiệp ước 1862 (cho tự do truyền đạo) vua Tự Đức bắt đầu sử dụng một số giáo sỉ Pháp và Việt trong một vài công tác liên quan đến đoàn quân viễn chinh Pháp và việc nầy tạo nên những sự bất đồng và chống đối để đưa đến các phong trào Văn Thân (1864), Bình Tây Sát Tả (1868) với những cuộc tương tàn đẫm máu...
Từ năm 1861 đến 1871 Nguyễn trường Tộ đã đệ trình tất cả 58 bản điều trần để đưa lên những đề nghị, kế hoạch về ngoại giao, nội trị cũng như kinh bang tế thế hầu canh tân đất nước về quân sự, chính quyền, giáo dục, kinh tế, xã hội đủ sức chống nạn ngoại xâm. Năm 1866 sau mấy bản điều trần đầu tiên gởi cho triều đình Huế qua Phạm phú Thứ và đến tay Trần tiễn Thành thì Tộ được mời vào Huế để ở lại tại tư dinh mà luận bàn thế sự cả tháng trời. Hai người đã trở thành tâm giao với một tình thân thiết có tính cách “gia đình”.Cũng vì sự quan hệ này mà Trần tiễn Thành bị tai tiếng đồng lõa với Pháp, giáo sĩ và giáo dân. Nguyễn trường Tộ luôn có mặc cảm là người công giáo bị triều đình Huế nghi ngờ và Vua không trọng dụng. Dù vậy Trần tiễn Thành cũng đồng ý với Nguyễn trường Tộ cố gắng theo đuổi các công cuộc cải cách và ngay cả việc xin vua Tự Đức chấm dứt việc bức hại giáo dân. Chính vua giao cho Trần tiễn Thành trách nhiệm chăm lo và tiếp rước Nguyễn trường Tộ. Nguyễn trường Tộ cũng được cử đi Pháp (1866) với Giáo sĩ Gauthier để tìm giáo sư về mở trường kỹ thuật tây phương tại Huế nhưng lại không được thi hành vì tình hình chiến sự của miền Tây.
Tất cả các bản điều trần lần lượt dâng lên vua Tự Đức .Vua có đọc, có châu phê, có cho hỏi thêm chi tiết ở Cơ mật viện nhưng không thi hành hay áp dụng một cách nghiêm túc . Những đại thần một mực cự tuyệt tất cả những dự án cải cách là Võ trọng Bình, Trương đăng Quế, Nguyễn tri Phương và bà Thái Hậu Từ Dủ (Tk7, tr213). Sau cùng Vua mời Nguyễn trường Tộ ra Huế (1870) để giao nhiệm vụ đưa một nhóm sinh viên sang Pháp du học nhưng Nguyễn trường Tộ đã lâm trọng bịnh và qua đời 1871 lúc mới 43 tuổi với một niềm ân hận khi tình hình chiến sự Bắc kỳ trở nên trầm trọng hơn và mọi chương trình cải cách phải bị gián đoạn.
Ngoài Nguyễn trường Tộ còn có Đặng huy Trứ (du học Nhật), Bùi Viện (du thuyết Hoa kỳ), Nguyễn Thông, Nguyễn tiến Thọ, Nguyễn bá Huân…cũng hô hào cải cách ruộng đất, hiện đại hóa vận tải giao thông, mở rộng ngoại giao với Anh quốc, Hoa Kỳ,…Từ 1870 bộ Lễ sáng lập chương trình gởi học sinh miền Trung vào Saigon học tập sinh ngữ Pháp và Anh, nhưng kết quả cũng giới hạn vì không được ủng hộ nhiều bởi dân chúng vì : tinh thần bài ngoại và chống Pháp vẫn là mục đích chính của các sĩ phu và quan lại bảo thủ chủ chiến, đôi khi còn đổ lỗi hoàn toàn cho giáo dân Kitô mà họ nỗ lực chống phá.
Năm 1872 Trần tiễn Thành gả một trong những thứ nữ của mình cho một ấm sinh mới 20 tuổi, con của bạn đồng liêu thân thiết, tuần phủ Nguyễn thành Úy tên là Nguyễn lộ Trạch. Trạch thông minh, ham đọc sách nhưng coi thường thi cử và công danh. Sau khi trở thành rễ của quan Thượng thư bộ Binh, Trạch được hướng dẫn nghiên cứu những sách báo đông tây và nhất là những bản điều trần của Nguyển trường Tộ (mới mất năm 1871) để tiếp nối con đường duy tân của Nguyễn trường Tộ.
Năm 1877 lúc mới 25 tuổi Nguyễn lộ Trạch đã đề nghị phương sách cứu nước trong bản điều trần đầu tiên: “Thời vụ sách thượng”. Mặc dầu sau khi ly hôn và không còn là rễ nữa (1880), Trần tiễn Thành vẫn coi trọng Nguyễn lộ Trạch như là một tâm giao cho tư tưởng duy tân của mình. Các bản điều trần của Nguyễn lộ Trạch không gây một ảnh hưởng nào lên triều đình Huế cả, vì tình hình chiến sự dồn dập nên phe chủ chiến lần lần có ưu thế với vua. Vào cuối đời của mình, Trần tiễn Thành cố gắng vận động để Nguyễn lộ Trạch được xuất dương du học và hoạt động để tạo áp lực ngoại giao lên chính phủ Pháp nhưng vua Tự Đức đã từ chối (1882).
Biến cố lớn xẩy ra cho Nguyễn lộ Trạch và nhất là cho phái duy tân lúc bấy giờ là việc ám sát Trần tiễn Thành năm 1883 : chủ trương canh tân đã bị dẹp tan và Nguyễn lộ Trạch lui về ẩn dật sau khi từ chối lời mời làm quan của Nguyễn văn Tường tháng 1-1884. Nhưng những suy luận của Trạch lại gây nên phong trào Duy Tân sau đó trong các lớp sĩ phu nước ta (Huỳnh Thúc Kháng, Trần quý Cáp, Trần Cao Vân, và nhất là hai cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh) vào thập niên cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.
Sau khi sáu tỉnh miền Nam mất vào tay Thực dân Pháp 1867, một số sĩ phu miền Nam, kẻ hợp tác, kẻ nỗi lên chống Pháp. Một số khác bao gồm: gia đình Nguyễn Thông, gia đình Tra Quy Bình, và gia đình Trương gia Hội…. không chịu hợp tác với Pháp và khước từ chế độ đô hộ của Pháp, đã di cư ra phía nam miền Trung đang thuộc quyền cai trị của Nhà Nguyễn để tị nạn và thành lập những trung tâm ”tị địa” tại Phan Thiết mà tiếp nối chí hướng chống Pháp của dân quân miền Nam cũng như bắt đầu phong trào Duy Tân (với những phong trào Đông kinh nghĩa thục hay các công ty Liên Thành sau này). Đó cũng là những bước đầu của dân chúng phải tự đứng lên nắm lấy chủ động trong việc bảo vệ tổ quốc và độc lập sau những thất bại liên tục của vua quan triều Nguyễn.
Một vài sĩ phu trong đa số dân chúng thầm lặng cũng như một ít quan lại triều đình đã ý thức được sự yếu kém và lạc hậu của nước Nam nên hô hào canh tân đất nước từ ngày Pháp xâm chiếm miền Nam. Các phe phái trong triều đình vua quan nhà Nguyễn :
Bảo thủ-chủ chiến-chủ hòa-chủ bại cũng như tầng lớp sỉ phu dân chúng tiến bộ từ từ mỗi ngày mỗi thức tỉnh lần lần để nhận thức được canh tân đất nước là một cần thiết để làm
Kế sách chống ách đô hộ, mà bao nhiêu thập niên qua với những ai có tư tưởng canh tân đất nước đều đã bị ghép vào ý tưởng “chủ hòa “, “thân Pháp” hay “không yêu nước” và ngay cả “phản quốc” một cách đầy sai lầm, vội vả và ác ý trong những thủ đoạn chính trị đương thời.
Công việc đổi mới không được thành công là vì vua Tự Đức quá bảo thủ, thận trọng cũng như thiếu cái nhìn sáng suốt của vua Minh Trị (Meiji) Nhật bản lúc bấy giờ (1852-1912). Một sự thật là: "bảo thủ ’’, "chủ chiến " hay "chủ hòa" cũng cần phải cởi mở nhìn nhận sự thật về sự yếu kém của hệ thống quốc phòng và kinh tế để canh tân đất nước cho dân giàu nước mạnh và nâng cao dân trí thì mới giữ được nước: Muốn canh tân thì phải tạm hòa, chủ động mở cửa giao tiếp bên ngoài để có đủ thời gian đổi mới.
Những cố gắng vô vọng cuối cùng là Trần tiễn Thành đã thất bại trong việc trình bày tình hình yếu kém của Trung Hoa để phản kháng việc gởi phái đoàn đi cầu viện, và cũng như việc vận động với Vua và triều đình đưa Nguyễn lộ Trạch xuất dương hoạt động ngoại giao vào những tháng đầu năm 1882 lúc tình hình quốc nội trở nên nghiêm trọng sau khi mất Hà nội. Vua Tự Đức phê vào sớ tâu về việc này 4 chữ : “Ngôn hà quá cao”.
Tiếc thay triều đình thuộc các phe phái đối lập đã tình nghi các đại thần thuộc phái duy tân một cách sai lầm là “thân Pháp” “bán nước” để kết quả của các cố gắng vận động không ngừng canh tân này là cái chết của Phan thanh Giản năm 1867 và Trần tiễn Thành vào năm 1883.
B. CHỦ HÒA--CHỦ CHIẾN: CÁI CHẾT CỦA TRẦN TIỄN THÀNH
Lúc còn sống vua Tự Đức có một thái độ cứng rắn, không nhân nhượng nhưng đã dung hòa áp lực của các xu hướng đương thời theo tình thế đòi hỏi: bảo thủ, quá khích và đổi mới qua chính sách “Khi hòa-Khi chiến-Khi thủ ” (hình thành trước đó do các đại thần Trương đăng Quế và Nguyễn tri Phương) theo như Bài văn Bia Khiêm Cung của vua Tự Đức:
"Bề tôi giỏi và tướng lão luyện đã chết mất quá nửa ; Chả còn mấy để phòng giữ bờ biển, bất đắc dĩ phải sửa soạn việc đánh.....bất đắc dĩ cầu hòa với giặc..... Để Trẫm cùng một Lão còn sót lại không thể làm thế nào được, chỉ trông nhau cùng khóc..."
Từ 1881 lúc Phạm phú Thứ hưu trí và Trần tiễn Thành ít tham gia chính sự vì hay đau ốm và già yếu (69 tuổi) và tình hình chiến sự càng ngày càng đen tối, Tôn thất Thuyết (do Trần tiễn Thành đề cử) trở thành Thượng thư Bộ binh và phái chủ chiến trở nên đa số trong triều đình được sự ủng hộ bởi các sỉ phu. Sau khi Hà nội thất thủ 25-4-1882 với sự tuẫn tiết của tổng đốc Hoàng Diệu rồi thành Hà nội được trả lại (10-5) để bắt đầu cuộc thương thuyết, các đại thần đại diện bởi Tôn thất Thuyết (lúc ấy 44 tuổi) xin dùng giải pháp quân sự và cầu viện Nhà Thanh , nhưng Trần tiễn Thành (70 tuổi) và Nguyễn văn Tường (52 tuổi) muốn nghị hòa, “nhưng chim bồ câu lớn nhất là chính vua Tự Đức” (Tk10, tr 284). Đến khi được tin Vua băng hà (16-7-1883) Pháp đem quân đánh chiếm cửa biển Thuận An (18-7-83) gây áp lực triều đình Huế để dứt điểm trong việc áp đặt bảo hộ sau khi đã chiếm trọn miền Nam và vài tỉnh miền Bắc (Hà nội-Hải phòng).
Trong lúc tình hình chiến sự như vậy với “thù trong giặc ngoài” đó, biến loạn cung đình đầy thảm họa trong biến cố “TỨ NGUYỆT TAM VƯƠNG “ (Bốn tháng ba vua) truất phế Vua liên tục xẩy ra: Dục Đức (19-7-83), Hiệp Hòa (30-10-83) (cùng việc ám hại Trần tiễn Thành ) rồi Kiến Phước (31-7-84) đưa đến Hiệp ước 25-8-1883 (phải chấp nhận bảo hộ sau khi Thuận An bị chiếm) và cuối cùng Hiệp ước 6-6-1884 mất chủ quyền Việt Nam ra đời. Trong khoảng thời gian giữa những hiệp ước nầy, phản ứng của triều đình và sĩ phu trở nên rõ rệt qua hai phe phái chính trị đối nghịch, đã đưa đến những cuộc xung đột đẫm máu:
- CHỦ HÒA (hay hợp tác hoàn toàn với Pháp) do Hiệp Hòa, Hồng Sâm, Hồng Phì cũng như Nguyễn hữu Độ, Phan đình Bình... chủ trương thi hành các hiệp ước đã ký kết và dẹp bỏ sự chuyên quyền của 2 Phụ chánh Tường -Thuyết.
- CHỦ CHIẾN do Tôn thất Thuyết, Nguyễn văn Tường, Phạm thận Duật…với tinh thần yêu nước cao độ muốn trực diện với quân viễn chinh Pháp, nhưng thiếu sự động viên đông đảo quần chúng nên đã mang tính chất phiêu lưu quân sự và chính trị, dẫn đến sự mất nước hoàn toàn vào tay thực dân Pháp.
Thời điểm mà Trần tiễn Thành bị ám hại (30-10-1883) nên được nghiên cứu lại để đánh giá đúng vị trí của Cụ trong lịch sử với những dữ kiện sau đây:
- Chỉ có Trần tiễn Thành triệt để ủng hộ những ý kiến mới mẻ của Phan thanh Giản và Phạm phú Thứ tại Triều đình và Cơ mật viện từ năm 1863. Ngoài ra Trần tiễn Thành còn ủng hộ những sĩ phu đệ trình lên vua những phương án canh tân và hiện đại hóa đất nước. Cũng vì thế Trần tiễn Thành bị đồng liêu gán ép vào nhóm “ thân Pháp và chủ hoà” với Phan thanh Giản và Phạm phú Thứ một cách sai lầm sau khi sứ bộ đi Pháp về đề nghị áp dụng nền văn minh tây phương (tk7, Tr212). Nhu cầu canh tân không đạt được những cải tổ lớn vì triều đình chống đối, và giới Nho sĩ "ngăn chặn". [tk18)
-Từ năm 1881, sau hơn 45 năm công vụ qua 3 đời Vua, Trần tiễn Thành đã có ý xin về hưu trí vì già yếu và bịnh tật, nhưng vua Tự Đức cho phép khỏi phải bái lạy mỗi khi vào chầu (ngay từ năm 1875) và không chấp nhận việc nghỉ hưu mà chỉ giảm bớt nhiệm vụ với sự phụ giúp lúc đầu bởi Lê hữu Tá sau đến Tôn thất Thuyết làm Thượng thư bộ Binh nhưng quản lý bởi Trần tiễn Thành. Do vậy ảnh hưởng chính trị của Trần tiễn Thành lên triều đình cũng đã giảm đi rất nhiều, bằng cớ là Trần tiễn Thành đã thất bại trong việc vận động với triều đình đưa Nguyễn lộ Trạch xuất dương du học vào những tháng đầu năm 1882 (Niên biểu Văn nghị Công). Từ năm 1881 tức vào 2 năm cuối triều Tự Đức, Nguyễn văn Tường và Tôn Thất Thuyết đã nắm hết mọi quyền hành trong lúc bịnh tình của Tự Đức càng ngày càng trầm trọng đồng thời loại bỏ ảnh hưởng của Trần Tiễn Thành khỏi triều đình.
- Cuối năm 1882 do bịnh kiết lỵ trở nặng Trần tiễn Thành lại xin khước từ tất cả việc công và được cho phep ở nhà để chửa bịnh và hoàn toàn ra khỏi chính trường. Mãi cho đến lúc vua Tự Đức bịnh nặng phải lo bắt đầu viết di chiếu vào tháng 6-1883, hay là một tháng trước lúc băng hà, vua Tự Đức ép Trần tiễn Thành nhận làm Phụ chính thứ nhất cho vua Dục Đức (làm vua được 3 ngày) dù lúc ấy thực quyền đã hoàn toàn vào tay hai quyền thần Nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết( tự ý chọn Hồng Dật làm vua thay Dục Đức). Bằng cớ là sau khi Pháp đã chiếm cửa biển Thuận An (21-7-1883), Trần tiễn Thành được gọi vào triều để bàn chuyện giảng hòa (tk1), Vua và triều đình đề cử Trần tiễn Thành đến nhà thờ Kim Long gặp giám mục Gaspar nhờ đứng làm trung gian điều đình với đô đốc Courbet nhưng Trần Tiễn Thành đã không tham dự vào công cuộc điều đình và ký kết Hiệp ước bảo hộ 25-8-1883.
- Trong những ngày cuối tháng 7 và đầu tháng 8-1883, sau những biến cố: việc “đọc di chiếu bỏ sót”, không đồng ý việc hạch tội Dục Đức, hành động bắt giam Phan đình Phùng tại Triều, vua Dục Đức bị giam ngục (để phải chết đói một thời gian sau đó), Trần tiễn Thành dâng sớ từ chối chức hàm Thái bảo Cần chánh điện đại học sĩ cũng như cáo lão và từ chức (2-3 lần); nhưng mãi đến cuối tháng 9-1883 sau khi hoàn tất việc phụng nghinh hòm (tử cung) vua Tự Đức lên Khiêm lăng, mới được Hiệp Hòa chuẩn y việc từ nhiệm chức vụ Phụ chính đại thần vì lý do sức khỏe (lúc ấy đã 71 tuổi) và nhất là tránh né những thủ đoạn chính trị của hai phe phái lúc bấy giờ.(tk1)
- Trần tiễn Thành đã không tham gia hay ủng hộ đường lối của Hiệp Hòa cộng tác với Pháp để loại bỏ quyền thần qua mật sớ của Hồng Sâm và Hồng Phì. Trần tiễn Thành cũng không chấp nhận chủ trương phiêu lưu quân sự của các bạn đồng liêu thuộc phe chủ chiến. Tuy Trần tiễn Thành lúc ấy đã đứng ngoài chính trường và chỉ là một nhà nho già yếu bịnh tật “đạo cao đức trọng” (tk14), nhưng vẫn bị ám hại vào nửa đêm 30-10-1883 tại tư gia Chợ Dinh, Gia hội sau khi can đảm viết vào bản thảo truất phế vua Hiệp Hòa (bị ép uống thuốc độc chết trong ngày) :
"Tôi đã bãi chức về nhà, không dám dự xét".
Sau khi khảng khái viết vào tờ sớ này vào buổi sáng thì con cháu trong họ được chỉ thị phải phân tán đi lánh nạn, còn Trần tiễn Thành chỉ ở lại một mình tại tư dinh với thủ thiếp và vài gia nhân để nhận lãnh trách nhiệm của một tôi trung với lòng khí khái can cường của một nhà nho yêu nước. Hành động can đảm như thế đã chứng tỏ Trần tiễn Thành không tham gia vào dự mưu cùng những người bạn văn thơ Hồng Sâm, Hồng Phì, Tuy Lý Vương vì những hoàng thân này đã bỏ trốn trong ngày xuống các chiến thuyền của Pháp đang đậu tại Thuận An.
Sự việc xãy ra trong ngày này hiện nay cũng chưa được sáng tỏ và cũng có rất nhiều sử liệu viết theo dự đoán và ý kiến riêng tư. Những sử liệu chính vẫn là 3 văn bản hiện còn tồn trữ:
- Tờ mật sớ tâu vua Hiệp Hòa của Tham Tri Hồng Sâm và Hồng Phì
- Tờ chiếu thoái vị của vua Hiệp Hòa
- Tờ sớ phế truất vua Hiệp Hòa của triều đình Huế (với ý kiến không đồng ý và chữ viết của Trần tiễn Thành).
Theo Thục Lục tập 35 trang 256 tờ sớ mật tâu của Hồng Sâm và Hồng Phì không có tên của Trần tiễn Thành cũng như lời châu phê của Hiệp Hoa trái ngược với những cáo buộc của Nguyễn văn Tường va Tôn thất Thuyết và dư luận hồi đó (tk6, tr86, tr 149)). Việc hạ thủ Trần tiễn Thành được thực hiện bởi đoàn quân ô hợp Phấn Nghĩa của Tôn Thất Thuyết dưới sự điều khiển của Hồng Chuyên (Chúc), Hồng Hàng và Hồng Tế. Theo Quốc sử quan triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biến (đệ ngũ ký, quyển 3), Kỳ ngoại hầu Hồng Chuyên bị truy cứu việc này năm 1884 bởi bộ Hình (Thượng thư Phạm thận Duật) và bị kết án trảm quyết nhưng rồi được giảm khinh (vì các việc khác) và phải đổi tên theo họ mẹ (Phan) (tk6, tr153). Về sau Chuyên bị xử tử vì mang tội vượt ngục.
Do việc ám hại này trong cùng một ngày với vua Hiệp Hòa mà Trần tiễn Thành đã bị ghép một cách sai lầm hay có thể nói vội vàng (từ 1883), đầy ác ý vào Phái chủ hòa chủ trương cọng tác với Pháp mặc dù không có một bằng chứng rõ rệt nào chứng tỏ Trần tiễn Thành liên hệ đến nhóm nầy, chỉ có những lời đồn vu cáo vô căn cứ.
Do việc truy cứu Hồng Chuyên về tội “cướp của giết người” nầy và việc Nguyễn văn Tường mời Nguyễn lộ Trạch ra làm quan trong những tháng đầu năm 1884 vào lúc phe chủ chiến đắc thế nhất, chúng ta có thể hiểu đó là những hành động để xoa dịu dư luận bất lợi (hay là mặc cảm tội lỗi?) về cái chết của Trần tiễn Thành trong thời bấy giờ mà biểu hiện qua các câu thơ, câu vè trong ‘Hạnh thục ca’ gọi là ‘uổng sát’, hay ‘Vè thất thủ kinh đô’ gọi là ‘anh hùng mắc nạn’ và nhất là hai câu đối chữ Hán do một tác giả vô danh treo trước cửa công đường bộ Lại (cửa Hiễn nhơn) vào một buỏi sáng sớm vài ngày sau việc phế lập để chỉ rỏ những người chụi trách nhiệm:
Nhất giang lưỡng quốc nạn phân thuyết
Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường.
(dịch : Một sông hai nước điều khó nói
Bốn tháng ba vua điềm chẳng lành)
Ngoài ra còn có những câu hò, bài thơ mĩa mai chế diễu ngay từ thời bấy giờ:
Nước Nam có bốn anh hùng
Tường gian, Viêm láo, Khiêm khùng, Thuyết ngu.
Giết Trần tiễn Thành chết có thể để làm một “cảnh cáo chính trị” cho những ai không chấp nhận hay đối nghịch với chủ trương của nhóm chủ chiến: sẳn sàng dùng bạo lực để loại trừ những ai không đồng chủ trương , cũng có thể Tôn thất Thuyết đã nhắm vào Nguyễn văn Tường và Bà Hoàng Thái hậu vì thái độ thiếu cương quyết, không thuận theo Thuyết triệt để –( khi chúng ta thử suy xét việc Nguyễn văn Tường ra đầu thú rất sớm với Phap và bà Hoàng Thái hậu hồi cung trong biến cố 1885 sau nay). Sự ám hại này cũng là một thủ đoạn chính trị để “dẹp bỏ một chướng ngại vật” hay muốn chứng tỏ “lòng quyết tâm” hay “độc quyền yêu nước“ của Tôn thất Thuyết trong tham vọng nắm giữ tất cả quyền lực, mặc dù Trần Tiễn Thành đang chỉ là “lão thành đức vọng” hay là bậc Đại phu (theo nhân gian đương thời) (xem Phụ lục 2) và đã là ân nhân tiến cử trên bước đường quan lộ của mình theo đúng đạo nhân-nghĩa của nhà nho (Trần tiễn Thành tiến cử tham biện Nguyễn văn Tường vào ngành ngoại giao 1867 và Tôn thất Thuyết vào Cơ mật viện 1881).
Hơn nữa có thể nguyên nhân chính trực tiếp là trong vòng 3 tháng Trần tiễn Thành đã công khai phản kháng 2 lần việc phế lập Dục Đức và Hiệp Hòa, khơi dậy “tật nóng nảy … tánh vũ phu … tính khí bất thường” của Tôn thất Thuyết (nhận định của vua Tự Đức) (tk10, tr320). Tôn thất Thuyết vá triều đình hẵn cũng đã biết chính kiến của Trần tiễn Thành: không muốn mang tội « thí vua » (giết vua) cũng như biết Trần tiễn Thành không chấp nhận hay tham gia vào dự mưu giết quyền thần của Hiệp Hòa nên đã cử một tham tri đại diện triều đình đưa tờ sớ đến tư dinh để lấy chữ ký đồng thuận và hậu thuẩn của Trấn tiễn Thành.
Trong 2 năm tiếp theo đó, phái chủ chiến đã nắm toàn quyền để thi hành chủ trương trực diện với Pháp bằng vũ lực dù yếu kém và kết quả đã đưa đất nước vào biển lửa (hàng năm dân Huế cúng Lễ Âm hồn 23/5 âm lịch) qua sự thất bại của cuộc chính biến 1885 (Vì thái độ hống hách và thách đố của tướng de Courcy mà Tôn Thất Thuyết tức giận thiếu suy tính, vội vàng đem quân tiến đánh đồn Mang Cá vào nửa đêm về sáng ngày 5 tháng 7 năm 1885. Quân Pháp đánh trả lại đến sáng thì kinh thành Huế thất thủ) để chủ quyền đất nước hoàn toàn mất vào tay thực dân Pháp bắt đầu giai đoạn 100 năm bị đô hộ và khơi dậy phong trào Cần Vương mãnh liệt, oai hùng nhưng vô vọng. Dưới chế độ Pháp thuộc từ 1885, triều đình của nhóm chủ hòa “thân Pháp” (Nguyễn hữu Độ, Phan đình Bình, Hoàng cao Khải, Nguyễn Thân...) đã chủ động biến thành công cụ của chính sách thực dân Pháp, ngoại trừ một số quan lại vẫn còn khí tiết cao thượng (Hoàng kế Viêm, Đào Tấn, Nguyễn trọng Hợp...)
Đến triều Đồng Khánh (1885), Trần tiễn Thành được truy xét và phục hồi lại chức cũ (xem Phụ lục 2) nhưng con cháu đã tẫu tán khắp nơi mãi đến sau này mới khôi phục dần dần lại được. Cái chết tức tưởi của Trần tiễn Thành đã đưa đến sự gián đoạn ảnh hưởng của xu hướng đổi mới trong quần chúng và giới sĩ phu trong một thời gian khá dài. Nguyễn lộ Trạch lui về ẩn dật sau khi từ chối cọng tác với triều đình chủ chiến và bắt đầu du thuyết cho chí hướng của mình sau khi chứng kiến và tìm hiểu lý do thất bại của các phong trào Văn Thân (1867-1874) và Cần Vương (1885-1896) của những người con yêu tổ quốc, tuy bồng bột, nhất thời, nhưng tất cả đều xuất phát từ lòng yêu nước, sẵn sàn hy sinh vì tổ quốc.
Với lòng nhiệt huyết yêu nước, với những kiến thức thâu nhận được qua bao nhiêu năm tao luyện bởi Trần tiễn Thành và dựa theo đầu đề thi Đình khóa 1892 (mặc dù không dự thi), Trạch đã làm một luận văn trình bày quan điểm, phân tích tình hình chính trị quốc tế và quốc nội dưới tiêu đề “Thiên hạ đại thế luận ». Bài luận nầy đã gây một ảnh hưởng lớn và sâu đậm cho các bạn vong niên của Nguyễn lộ Trạch cũng như những lớp sĩ phu sau này tiếp nối con đường duy tân, đi tìm một tư tưởng hay một chủ trương chiến lược mới để đánh đuổi ngoại xâm, với cố gắng khơi dậy một phong trào xuất dương học hỏi những tân tiến ở nước ngoài.
Những năm tháng tiếp theo đó, một mình Nguyễn lộ Trạch khởi sự cuộc du thuyết để kết giao những người tài giỏi có tâm huyết để tạo một sức mạnh trong quần chúng nhằm đi đến canh tân đất nước như là Trương gia Mô, Nguyễn trọng Lợi , Nguyễn thượng Hiền (người Hà Đông),…Qua văn thơ, Nguyễn lộ Trạch đã tìm được ở Trương gia Mô tâm đồng ý hợp có cùng một chí hướng và hai người đã cùng nhau tìm đường xuất ngoại để hoạt động cách mạng từ năm 1895 nhưng không thành công để rồi Nguyễn lộ Trạch mang bịnh và chết tha hương tại Bình Định năm 1898 (chỉ 46 tuổi).
Cũng giống như Trần tiễn Thành một mình đơn chiếc trong công việc vận động canh tân đất nước với Vua và Cơ mật Viện, Nguyễn Lộ Trạch một mình khởi động lại tư tưởng canh tân trong những năm cuối thế kỷ 19.
Mãi đến đầu thế kỷ XX (1903-1911) các chí sĩ duy tân như Nguyễn thượng Hiền, Trương gia Mô, Phan bội Châu, Phan chu Trinh , đặc biệt Huỳnh thúc Kháng …chịu ảnh hưởng và chấp nhận những luận thuyết trong “Thiên hạ đại thế luận” của Nguyễn lộ Trạch. Những nhà chí sĩ nầy đã bắt đầu công cuộc vận động thức tỉnh quần chúng yêu nước (mà không qua nỗ lực Cần Vương đang thất bại) trong việc tìm cách giành lại chủ quyền đất nước trong tay thực dân Pháp qua việc duy tân và xuất dương du học mà Trần tiễn Thành và người con rễ Nguyễn lộ Trạch vạch ra gần 30 năm trước đấy.
C. ”TỘI” GÌ CỦA TRẦN TIỄN THÀNH?
Trước khi băng hà 17-7-1883 vua Tự Đức có cho ba đại thần: Trần tiễn Thành (đang nghỉ bịnh dài hạn), Nguyễn văn Tường, Tôn thất Thuyết xem bản di chiếu. Sau khi xem, ba đại thần đã tâu vua nên bỏ những câu bất lợi cho Ưng Chân (có tật ở mắt và hiếu dâm) nhưng Tự Đức không chịu và nói “cứ để nguyên văn mà răn dạy” (vì Vua đang bịnh nên thiếu khôn ngoan và tâm lý). Trước ngày đăng quang Ưng Chân cho mời ba quan phụ chánh vào để bàn việc không nên đọc toàn bản di chiếu và bỏ một vài đoạn để bảo vệ uy tín cho vua mới và Ưng Chân tự tay gạch bỏ đoạn này. Cả ba ông đều đồng ý.
Nhưng Nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết mưu việc phế lập đảo chánh : Hôm sau trong đại lễ tại Triều, Tôn thất Thuyết nhường Trần tiễn Thành tuyên đọc, còn Nguyễn văn Tường lúc đầu vắng mặt vì cáo bịnh, đến lúc Trần tiễn Thành đọc đến đoạn nầy thì hạ giọng xuống và ho để cho không ai nghe được thì Nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết lên tiếng phản đối, bắt ngưng lại, yêu cầu Nguyễn trọng Hợp đọc lại thật to rồi truyền bãi triều. Ngày 21-7 Nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết (không có Trần tiễn Thành) lập sớ tâu lên Hoàng thái hậu Từ Dũ, công khai buộc tội Dục Đức với lý do chính là sửa di chiếu, đưa một giáo sĩ (Linh Mục Thọ-- là thầy giáo dạy pháp văn cho Ưng Chân và đã làm quan đến chức Tham biện) vào làm việc trong ngự phòng và có những liên hệ thân thiết với Khâm sứ Rheinart (gián tiếp báo tin phái đoàn cầu viện nhà Thanh) (tk10, tr322). Bà Từ Dũ chấp nhận ý kiến của Tường-Thuyết. Trong phiên họp tại Triều, hai ông Nguyễn văn Tường-Tôn thát Thuyết thay phiên trình bày lý do phải loại bỏ Dục Đức (cha của vua Thành Thái và ông nội của vua Duy Tân sau này). Trần tiễn Thành bị buộc tội tự ý sửa di chiếu và không đọc đúng di chiếu.Trần tiễn Thành lên tiếng cải chính thì bị Tôn thát Thuyết áp đảo và quát mắng :” Ông cũng phạm nhiều lỗi lớn không thua chi, còn muốn nói năng cái gì?” Thế là cả triều đình đều im hơi lặng tiếng, ngoại trừ Khoa đạo Ngự sử Phan đình Phùng can đảm đứng lên phản đối kịch liệt việc phế truất Dục Đức. Phan dinh Phùng liền bị bắt nhốt, lột hết chức tước và đuổi về nguyên quán.
Đối với Tôn thất Thuyết, Trần tiễn Thành đã phạm tội gì?
Trước hết tội đưa giáo dân Nguyễn trường Tộ tham gia vào những chính sự của triều đình từ 1862 (cũng không thua gì tội của phế đế Dục Đức). Như trên đã nói, những vận động canh tân và những hoạt động ngoại giao, tiếp xúc liên lạc với các giáo sĩ để mời làm trung gian giải quyết vấn đề với quân viễn chinh Pháp đã gặp những chống đối trong hoàng tộc và quan lại. Năm 1865 nhóm Hồng Tập, anh em chú bác với Tự Đức kết hợp nhiều tôn thất để âm mưu đảo chánh và bạo động, đòi giết Phan thanh Giản và Trần tiễn Thành vì cho là kẻ đầu hàng giặc, không theo phong trào chống Pháp. Dư luận chung của quan lại và sĩ phu với óc thủ cựu của nhà nho, chống đối Trần tiễn Thành vì những quan hệ với Nguyễn trường Tộ và không ngần ngại tố cáo ông đồng lõa với thực dân Pháp, các giáo sĩ và giáo dân Thiên chúa giáo.
Tuy nhiên chính vua Tự Đức đã giao nhiệm vụ cho giám mục Gauthier và Nguyễn trường Tộ đi Pháp (1867) tìm chuyên viên để mở trường kỹ thuật tại Huế. Qua các lời châu phê trên các bản điều trần của Nguyễn trường Tộ và sớ tâu của Trần tiễn Thành, trong thâm tâm nhà vua vẫn xem Nguyễn trường Tộ không phải là người phản quốc và Trần tiễn Thành cũng có lý. Lúc ba tỉnh Miền Tây bị mất, dư luận lại đổ lỗi cho Nguyễn trường Tộ, nhiều sĩ phu lập kiến nghị đòi triều đình giết Nguyễn trường Tộ và cáo buộc Trần tiễn Thành và Phạm phú Thứ là kẻ phản bội. Trong nỗ lực ngoại giao với chính quyền thực dân tại Saigon, Trần tiễn Thành xin cho Bang biện Nguyễn văn Tường đi theo vào Saigon để bàn định điều ước mới để từ năm 1873 mọi việc thương thuyết với Pháp đều do Nguyen van Tường đảm trách. Nhưng vua Tự Đức vẫn quý trọng Trần tiễn Thành và « vua tôi tương đắc ». Sau khi Tự Đức băng hà, Trần tiễn Thành với tư tưởng canh tân không có người che chở và bảo trợ nữa.
Còn tội gì nữa?
Tội chống việc cầu viện Nhà Thanh của Tôn thất Thuyết và không tin tưởng vào sức mạnh và thực lực nhà Thanh nước Tàu. Sau khi Hanoi thất thủ và trong thời gian thương thuyết với Riviere vào cuối tháng 5 và đầu tháng 6 năm 1882 ,Tự Đức sai sứ thần Phạm thận Duật với phương vật triều cống và cầu cứu Nhà Thanh vì vua quan cứ tưởng rằng nước Tàu lúc bấy giờ đủ sức chống Pháp. Trong một cuộc tranh biện tại triều trước đó, Trần tiễn Thành nói ”Tôi đây là con lai mà tôi không dám tin rằng người Tàu có thể địch với quân Pháp được” (tk15 tr 31). Tôn thất Thuyết mắng lại rằng:” Ông là khách mà ông khinh bỉ đồng bào của ông, rỏ đồ vô sỉ.” “VÔ SỈ” là vì cả một triều đình không am hiểu tinh hình thế giới, chỉ tin cậy vào Khổng Mạnh, trông mong vào sự cứu giúp của Trung Hoa, một nước đang bị “cấu xé” và “nát như tương”.Theo sự yêu cầu của Tự Đức, 20 nghin quân Thanh vượt biên giới vào mùa hè 1882 để giúp quân nhà Nguyễn tuyên chiến với Pháp (tk17) với những chiến thắng giới hạn lúc khởi đầu với một ý đô đen tối của quân Thanh. Sau khi đưa Hàm Nghi xuất bôn kháng chiến chống Pháp 1885 , Tôn Thất Thuyết thân hành sang cầu viện nhà Thanh thì mới nản chí và thất vọng, để ngày ngày rút gươm chém đá giải sầu.
D. TÂM SỰ CỦA TRẦN TIỄN THÀNH----TỰ ĐỨC
Cái tâm sự của Trần tiễn Thành đã được vua Tự Đức nhìn thấy rõ và cảm nhận khi viết lá Thư Chúc Thọ ngày 20-11-1882 (Phụ lục 1) tức là chỉ 8 tháng trước ngày Vua băng hà và 12 tháng trước ngày Trần tiễn Thành bị ám hại. Vua viết như sau :
"Lại thấy (khanh) càng ngày càng tỏ vẻ buồn"
và còn hơn nữa : "Miệng thế gian lắm lời cũng thật đáng sợ".
Tại sao Trần tiễn Thành lại "BUỒN " và thế gian "LẮM LỜI" như thế ?
“Lắm lời” chỉ vì lòng yêu nước chân chính với sự sáng suốt của một chính trị gia nhìn xa trông rộng và của một người lãnh đạo yêu nước trong một triều đình “hủ nho” chưa thức tỉnh và dân trí chưa được mở mang. Trần tiễn Thành cũng như Phan thanh Giản, Phạm phú Thứ đã sớm ý thức sự tiến bộ tây phương trong lúc đa số quan lại lạc hậu, chỉ biết tranh giành chức tước nhỏ nhen, thi nhau ngâm vịnh, học vấn từ chương, không muốn thay đổi vì quyền lợi cá nhân phe nhóm :
Vua Tự Đức đã nhìn thấy rõ nhân cách, chính kiến và đạo đức của Trần tiễn Thành nhưng bị hàm oan thị phi (thân Pháp? đầu hàng ?).
"Buồn" có lẻ vì Trần tiễn Thành cảm thấy cô đơn và bất lực trong một triều đình cũng như giới nho sỉ đầy những người quá khích, thiễn cận và một vị vua với quyền hạn tối cao (Thiên tử) nhưng yếu đuối, không quyết đoán và thiếu khả năng .
Xét lời than thở của cụ Phan thanh Giản viết khi đi sứ sang Pháp về (1863):"hết lời năn nỉ chẳng ai tin"(Vua Tự Đức không tin những điều tai nghe mắt thấy của các cụ Phan và Phạm) và lời chúc thọ cho Trần tiễn Thành (1882), chúng tôi cảm nhận được rằng vua Tự Đức đã tỏ ý binh vực cho cái chí hướng của Trần tiễn Thành và chê trách công luận và thế sự lúc bấy giờ. Như thế “cùng khóc” (1867) của vua Tự Đức với cái “buồn” (1882) của Trần tiễn Thành có phải là của những “người không trọn vẹn chí nghiệp”(lời Tự Đức) có cùng một tâm sự. Đây có phải là một nỗi ân hận của vua Tự Đức vào khoảng khắc cuối đời mình khi nhìn đất nước từ từ rơi vào tay Pháp chăng?
Cũng trong Lời Chúc Thọ nầy chúng ta tìm thấy được một lời tiên tri (Tk14, tr178) :
” Rồi đây ai được ai không ?”.
Không ai được hết. Các Vua mất ngôi còn bị chết thảm. Dậu chìm bè nỗi. Chủ chiến không thành. Chủ hòa không được. Đất nước mất chủ quyền. Cả nước đều thua. Không chung sức. Không chung lòng. Mỗi người mỗi phương cùng ôm hận. Chim lồng cá chậu: Tôn Thất Thuyết lạc lỏng cô đơn ở Long Châu bên Tàu; Nguyễn văn Tường bị lưu đày và chết ở Tahiti. Để rồi lịch sử sau 100 năm mới nhận định xác thực lời điều trần của Nguyễn trường Tộ : vấn đề canh tân không giải quyết được thì dân tộc không tránh khỏi họa vong quốc.
Kể từ bài viết của Đào duy Anh vào năm 1944, đến nay đã có rất nhiều tác giả trong các bài tiểu luận nhận định về hành trạng của Trần tiễn Thành như là Hoàng cơ Thụy, Thái văn Kiểm, Nguyễn thế Anh, Vũ ngự Chiêu, Nguyễn xuân Thọ, Cao huy Thuần, Nguyễn Cúc, Bùi trần Phượng, Nguyễn đắc Xuân, Trần gia Phụng, Nguyễn lý Tưởng,... đã nói lên tính cách xác thật của sự kiện bi hùng lịch sử của Trần tiễn Thành một cách khách quan.
Theo chúng tôi, giá trị lịch sử của bài học Trần tiễn Thành về canh tân đất nước là phải đồng tâm, thật lòng và cương quyết để chính sách cởi mở được thực hiện tương xứng với sự phát triển của xã hội và kinh tế để đưa đất nước đến phú cường giàu mạnh nhanh chóng hầu chống nạn ngoại xâm. Trong một phần tư thế kỷ từ ngày Pháp bắt đầu cuộc xâm lăng 1858 đến hòa ước Harmand 25-8- 1883, nếu Vua và triều đình Huế nhất quyết và khôn khéo chịu canh tân đất nước, biết mở rộng giao thương với Phương Tây như kế sách của phái Canh tân (hay Duy tân) của các vị trí thức hay quan lại như Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch... thì nước Đại Nam ta đã giữ được nền độc lập tự trị giống như Nhật Bản và Thái Lan cũng thời gian ấy đã biết mở cửa, đổi mới để đưa đất nước đến phú cường và giữ vững nền độc lập dân tộc.
Những dữ kiện trình bày ở trên đây liên quan đến Trần tiễn Thành hy vọng đã làm sáng tỏ những đóng góp cho đất nước với lòng trung quân ái quốc để theo như lời kêu gọi của sử gia Bùi trần Phượng:
“không nên giết Trân tiễn Thành thêm một lần nữa”.
Lịch sử lúc nào cũng phán xét một cách sáng suốt và người dân luôn luôn là một trọng tài phân minh khi sự thật được phơi bày với thời gian. Lẽ nào hàm oan 125 năm và sai lầm của lịch sử không được hiệu chỉnh hay sao ?
Bác sĩ Trần Tiễn Sum
California, USA.
Tham khảo (tk):
1/Niên biểu Văn Nghị Công Trần Tiễn Thành, Quyển 5-6, Trần tiễn Hối biên soạn năm 1894, bản vi tính: Trần tiễn Tiến, 1994
2/Việt sử khảo luận, Tập 7-8, Hoàng cơ Thụy, Paris 1992
3/Lịch sử Việt Nam -1858-1896, Viện Sử Học, Hà nội 2003
4/Những vấn đề lịch sử về triều đại cuối cùng ở VN, Tạp chí Xưa và Nay, Hà nội 2002
5/Phong trào duy tân, Nguyễn văn Xuân, NXB Lá Bối, bản in 2002
6/Phụ chánh đại thần TTT, Đào duy Anh, tạp chí Huế thành hiếu cổ 1944; Nguyễn đắc Xuân, NXB Thuận hóa 1992
7/Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp, Nguyễn xuân Thọ, 1991
8/Nguyễn lộ Trạch, Mai cao Chương, Đoàn lê Giang, 1996
9/Việt nam thời Pháp đô hộ, Nguyễn thế Anh, 1970
10/Các vua cuối Nhà Nguyễn, Vũ ngự Chiêu, Houston 2000
11/Nghiên cứu Huế, Tập 5, 2003
12/Nguyễn trường Tộ, Trương bá Cần, 2002
13/Tóc bạc gậm mây sầu xã tắc, Thái văn Kiểm
14/Tôn thất Thuyết-TTT, Nguyên Hương, Tiếng Sông Hương, Houston 2004-2005
15/Phan đình Phùng--- Đào trinh Nhất, bản in 1997
16/Việt Nam sử lược, Trần trọng Kim.
17/ Nuoc Dai Nam doi dien voi Phap va Trung Hoa. (tai ban # 3) Yoshiharu Tsuboi.
18/ Các Vua Nhà Nguyễn, Giới Văn Thân Và Sự Bại Vong Của Việt Nam
[21/09/2005 - Vietnam Review] ……..Tôn Thất Thiện
Phụ lục 1 : Thư Chúc thọ của vua Tự Đức nhân Trần Tiễn Thành bảy mươi tuổi, (Ngự bút 20-11-1882), bản dịch của Trần Thước .
(Bấm vào đọc Thư Chúc thọ 1 - 2 - 3 - 4
và
trở về mục lục Tài Liệu & Biên Khảo,
Quý đọc giả bấm BACK trên cao bên trái)
(Bấm vào đọc
Lời giới thiệu GS Nguyễn Lý Tưởng 1 - 2
và
trở về mục lục Tài Liệu & Biên Khảo,
Quý đọc giả bấm BACK trên cao bên trái)
|