|
Chiêu
Văn Vương
Trần Nhật Duật
Ông là con thứ 6 của Trần Thái
Tông, sinh tháng 4 năm ất Mão
(1255) tại hoàng cung Thăng
Long. 30 năm sau, tháng 4 năm ất
Dậu , ông trở thành người anh
hùng trong trận Hàm Tử nổi tiếng.
Sử cũ truyền rằng,
khi ông sinh ra, ở cánh tay có
chữ Chiêu Văn đồng tử , Nhà vua
bèn lấy chữ đó đặt tên hiệu cho
ông. Lúc lớn lên, ông rất thông
minh, có tiếng là người học rộng,
hiểu biết nhiều lĩnh vực tri
thức.
Những văn thư của
triều đình phần nhiều do ông
thảo.Vua Anh Tông có hai mũ võ,
tức là mũ để đội trong khi duyệt
giảng võ mà chưa biết đặt tên là
gì. Khi Anh Tông đi đánh Chiêm
Thành, định đội để đi, sai Trần
Nhật Duật đặt tên, ông bèn đặt
một cái là Uy Vũ, một cái là Uy
Đức. Những tiết tấu âm nhạc,
khúc điệu múa hát đều do ông làm
ra. Tiếc rằng những sáng tác âm
nhạc của ông đều không còn đến
ngày nay.
Ông thông hiểu
tiếng nói và phong tục của nhiều
dân tộc trong và ngoài nước.
Người nước ngoài đến kinh đô,
nếu là người Tống ông ngồi ghế
đối diện, đàm luận cả ngày; là
người Chiêm hay các dân tộc khác
thì tùy theo quốc tục của họ mà
tiếp đãi. Sứ của nước Sách Mã
Tích (không rõ nay là nước nào)
sang cống, không tìm được người
thông dịch, duy chỉ có ông dịch
được. Mỗi khi tiếp sứ Nguyên,
ông đều nói chuyện trực tiếp,
không mượn người phiên dịch. Sứ
giả tưởng ông là người Chân Định
(Trung Quốc) sang làm quan Đại
Việt. Trần Nhân Tôn (cháu của
Trần Nhật Duật) thường nói: chú
Chiêu Văn có lẽ là kiếp sau của
người phiên lạc nên nói được
tiếng các nước .
Năm Canh Thìn
(1380), thổ tù ở đạo Đà Giang là
Trịnh Giác Mật tụ tập đồ đảng
cướp bóc dân chúng. Bấy giờ,
Trần Nhật Duật trông coi đạo Đà
Giang, lĩnh mệnh triều đình đến
dụ hàng. Giác Mật nghe tin, cho
người đến nói: "Mật không dám
trái lệnh. Nếu ân chúa đi ngựa
một mình đến thì Mật xin hàng .
Ông nhận lời, chỉ đem theo vài
tiểu đồng đi theo đến trại Mật.
Ông dùng tiếng nói của họ để đối
đáp, lại cùng với Mật ăn bằng
tay, uống bằng mũi. Mật thích
lắm, đem gia thuộc xin hàng. Mọi
người đều thỏa dạ và kính phục
Trần Nhật Duật, không mất một
mũi tên mà bình được Đà Giang.
Năm ất Dậu(1285),
quân Nguyên xâm lược Đại Việt
lần thứ hai. Trần nhật Duật bấy
giờ đang trấn thủ Tuyên Quang.
Trước thế mạnh của quân giặc từ
Vân Nam xuống tiến đánh quân Đại
Việt ở trại Thu Vật, Tuyên Quang,
ông đã thực hiện cuộc rút lui
chiến lược theo con đường từ Yên
Bình về Bạch Hạc rồi vượt qua
vùng các dân tộc thiểu số rút về
chỗ vua Trần đóng quân.
Cuối tháng 4 năm
ấy, ông lập chiến công vang dội
ở trận Hàm Tử. Giặc bị thiệt hại
nặng, bỏ chạy tan tác. Chép về
trận này, cuốn Đại Việt sử ký
toàn thư cho rằng "công đánh
giặc Nguyên, Nhật Duật lập được
nhiều hơn cả .
Năm Nhâm
Dần(1302), vua Trần Anh Tông
phong Chiêu Văn Vương Trần Nhật
Duật làm Thái úy Quốc công cùng
vua trông coi việc nước. Đến đời
Minh Tông năm Giáp Tý(1324)
phong Tá thánh Thái sư, năm Kỷ
tỵ(1329) lại phong Đại vương.
Ông là người làm
việc giỏi, ngay thẳng. Vợ ông là
Trinh có lần nhờ ông một việc
riêng. Ông gật đầu, nhưng đến
khi ra phủ, người thư ký đem
việc ấy ra trình, ông không cho.
Trần Nhật Duật là
người nhã nhặn, độ lượng, khoan
dung, mừng giận không lộ ra sắc
mặt. Trong nhà không chứa roi
vọt để đánh gia nô.
Một lần có kẻ
kiện gia tỳ của ông với Quốc phủ(
tức Trần Quốc Tuấn). Quốc phủ
sai người đến bắt. Người gia tỳ
chạy vào trong phủ. Người đi bắt
đuổi đến giữa nhà, bắt trói ầm
ỹ. Phu nhân khóc, nói: Ông là tể
tướng mà Bình chương cũng là tể
tướng, chỉ vì ông nhu quá nên
người ta mới khinh rẻ đến thế".
Ông vẫn tự nhiên, chẳng nói gì,
sai người bảo gia tỳ rằng: "Mày
cứ ra, đâu đâu cũng đều có phép
nước .
Ông mất năm Canh Ngọ (1330) đời
Trần Hiến Tông, thọ 77 tuổi. Tên
tuổi và sự nghiệp của ông gắn
liền với chặng đường vinh quang
nhất của triều Trần.
Giáo sư Võ Ngọc
Khánh - Đỗ Thị Hảo |
|
|