|
Trong lịch sử Việt Nam, nhiều
sách trước đây đã cho rằng triều
đại do Triệu Đà lập ra là một
triều đại cổ Việt. Tuy nhiên, sử
Trung Hoa cho biết rằng Triệu Đà
là tùy tướng của Nhâm Ngao, và
Nhâm Ngao là phiên tướng của nhà
Tần.(1) Trước khi từ trần, Ngao
khuyên Triệu Đà nhân cơ hội Hán
Sở tranh hùng, nên dựa vào địa
thế xa xôi hiểm trở của quận Nam
Hải, thành lập một nước độc lập
với trung ương.(2) Triệu Đà liền
chiếm Nam Hải và tự xưng vương
tức Triệu Vũ Vương, đặt quốc
hiệu là Nam Việt, đóng đô ở
Phiên Ngung năm 207 TCN (giáp
ngọ).(3) Triệu Đà xua quân chiếm
luôn các quận phía nam là Giao
Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và cử
người sang cai trị các quận nầy
năm 198 TCN (quý mão).
Sau đó, tại Trung Hoa, Lưu Bang
lật đổ nhà Tần lên cầm quyền tức
Hán Cao Tổ (trị vì 202-195 TCN),
lập ra nhà Hán (202 TCN - 220).
Năm canh ngọ (111 TCN), Hán Vũ
Đế (Han Wu Ti, trị vì 140-87 TCN)
sai Lộ Bác Đức (tước là Phục Ba
tướng quân) đem quân đánh nhà
Triệu, giết vua Triệu lúc bấy
giờ là Triệu Dương Vương và thái
phó Lữ Gia, chiếm Nam Việt, rồi
đổi Nam Việt thành Giao Chỉ bộ.
Đáng chú ý là bộ Giao Chỉ là một
tên chung để chỉ một vùng rộng
lớn gồm chín quận Nam Hải,
Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố,
Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam,
Châu Nhai, Đạm Nhĩ mà trong đó,
theo Ngô Thời Sỹ, chỉ có ba quận
Giao Chỉ, Cửu Chân,và Nhật Nam
mới riêng hẳn là cổ Việt. (4)
Phải chăng vì lầm lẫn giữa bộ
Giao Chỉ và quận Giao Chỉ mà
nhiều sử thuyết đã đưa Triệu Đà
thành một triều đại của cổ Việt
và cho rằng lãnh thổ cổ Việt là
khu vực cai trị của Triệu Đà bao
gồm cả vùng Quảng Châu (Trung
Hoa) ngày nay?(5)
Sự kiện báo hiệu việc mở đầu
công cuộc tranh đấu giành độc
lập của nước cổ Việt thuộc địa
bàn khu vực nước ta ngày nay là
cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng
năm 40 (canh tý). Trưng Trắc,
người huyện Mê Linh (Phúc Yên
ngày nay), cùng em là Trưng Nhị
đánh đuổi thái thú Trung Hoa là
Tô Định về nước, lấy được một số
thành trì và tự xưng vương, đóng
đô ở quê nhà là Mê Linh. Hai Bà
Trưng đã được sử sách ghi lại là
người địa phương Giao Châu đầu
tiên lập chiến công chống lại
chính quyền Trung Hoa, nói lên ý
chí độc lập của người cổ Việt
nhắm tạo dựng một quốc gia riêng
biệt, thoát khỏi ách thống trị
của Trung Hoa.
Năm 41 (tân sửu), Trung Hoa gởi
Mã Viện sang Giao Châu. Mã Viện
(14 TCN – 49) là một danh tướng
nhà Hán, cũng được phong tước
Phục Ba tướng quân, tiến đánh và
dẹp yên cuộc khởi nghĩa của Hai
Bà Trưng năm 43 (quý mão). Nước
cổ Việt tiếp tục nằm dưới sự đô
hộ của người Trung Hoa.
Về lịch sử cuộc khởi nghĩa Hai
Bà Trưng, có những vấn đề cần
được xác định lại:
1) Tên chồng bà Trưng Trắc: Theo
bộ Đại Việt sử ký toàn thư (phần
“Ngoại kỷ”, quyển 3 tờ 2a), được
bộ Việt sử thông giám cương mục
dựa vào đó chép lại (phần “Tiền
biên”, quyển 2 tờ 10),(6) chồng
bà Trưng tên là Thi Sách. Sau
đây là lời của Toàn thư: “Tên
huý là Trắc, họ Trưng. Nguyên là
họ Lạc, con gái của Lạc tướng
huyện Mê Linh, Phong Châu, vợ
của Thi Sách ở huyện Châu Diên.(7)
Khi viết tên chồng bà Trưng là
Thi Sách, Ngô Sĩ Liên đã dựa vào
tiểu truyện Hai Bà Trưng trong
các sách Lĩnh Nam chích quái (Trích
những chuyện quái ở đất Lĩnh
Nam, thế kỷ 15), Việt điện u
linh tập (Tập chuyện u linh ở
Việt điện, thế kỷ 14) (8) và xa
hơn nữa là bộ sử của Trung Hoa
do Phạm Việp viết là Hậu Hán thư
(Sách về đời Hậu Hán, viết vào
thế kỷ thứ 5).(9) Ngành viết sử
của nước ta chỉ bắt đầu vào thế
kỷ 13, nên những đoạn sử trước
đó, người xưa đều sử dụng tài
liệu Trung Hoa.
Trong phần chính văn bộ Hậu Hán
thư của Phạm Việp, có đoạn về
Hai Bà Trưng như sau: “Hựu Giao
Chỉ nữ tử Trưng Trắc, cập nữ đệ
Trưng Nhị phản công đầu kỳ quận.
Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố man
di giải ứng, khấu lược Lĩnh
ngoại lục thập dư thành, Trắc tự
lập vi vương.” (nghĩa là: “Ở
Giao Chỉ có người đàn bà tên là
Trưng Trắc và em gái là Trưng
Nhị nổi lên làm loạn, đánh phá
trong quận. Người man di ở các
quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố
đến hưởng ứng, cướp phá hơn 60
thành ở Lĩnh ngoại. Trắc tự xưng
vương.”) (10)
Vào thế kỷ thứ 6, một tác giả
khác tên là Lịch Đạo Nguyên, đã
du lịch sang cổ Việt, đến thăm
vùng Mê Linh. Khi trở về Trung
Hoa, ông viết sách Thuỷ kinh chú,
trong đó ông có đề cập đến
chuyện Hai Bà Trưng và viết như
sau: "...Châu Diên lạc tướng tử
danh Thi sách Mê Linh lạc tướng
nữ tử danh Trưng Trắc vi thê.
Trắc vi nhân hữu đảm dũng, tương
Thi khởi tặc; Mã Viện tương binh
thảo, Trắc Thi tẩu nhập Cẩm Khê...”
(nghĩa là: ...Con trai của lạc
tướng Châu Diên tên là Thi hỏi [sách]
con gái lạc tướng Mê Linh tên là
Trưng Trắc làm vợ...[Bà] Trắc là
người can đảm, cùng [ông] Thi
nổi dậy làm giặc; Mã Viện đem
quân đánh, [ông bà] Trắc Thi
chạy vào Cẩm Khê...) (11)
Dựa vào tài liệu Thuỷ kinh chú,
trong khi chú thích phần chính
văn viết về Hai Bà Trưng của Hậu
Hán thư, thái tử Lý Hiền (12)
đời nhà Đường, vào thế kỷ thư 8,
đã chú thích rằng: “Trưng Trắc
giả, Mê Linh huyện Lạc tướng chi
nữ dã, giá vi Châu Diên nhân Thi
Sách thê, thậm hùng dũng.” (nghĩa
là: “Trưng Trắc là con gái Lạc
tướng huyện Mê Linh được gả làm
vợ một người huyện Châu Diên là
Thi Sách, bà rất hùng dũng.”(13)
Cần lưu ý là sách chữ Nho ngày
xưa viết không có chấm câu, nên
người đọc có thể không biết câu
văn dừng lại ở chỗ nào, và rất
dễ lẫn lộn câu nầy qua câu khác.
Trong chú thích cuả mình, thay
vì viết tên “Thi” như Thuỷ kinh
chú, thái tử Hiền đã viết thành
“Thi Sách”.
Cách viết của thái tử Hiền về
tên chồng bà Trưng dẫn đến cách
viết của các tác giả Việt, từ
Việt điện u linh tập, đến Việt
sử lược,(14) qua Lĩnh Nam chích
quái, rồi đến các bộ chính sử
Toàn thư và Cương mục, nghĩa là
các sách nầy đều cho rằng chồng
bà Trưng tên là Thi Sách. Sự lầm
lẫn nầy không phải do các tác
giả Việt tự ý viết ra, mà do ảnh
hưởng của lời chú thích Hậu Hán
thư của thái tử Hiền bên Trung
Hoa.
Người phát hiện ra sự lầm lẫn về
tên chồng bà Trưng trong chú
thích của thái tử Hiền là học
giả Huệ Đống, vào thế kỷ thứ 18,
dưới đời nhà Thanh (Trung Hoa).(15)
Khi so sánh chú thích của thái
tử Hiền trong Hậu Hán thư và câu
văn nguyên thuỷ của Thuỷ kinh
chú, Huệ Đống viết như sau: “Cứu
Triệu Nhất Thanh [16] viết “Sách
thê” do ngôn thú thê. Phạm sử
tác: “Giá vi Châu Diên nhân Thi
Sách thê” mậu hỉ. Án Thuỷ kinh
chú ngôn “tương Thi”, ngôn “Trắc
Thi”, minh chỉ danh Thi.” (nghĩa
là: “Xét Triệu Nhất Thanh nói:
“sách thê” còn có nghĩa là “cưới
vợ”; các sử học Phạm chép “Gả
làm vợ người Châu Diên là Thi
Sách” là sai. Xem Thuỷ kinh chú
thấy nói “tương Thi”, rồi nói
“Trắc Thi”, chỉ rõ ràng tên ông
đó là Thi.”(17)
Trong Thuỷ kinh chú, Lịch Đạo
Nguyên viết: “...Châu Diên lạc
tướng tử danh Thi sách Mê Linh
lạc tướng nữ tử danh Trưng Trắc
vi thê. ” (nghĩa là: “Con trai
của lạc tướng Châu Diên tên là
Thi, hỏi [sách] con gái lạc
tướng Mê Linh tên là Trưng Trắc
làm vợ.”). Trong câu nầy, nếu
Thi Sách là họ và tên thì vế thứ
nhì của câu nầy thiếu động từ,
trở nên tối nghĩa. Như Huệ Đống
đã viết, đọc tiếp đoạn Thuỷ kinh
chú về Hai Bà Trưng, sự cân đối
trong cách dùng từ sẽ cho thấy
rõ tên của chồng bà Trưng. "...
Trắc vi nhân hữu đảm dũng, tương
Thi khởi tặc; Mã Viện tương binh
thảo, Trắc Thi tẩu nhập Cẩm Khê...”
(...[Bà] Trắc là người can đảm,
cùng [ông] Thi nổi dậy làm giặc;
Mã Viện đem quân sang đánh, [ông
bà] Trắc Thi chạy vào Cẩm Khê...)
Tác giả Lịch Đạo Nguyên dùng tên
Trắc, vậy thì chữ Thi theo sau
đó cũng phải là tên chứ không
thể là họ. Lịch Đạo Nguyên đã
đến Mê Linh vào thế kỷ thứ 6 và
phát hiện tên chồng bà Trưng tên
là Thi, vậy tốt nhất nên trở về
đúng tên ban đầu của chồng bà
Trưng, tức là ông Thi.
2. Lý do cuộc khởi nghĩa : Theo
Toàn thư, thái thú Trung Hoa là
Tô Định cai trị tàn bạo, dùng
pháp luật trói buộc, lại giết
chồng Bà Trưng nên Bà khởi
nghĩa. Sau đây là lời của Toàn
thư: “ Mùa xuân, tháng Hai [canh
tý], vua [Trưng Trắc] khổ vì
thái thú Tô Định dùng pháp luật
trói buộc, lại thù Định giết
chồng mình, mới cùng em gái là
Nhị nổi binh đánh hãm trị sở ở
châu...”(18)
Như trên đã trích dẫn, theo Lịch
Đạo Nguyên trong sách Thủy Kinh
Chú thì: "... Trắc vi nhân hữu
đảm dũng, tương Thi khởi tặc; Mã
Viện tương binh thảo, Trắc Thi
tẩu nhập Cẩm Khê...” (...[Bà]
Trắc là người can đảm, cùng
[ông] Thi nổi dậy làm giặc; Mã
Viện đem quân sang đánh, [ông
bà] Trắc Thi chạy vào Cẩm
Khê...) như vậy có nghĩa là ông
Thi còn sống khi Bà Trưng nổi
lên. Vậy lý do khởi nghĩa vì thù
chồng mà Toàn thư viết không
đứng vững.
Một tài liệu khác đã giải thích
vì sao chồng Bà Trưng bị khai tử
trong khi ông vẫn còn sống và
cùng vợ khởi nghĩa. Đó là quyển
The Birth of Vietnam [Việt Nam
khai sinh] của tác giả Keith
Weller Taylor. Trong sách nầy,
tác giả Taylor cho rằng do thành
kiến trọng nam, các nhà viết sử
người Việt của những thế kỷ sau
thời Hai Bà Trưng không thể chấp
nhận chuyện một người phụ nữ
lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và trở
thành vua trong khi ông chồng
vẫn còn sống, nên họ đã viết
rằng Tô Định đã giết chồng Bà
Trưng. Trong khi đó, cũng theo
Taylor, những tài liệu Trung Hoa
cho thấy rõ rằng ông Thi đã theo
Bà Trưng khởi nghĩa.(19)
Về lý do thứ nhất, Bà Trưng khởi
nghĩa vì bị luật pháp ràng buộc,
khi chú thích Hậu Hán thư của
Phạm Việp, cũng trong đoạn viết
về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng,
thái tử Hiền đã viết vào thế kỷ
thứ 8:"...Giao Chỉ thái thú Tô
Định dĩ pháp thằng chi, Trắc oán
nộ cố phản...” (...Thái thú Giao
Chỉ là Tô Định dùng luật pháp
trói buộc nên [bà] Trắc tức giận
làm phản...). (20)
Chữ "pháp" mà thái tử Hiền dùng
không phải chỉ một nghĩa hẹp là
"luật lệ", mà chữ "pháp" ở đây
có thể hiểu rộng hơn như là pháp
chế, tổ chức hành chánh, chính
trị, cũng như kinh tế, văn hóa,
phong tục. Nói một cách khác, Tô
Định đã áp đặt mạnh mẽ chế độ
cai trị của Trung Hoa theo chính
sách đồng hóa của nhà Hán (202
TCN - 220), làm mất tự do của
người cổ Việt, và Trưng Trắc đã
nổi lên khởi nghĩa chống lại Tô
Định. Về pháp luật, trong một
đoạn nói về việc cai trị của Mã
Viện sau khi dẹp Hai Bà Trưng,
Hậu Hán thư (quyển 54, tr. 747)
chép: "Điều tấu Việt luật dữ Hán
luật bác giả thập dư sự." (Luật
dân Việt và luật nhà Hán khác
nhau đến trên mười điều).(21) Có
lẽ Hậu Hán thư viết nhẹ nhàng là
chỉ có mười điều, nhưng nếu là
mười điều căn bản tối quan trọng
của tổ chức xã hội thì cũng đủ
trở thành gông cùm trói buộc
những người cổ Việt đang sống tự
do theo phong tục tập quán của
mình.
Như vậy, Hai Bà Trưng đã khởi
nghĩa vì ý chí tự do độc lập của
dân tộc cổ Việt. Lý do nầy rất
cao cả, chính đáng, và mạnh mẽ.
Phải chăng khi nghĩ rằng việc bị
pháp luật ràng buộc không đủ
mạnh, nên các sử gia chính thống
ngày trước phải thêm chuyện thù
chồng để việc nổi dậy thêm phần
ý nghĩa. Nói cho cùng, chuyện
thù chồng chỉ là chuyện cá nhân
của mỗi người, chứ không phải là
đại nghĩa của đất nước; huống gì
ở đây chồng bà Trắc còn sống và
cả hai cùng nổi dậy. Cũng chính
vì thêm việc thù chồng, nên các
tác giả của các bộ sử trên đây
biên chép kết quả cuộc khởi
nghĩa không rõ ràng.
Cần chú ý, lúc đó Mã Viện đã về
hưu trí, nhưng vua nhà Hán phải
mời Mã Viện ra cầm quân trở lại
để bình định cổ Việt, đủ thấy
sức kháng cự của Hai Bà Trưng
rất mạnh mẽ làm cho nhà Hán phải
lo ngại gởi một danh tướng đi
đánh dẹp.
3. Kết quả cuộc khởi nghĩa :
Theo Hậu Hán thư, khi Mã Viện
được vua Hán cử sang Giao Châu
năm 41, thì vào mùa xuân năm
sau, Mã Viện đụng trận với Hai
Bà Trưng tại vùng Lãng Bạc.
(theo Cương mục, Lãng Bạc là
vùng hồ Tây, Hà Nội ngày nay) Bà
Trưng cùng chồng thua chạy. Mã
Viện đuổi Bà Trưng đến Cẩm Khê,
đánh thắng mấy trận, quân bà
Trưng bị tan rã. (theo Cương
mục, Cẩm Khê là vùng Sơn Tây
ngày nay). Hậu Hán thư còn viết
tiếp Mã Viện chém Trưng Trắc,
Trưng Nhị gởi đầu về Lạc Dương
vào tháng giêng năm 43.(22)
Trong Việt sử lược, tác giả
khuyết danh đã viết: “Năm thứ 19
[niên hiệu Kiến Vũ nhà Hán tức
năm 43] Trưng Trắc càng nguy
khốn, bị Mã Viện giết.”(23) Tác
giả Lê Tắc (24) trong An Nam chí
lược cũng viết như thế: “Năm
Kiến Vũ thứ 19, Mã Viện chém yêu
tặc là Trưng Nhị và đánh luôn cả
dư đảng, bọn Đô Dương. Đến huyện
Cư Phong, bọn nầy đầu hàng.”(25)
Lê Tắc gọi Hai Bà Trưng là “yêu
tặc” vì lúc đó ông đầu hàng quân
Nguyên, nên ông đứng trên quan
điểm của người Trung Hoa viết về
vị nữ anh hùng dân tộc Việt.
Tuy nhiên, khi viết chính sử vào
thế kỷ thứ 15, Ngô Sĩ Liên dừng
lại ở chỗ Hai Bà Trưng thua
chạy, chứ không đề cập đến cái
chết của Hai Bà. Sau đây là lời
của Toàn thư: “Vua thấy thế giặc
mạnh lắm, tự nghĩ quân mình ô
hợp, sợ không chống nổi, lui
quân về giữ Cẩm Khê. Quân chúng
cũng cho vua là đàn bà, sợ không
đánh nổi địch, bèn tan chạy.
Quốc thống lại mất.”(26)
Toàn thư không đề cập đến cái
chết của Hai Bà Trưng, nên trong
Việt sử tiêu án, Ngô Thời Sỹ
cũng viết: "...Trưng Vương thấy
quân nhà Hán thế mạnh, tự nghĩ
quân mình ô hợp sợ không chống
nổi bèn lui về giữ ở Cẩm Khê.
Quân lính cũng nghĩ vương là
người con gái, không thể địch
với tướng Hán được, đều tự vỡ
chạy...Xét quân Hai Bà Trưng
thua chạy đến núi Hy Sơn, rồi
không biết đi đâu...”(27)
Trong sách Lịch triều hiến
chương loại chí, Phan Huy Chú
viết:"...Được ba năm, nhà Hán
sai Mã Viện sang đánh. Vua [chỉ
Trưng Trắc] thấy quân Hán đông,
tự xét không thể địch nổi, mới
lui giữ Cẩm Khê. Quân đều tan
vỡ. Vua cùng quân Hán đánh nhau,
thế cùng phải chết. Nước bị
mất...”(28) Như thế, Phan Huy
Chú đã viết rõ ra rằng Trưng
Trắc bị thua, bỏ chạy vào Cẩm
Khê, và từ trần mà tránh nói vì
sao bà từ trần.
Qua đến Cương mục, các tác giả
sách nầy cho rằng Hai Bà “thất
trận chết”. Sách Cương mục viết:
“Trưng Vương cùng em gái là Nhị
cự chiến với quân Hán; quân vỡ,
thế cô, đều bị thất trận
chết.”(29)
Ngang đây, xuất hiện bộ sử thi
Đại Nam Quốc sử diễn ca [Sử nước
Đại Nam diễn ra lời ca] dưới
thời vua Tự Đức.(30) Các tác giả
sách nầy đã thi vị hóa cái chết
của Hai Bà Trưng:
" Cẩm Khê đến lúc hiểm nghèo,
Chị em thất thế cùng liều với
sông.”(31)
Trí tưởng tượng của các thi sĩ
trên được tác giả Tiên Đàm
Nguyễn Tường Phượng tô điểm thêm
trong bài "Thân thế và sự nghiệp
của hai bà Trưng" trên báo Tri
Tân, số 38 ra ngày 11-3-1942,
trang 219. Nguyễn Tường Phượng
viết: "...Chị em Trưng Vương
thất thế phải gieo mình xuống
cửa sông Hát giang mà tự tận...”
Hình ảnh gieo mình xuống sông
Hát có vẻ vừa hào hùng, vừa lãng
mạn dễ trở thành đề tài cho thi
ca nhạc kịch, và dễ được lan
truyền trong trí tưởng tượng của
quần chúng hơn là hình ảnh thân
gái hy sinh nơi chiến trường, bị
bắt chặt đầu một cách rùng rợn
rồi gởi về Trung Hoa.
Với tinh thần của một người
ngoại cuộc, theo những tài liệu
phát hiện được, tác giả Keith
Weller Taylor viết thẳng thừng
rằng: "Mã Viện tiến đến Mê Linh,
và vào cuối năm [42] đã bắt được
Trưng Trắc cùng em là Nhị; vào
tháng giêng năm sau, đầu của hai
chị em được gởi về triều đình
nhà Hán ở Lạc Dương” (32)
Có thể các sử gia người Việt
ngày trước muốn tránh né một sự
thật đau lòng và không mấy vẻ
vang cho dân tộc Việt, nên tránh
né không viết chuyện Mã Viện
chém đầu Hai Bà Trưng gởi về
dâng lên triều đình Trung Hoa,
rồi đến các văn nhân đã thi vị
hóa bằng cách mô tả Hai Bà đã
tuẫn tiết trên dòng sông
Hát.(33)
Tuy nhiên việc Hai Bà Trưng bị
chết một cách thảm thương như
vậy đâu có làm giảm oai linh của
người nữ anh hùng dân tộc chúng
ta. Điều đó càng chứng tỏ Hai Bà
Trưng đã quyết chiến đấu đến
cùng, và hy sinh tính mạng trên
chiến trường vì nền độc lập của
dân tộc chúng ta. Chẳng những
trong lịch sử Việt Nam, mà cả
trong lịch sử thế giới Hai Bà
Trưng được ghi nhận là trường
hợp người phụ nữ đầu tiên nổi
lên sớm nhất chống lại quân
ngoại xâm giành lại nền độc lập
cho dân tộc. Đó là một sự hy
sinh vĩ đại của một bậc nữ lưu
mà cổ kim đông tây không thấy
có, và đời đời dân tộc Việt
tưởng nhớ ghi ơn.
Khi đọc đoạn sử về Hai Bà Trưng,
vua Tự Đức (trị vì 1847-1883) đã
ngự phê: " Hai Bà Trưng thuộc
phái quần thoa, thế mà hăng hái
quyết tâm khởi nghĩa, làm chấn
động cả triều đình Hán. Dẫu rằng
thế lực cô đơn, không gặp thời
thế, nhưng cũng đủ làm phấn khởi
lòng người, lưu danh sử sách.
Kìa những bọn nam tử râu mày mà
chịu khép nép làm tôi tớ người
khác, chẳng những mặt dày thẹn
chết lắm dư! "(34)
CHÚ THÍCH :
(1)Quốc Sử Quán triều Nguyễn,
Việt sử thông giám cương mục, dụ
chỉ tr. 9, bản dịch ban Nghiên
cứu Văn Sử Địa, Hà Nội 1957, tr.
61). (Viết tắt: Cương mục). Các
nhân vật nầy còn xuất hiện trong
bộ tiểu thuyết dã sử Hán Sở
tranh hùng của Trung Hoa. Việt
sử thông giám cương mục do Quốc
sử quán triều Nguyễn soạn dưới
triều Tự Đức, xong năm 1881 (tân
tỵ), gồm hai phần: Tiền biên (5
quyển) bắt đầu từ thời Hồng Bàng
đến Thập nhị sứ quân, và Chính
biên (47 quyển) từ Đinh Tiên
Hoàng (trị vì 970-979) đến Lê
Chiêu Thống (trị vì 1787-1788).
Cương mục, bản dịch, sđd. tr.
63.
(2)Theo lời "chua" của quốc sử
quán triều Nguyễn trong Cương
mục, bản dịch, sđd. tr. 64,
Phiên Ngung ngày xưa thuộc quận
Nam Hải, ngày nay là đất Quảng
Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung
Hoa.
(3)Ngô Thời Sỹ Việt sử tiêu án,
bản dịch của Hội Việt Nam Nghiên
Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu, Sài
Gòn, Văn Sử tái bản, San Jose
1991, tr. 25, 34. Thật ra, chỉ
có Giao Chỉ và Cửu Nhân là hai
quận của cổ Việt, còn Nhật Nam
lúc đó là đất Chiêm Thành. Cũng
theo Ngô Thời Sỹ vì Triệu Đà sáp
nhập cổ Việt vào Nam Việt nên
khi Nam Việt bị nhà Hán sáp nhập
vào Trung Hoa, nước cổ Việt cũng
bị họa lây. Do đó, theo Ngô Thời
Sỹ, Triệu Đà chẳng những không
có công gì với cổ Việt mà còn
thủ họa cho cổ Việt nữa. (sđd.
tr.34)
(4)Gần giống như tỉnh bang
Quebec với thành phố Quebec,
nước Mexico với thành phố
Mexico.
(5) Tên Giao Chỉ có từ xưa,
người Trung Hoa dùng để chỉ vùng
đất về phía tây nam xa ngoài đất
Bách Việt (Toàn thư, bản dịch,
sđd. tr. 131.). Đến đời nhà Tần,
Giao Chỉ là Tượng quận (Cương
mục, bản dịch, sđd. tr. 59). Đầu
đời nhà Hán, Hán triều tách
Tượng Quận làm 3 thành Giao Chỉ,
Cửu Chân, và Nhật Nam (Cương
mục, bản dịch, sđd tr. 59).
Triệu Đà sáp nhập ba quận nầy
vào nước Nam Việt năm 198 TCN.
(Cương mục, bản dịch, sđd. tr.
64.)
(6)Khi Lộ Bác Đức đem quân đánh
Nam Việt năm 111 TCN, chính
quyền họ Triệu ở Phiên Ngung
chống lại quân nhà Hán, trong
khi chính quyền ở quận Giao Chỉ
đem sổ đinh ra nạp xin hàng. Do
vậy nhà Hán gọi chung đất Nam
Việt là Giao Chỉ bộ mặc dầu
trong chín quận kể trên, chỉ có
hai quận thuộc cổ Việt, sáu quận
thuộc Quảng Châu (Cương mục, bản
dịch, sđd. tr. 79)
(7)Năm 203, nhà Đông Hán đổi
Giao Chỉ bộ thành Giao Châu,
ngang hàng với các châu khác bên
TrungHoa (Cương mục bản dịch,
sđd. tr. 96). Năm 264, nhà Ngô
chia Giao Châu thành hai: Quảng
Châu gồm Nam Hải, Thương Ngô, Út
Lâm, đóng châu lỵ ở Phiên Ngung
(Quảng Châu); Giao Châu gồm Giao
Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp
Phố, đóng châu lỵ ở Long Biên
(Thăng Long, Hà Nội) (Cương mục,
bản dịch sđd. tr. 105)
(8)Về bộ Đại Việt sử ký toàn
thư, viết tắt là Toàn thư, và bộ
Việt sử thông giám cương mục,
viết tắt là Cương mục, xin xem
bài 1.
(9)Toàn thư, bản dịch của Nxb.
Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993,
tr. 156.
(10)Về các bộ sách nầy, xin xem
bài 1.
Nhà Hán (202 TCN - 220) ở Trung
Hoa được chia thành hai giai
đoạn: Tiền Hán hay Tây Hán (202
TCN - 25) và Hậu Hán hay Đông
Hán (25-220). Giữa Tiền Hán và
Hậu Hán, từ năm 9 đến năm 23 là
giai đoạn do Vương Mãng cầm
quyền. Khi Lưu Tú (Hán Quang Võ)
tái lập được nhà Hậu Hán, ông
dời đô về Lạc Dương, phía bắc
tỉnh Hồ Nam.
(11)Phạm Việp, Hậu Hán thư,
quyển 54, trong bộ Nhị thập ngũ
sử, tr. 747, cột 3. Nguyễn
Phương, Việt Nam thời khai sinh,
Phòng Nghiên cứu Sử, Viện Đại
học Huế, 1965, tr. 174, trích
dẫn, phiên âm và dịch nghĩa.
(12)Lịch Đạo Nguyên, Thuỷ kinh
chú, quyển 37, tờ 62a. Nguyễn
Phương trích dẫn, phiên âm, và
dịch nghĩa, sđd. tr. 179. Về tên
tác giả Thủy kinh chú, sử gia
Nguyễn Phương phiên âm là Lệ Đào
Nguyên, tác giả Đào Duy Anh
phiên âm là Lệ Đạo Nguyên, nay
theo phiên thiết của Từ hải xin
phiên âm là Lịch Đạo Nguyên.
(13)Thái tử Lý Hiền, con vua
Đường Cao Tông (trị vì 649-683).
Sau khi vua Đường Cao Tông từ
trần, Lư Lăng Vương lên ngôi tức
Đường Trung Tông (trị vì
683-710). Ngay từ 683, bà Võ hậu
chuyên quyền, rồi tự mình lên
làm vua tức Võ Tắc Thiên (trị vì
690-705). Võ hậu đày các hoàng
thân nhà Đường đi xa. Thái tử
Hiền nằm trong số nầy. Chính
trong thời gian bị lưu đày, ông
đã chú thích bộ Hậu Hán thư.
(13)Nguyễn Phương, trích dẫn,
phiên âm và dịch nghĩa, sđd. tr.
178.
(14)Việt sử lược: về sách nầy,
xin xem bài 1. Về phần chồng bà
Trưng, Việt sử lược viết: “Trưng
Trắc lấy chồng người huyện Châu
Diên là Thi Sách.”(Việt sử lược,
Nguyễn Gia Tường dịch, Nguyễn
Khắc Thuần hiệu đính, Nxb.
TpHCM, 1993, tr. 39.) Đặc biệt,
sách Việt sử lược hầu như không
được nhắc đến trong nền sử học
Việt Nam trước thế kỷ 19, kể cả
các sách của học giả Dương Quảng
Hàm cũng không đề cập đến.
(15)Huệ Đống (Hui Dong,
1697-1758): học giả Trung Hoa
đời nhà Thanh, sống qua các đời
vua Khang Hy, Ung Chánh, Càn
Long, người huyện Ngô, tỉnh
Giang Tô, tự là Định Vũ, hiệu là
Tùng Ngân, con trai thứ của Sĩ
Kỳ. Ông chuyên nghiên cứu về
kinh sử, đặc biệt nổi tiếng qua
các bộ sách Dịch Hán học (Học
thuật Kinh Dịch đời Hán), Thượng
thư khảo (Khảo cứu về quyển
Thượng thư tức Kinh thư), Hậu
Hán thư bổ chú (Chú thích thêm
về bộ Hậu Hán thư). [Theo Nguyễn
Tiến Văn, Toronto.]
(16)Triệu Nhất Thanh (Zhao
Yiqing, 1709-1764), trẻ hơn Huệ
Đống 12 tuổi, cũng trải qua ba
triều vua Khang Hy, Ung Chánh,
Càn Long. Ngoài các văn tập để
lại, ông còn có các công trình
biên khảo về Tam Quốc, và sông
ngòi Trung Hoa, nhất là sông
ngòi tỉnh Trực Lệ (Hà Bắc, phía
bắc Trung Hoa). [Theo Trần Huy
Bích, Orange County, điện thư
ngày 4-12-2001]
(17)Nguyễn Phương trích dẫn,
phiên âm và dịch nghĩa, sđd. tr.
179. Theo sử gia Nguyễn Phương,
ông đọc được lời của Huệ Đống ở
phần “Phụ lục” quyển 54 của Hậu
Hán thư trong bản in của Nghệ
Văn Ấn Thư Quán, Hương Cảng,
1952.
(18)Toàn thư, bản dịch sđd. tr.
156.
(19)Keith Weller Taylor, The
Birth of Vietnam [Việt Nam khai
sinh], University of California
Press, 1983, tt. 38-39.) Có thể
cũng vì lý do nầy mà hai anh em
Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị
Trinh cùng khởi nghĩa năm 248,
nhưng vì Triệu Thị Trinh là phụ
nữ lại lãnh đạo cuộc khởi nghĩa,
nên Toàn thư cũng như Cương mục
hoàn toàn không viết về Triệu
Quốc Đạt, xem như không có nhân
vật nầy.
(20)Nguyễn Phương trích dẫn,
sđd. tr. 176.
(21)Nguyễn Phương trích dẫn,
sđd. tr. 137.
(22)Hậu Hán thư, quyển 54, tr.
747. Nguyễn Phương trích dẫn,
sđd. tr. 183.
(23)Việt sử lược, bản dịch sđd.
tr. 40.
(24)Lê Tắc (hay Lê Trắc ) tự
Cảnh Cao, vốn họ Nguyễn, được
người cậu tên Lê Phụng nuôi nên
đổi qua họ Lê, người Ái Châu
(Thanh Hóa), làm tham mưu cho
Chương Hiến Hầu Trần Kiện. Trần
Kiện là con của Trần Quốc Khang
(anh cùng mẹ khác cha của vua
Trần Thái Tông), làm trấn thủ
Nghệ An, đã đầu hàng Toa Đô khi
Toa Đô tấn công Nghệ An vào đầu
năm 1285. Toa Đô cho người giải
Trần Kiện về Tàu. Khi ngang qua
Lạng Sơn, dân binh đổ ra tấn
công, Trần Kiện bị chết, Lê Tắc
cướp được xác chủ, đem an táng,
rồi bỏ trốn sang Trung-Hoa. Ở
Trung-Hoa, Lê Tắc viết bộ An Nam
chí lược. (Trần
(25)Trọng Kim, Việt Nam sử lược,
Nxb. Tân Việt, in lần thứ 7, Sài
Gòn, 1964, tr. 141. Dương Quảng
Hàm, Việt Nam văn học sử yếu,
Nxb. Bộ Giáo Dục, Sài Gòn 1960,
in lần thứ 7, tr. 241, phần chú
thích).
(26)Nguyễn Phương, sđd. tr. 183.
Nguyễn Phương trích dẫn, phiên
âm và dịch nghĩa. Nguyên câu do
Nguyễn Phương phiên âm là: “
Thập cửu niên, Mã Viện trảm
Trưng Nhị yêu tặc, kích kỳ dư
đảng Đô Dương đằng, chí Cư Phong
huyện hàng chi.” [Trong câu
phiên âm nầy, phần thứ nhì: đáng
lẽ chữ “nhị” không viết hoa (“Mã
Viện trảm Trưng nhị yêu tặc” ),
và dịch là: “Mã Viện giết Trưng,
hai yêu tặc.”]
(27)Toàn thư, bản dịch sđd. tr.
156.
(28)Ngô Thời Sỹ, sđd. 40.
(29)Phan Huy Chú, Lịch triều
hiến chương loại chí, bản dịch
của Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội
1992, tập 1, tr. 187. Phan Huy
Chú (1782-1840) là con của Phan
Huy Ích (1750-1822), cháu của
Phan Huy Ôn. Ông học rộng biết
nhiều, nhưng rớt hai khoa thi
hương năm 1807, 1819 vào đầu đời
nhà Nguyễn và chỉ được xếp hạng
tú tài. Năm 1821, ông được bổ
nhiệm làm Hàn lâm viện biên tu.
Cũng trong năm nầy, ông trình bộ
Lịch triều hiến chương loại chí,
được xem là bộ bách khoa toàn
thư về văn hóa nước ta. Về sau
làm Phủ thừa phủ Thừa Thiên,
hiệp trấn Quảng Nam, đã từng đi
sứ sang Trung Hoa năm 1830, và
đi sứ sang Batavia cuối năm
1833. (Dưới đời nhà Nguyễn
(1802-1945), Thừa Thiên là nơi
đặt kinh đô, nên tổ chức hành
chánh đặc biệt. Phủ thừa là
người đứng đầu phủ Thừa Thiên.)
(30)Cương mục, bản dịch, sđd.
tr. 84.
(31)Đại Nam quốc sử diễn ca:
Lịch sử Đại Nam được viết bằng
thơ là quyển thơ do một tác giả
khuyết danh người Bắc Ninh khởi
thảo và nạp về triều đình nhà
Nguyễn năm 1857. Năm 1859, do sự
đề cử của Phan Thanh Giản, Lê
Ngô Cát sửa lại và viết thêm đến
lúc Lê Chiêu Thống chạy sang
Trung Hoa. Phạm Xuân Quế nhuận
sắc lại. Năm 1873, Phạm Đình
Toái theo bản của Lê Ngô Cát
viết lại, bốn phần còn một; Phan
Đình Thực và các danh sĩ thời đó
nhuận sắc, rồi Phạm Đình Toái
khắc in ở Nghệ An.(Dương Quảng
Hàm, sđd. tr. 272.) Ngày nay,
người ta xem hai ông Lê Ngô Cát
và Phạm Đình Toái là đồng tác
giả quyển thơ nầy.
(32)Lê Ngô Cát và Phạm Đình
Toái, Đại Nam Quốc sử diễn ca,
Nxb. Trường Thi, Sài Gòn 1956,
tr. 75.
(33)Keith Weller Taylor, sđd.
tr. 40.
(34)Sông Hát là chi lưu của sông
Đáy, chạy dọc theo tỉnh Hà Đông.
Mar 24, 2007
=====
Xem thêm:
Trưng
Nữ Vương nữ anh hùng
Hàn
Lâm Nguyễn Phú Thứ
Giáo Sư & Nhà Văn
Huy Chương và Hội Viên
Bắc Đẩu Bội Tinh (2007)
Chevalier dans l’Ordre de la Légion
d’Honneur
Đệ Ngũ Đẳng Hàn Lâm (2003)
Chevalier dans l’Ordre des Palmes
Académiques
Pháp
Quốc
---
Căn cứ theo các sách và truyền tụng xưa, hai Bà
Trưng sanh đôi, vào ngày mùng 1 tháng 8 năm Giáp
Tuất nhằm năm 14 sau Tây Lịch tức thế kỷ thứ nhứt,
quê quán ở Châu Phong. Con của Lạc Tướng huyện
Mê-Linh vùng lãnh thổ từ Ba Vì đến Tam-Đảo thời
Bắc thuộc và thân mẫu là Bà Man Thiện, khuê-danh
Trần-Thị-Đoan, người làng Nam Nguyễn và cháu chắt
bên ngoại của các vua Hùng, sau trở thành Man
Hoàng Thái Hậu. Hiện nay, tại làng Nam Nguyễn,
thôn Cam-Thiện, Xã Đường Lâm còn có đền thờ Mả Dạ
tức nơi tôn thờ mộ Bà Man Thiện.

Riêng về tên của hai Bà phải gọi Trưng Trắc là
Trưng Chắc và Trưng Nhị là Trưng Nhì mới đúng, bởi
vì quê quán của hai bà Trưng có nuôi tằm để cung
cấp cho ngành dệt vải, cái kén dày được gọi là cái
kén chắc, còn cái kén mỏng được gọi lá cái kén nhì,
cho nên song thân của hai bà lấy tên trong nghề
nuôi tằm để đặt tên cho hai bà.
Hai bà Trưng con nhà danh gia vọng tộc và có nề
nếp gia phong và được ôn văn võ luyện mặc dù cha
mất sớm (về võ công được Ông Đỗ-Năng-Tế, người
Quốc Oai tức Hà-Tây đến tập luyện tại Mê-Linh, sau
này Ông trở thành cận tướng để chống lại giặc
ngoại xâm, nay còn có đền thờ Ông Đỗ-Năng-Tế tại
Hà Tây).
Mãi đến Bà Trưng Trắc được 20 tuổi, mới được mẹ gả
cho gia đình nhà họ Đặng tên Thi-Sách, con trai
của Lạc Tướng huyện Chu Diên (thuộc đất Đan Phượng,
huyện Từ Liêm, Phủ Vĩnh Tường, thuộc ngoại thành
Hà Nội), cận kề với huyện Mê-Linh, nhờ vậy hai gia
đình Lạc-Tướng càng ngày kết chặt tình thông gia
và tạo uy danh tăng mạnh thêm lên để đánh đuổi
giặc ngoại xâm phương Bắc.
Nhân nói đến họ tên chồng của Bà Trưng Trắc là Ông
Đặng-Thi-Sách, để tìm hiểu thêm, xem coi chồng của
Bà Trưng Trắc là Thi Sách hay Thi?, xin trích dẫn
từ trang 530 đến 531, tác phẩm Thuyền Ai Đợi Bến
Văn Lâu của Gs Nguyễn-Lý-Tưởng như sau :
...Theo sách Thủy Kinh Chú của Lệ-Đào-Nguyên,
khoảng thế kỷ 16, tác-giả đã từng đến vùng Mê-Linh,
đã ghi lại được những điều tai nghe mắt thấy nhu
sau : "Châu Diên Lạc Tướng tử, danh Thi, sách
Mê-Linh Lạc Tướng nữ, danh Trưng Trắc, vi thê.
Trắc vi nhân hữu đảm dũng, tương Thi khởi tặc. Mã
Viện tương binh thảo. Trắc, Thi tẩu nhập Cấm Khê"
(quyển 37, tờ 6a).
Chúng ta để ý trong Hán văn xưa,
không có chấm, phẩy...Tùy theo mạch văn mà ngừng
lại cho trọn nghĩa của câu. Trong đoạn văn trên,
nếu ngừng ở chữ Sách, thì câu văn sẽ như sau :"Châu
Diên Lạc Tướng tử, danh Thi Sách" nghĩa là : "Con
trai Lạc Tướng huyện Châu Diên tên là Thi Sách",
và câu kế : "Mê Linh Lạc Tướng nữ danh Trưng Trắc
vi thê"nghĩa là : "Con gái Lạc Tướng huyện Mê -
Linh tên là Trưng Trắc là vợ". Nhưng Thái Tử Hiền,
con vua Cao Tông nhà Đường, khi bị bà Võ-Tắc-Thiên
đày ra vùng quan ngoại, vào thế kỷ thứ 8, ông đã
ngồi đọc lại sách sử và chú thích như sau: "Cứu
Triêu Nhất Thanh viết sách thê do ngôn thú thê" (tra
cứu theo Triệu Nhất Thanh thì chữ Sách Thê là cưới
vợ). Do đó, câu văn trên phải ngừng ở chữ Thi : "Châu
Diên Lạc Tướng tử danh Thi" (Con trai Lạc Tướng
huyện Châu Diên tên Thi) và : "Sách Mê Linh Lạc
tướng nữ danh Trưng Trắc vi thê" (Đi hỏi con gái
Lạc Tướng huyện Mê-Linh tên là Trưng Trắc làm vợ).
Đọc tiếp đoạn Hán văn trên, chúng ta thấy :"Trắc
vi nhân hữu đảm dũng, tương Thi khởi tặc. Mã Viện
tương binh thảo. Trắc, Thi nhập Cấm Khê" (Trắc là
người có can đảm và dũng lược, cùng với Thi nổi
lên làm giặc. Mã Viện đem quân đánh đuổi. Trắc,
Thi chạy vào Cấm Khê). Do chổ sai lầm đó mà về sau
các sách sử viết tên chồng Trưng Trắc là THI -
SÁCH. Sự lầm lẫn này khởi đi từ sử gia Trung-Quốc
là Phạm Việp, trong sách Hậu Hán Thư, quyển 54,
trang 747, cột 3, Ông viết : "Trưng Trắc giả, Mê
Linh huyện Lạc Tướng chi nữ dã, giá vi Châu Diên
nhân Thi Sách thê, thậm hùng dũng" (Trưng Trắc là
con gái Lạc Tướng huyện Mê-Linh được gả làm vợ cho
một người huyện Châu Diên là Thi Sách, bà rất hùng
dũng).
Dựa vào đó, các sử gia Việt-Nam như Ngô-Sĩ-Liêm
trong Đại-Việt Sử-Ký Toàn Thư hoặc Lý Tế Xuyên
trong Việt-Điện U-Linh Tập (một chuyện hoang đường)
cũng gọi chồng bà Trưng-Trắc là Thi-Sách, họ đều
trích dẫn từ sách Hậu Hán Thư của Phạm Việp, nhưng
họ không để ý đến phần chú thích của Thái Tử Hiền
ở phần cuối sách. Từ đó, mới xuất hiện tên Thi
Sách trong lịch sử...
Ngoài ra, theo Học-giả Thái-Văn-Kiểm ở Paris trong
tác-phẩm Việt-Nam Gấm Hoa nơi trang 233 cũng như
Phạm-Văn-Sơn và các sử gia khác thì cho rằng
Thi-Sách họ Đặng.
Trái lại, quyển Đường Phố Hà Nội, nơi trang 427,
ngọc phả đình Nại-Xá-Nam, huyện Đan-Phượng, lại
ghi Thi-Sách họ Dương, bởi vì, con của
Dương-Thái-Bình và Hồ-Thị-Nhữ, chính quê làng này...
Xin các bậc cao minh cho ý kiến đâu là sự thật, để
bổ túc cho ký tái bản đầy đủ và trung thực hơn,
xin đa tạ trước.
Nguyên nhân đưa đến chống giặc ngoại xâm phương
Bắc :
Căn cứ theo sách của Trung Hoa và Việt-Nam viết về
lịch sử nước nhà liên quan đến Trưng Nữ Vương
chống giặc ngoại xâm phương Bắc rất nhiều, chúng
ta có thể viết ra đây hết được, tuy nhiên có thể
đưa đến sự tổng quát như sau : Hai Bà Trưng sanh
đôi vào ngày mùng 1 tháng 8 năm Giáp Tuất nhằm năm
14 sau Tây Lịch tức thế kỷ thứ nhứt, quê quán ở
Châu Phong. Người chị tên Trưng Trắc, người em tên
Trưng Nhị.
Năm Giáp Ngọ nhằm năm 34 Bà Trưng Trắc được 20
tuổi, lập gia đình với Ông Đặng-Thi-Sách cũng là
năm này, Tô-Định được đề cử sang thay Tích Quang
làm Thái Thú ở Giao-Chỉ. Trước kia, có hai quan
Thái Tú là : Tích Quan ở Giao Chỉ và Nhâm Diên ở
Cửu Chân, dùng lối sống của người Hán để biến cải
phong hóa Lạc-Việt, từ việc lấy chồng, cưới vợ cho
đến y phục, cũng như cách cày cấy làm ruộng v.v
Đến khi Tô-Định sang làm Thái Thú Giao Chỉ, thì ra
lệnh thi hành chánh sách cai trị rất tàn ác, bằng
chứng Mã-Viện sau này đã nhận xét Tô Định là kẻ
tham tàn chỉ biết "dương mắt nhìn đồng tiền, nhắm
mắt làm việc càn" (Đông Quán Hán Ký).
Ngoài ra, các sách như : Hậu Hán Thư, Thái Bình
Hoàn Vũ Ký, Việt-Kiều Thư ...cũng đều đồng ý Trưng
Trắc là người anh hùng, vì không chịu nổi chánh
sách tàn bạo của Tô-Định, nên cùng chồng là
Đặng-Thi-Sách khởi nghĩa chống lại chánh sách hà
khắc đó.
Đặc biệt nơi chú thích Hậu Hán Thư còn viết : Vào
thế kỷ thứ 8, Thái Tử Hiền có nói đến một chi tiết
nguyên nhân đưa đến cuộc khởi nghĩa của hai chị em
Bà Trưng cùng chồng là Ông Đặng-Thi-Sách. Ông viết
như sau : "Giao Chỉ thái thú Tô Định, dĩ pháp
thằng chi, Trắc oán nộ, cố phản " tức "Thái thú
Giao-Chỉ Tô-Định, lấy luật Pháp mà ràng buộc, nên
Trắc tức giận, chống lại" Qua những dẫn chứng ở
trên, chúng ta thấy rằng việc khởi nghĩa chống lại
thái thú Tô-Định của các người con của Lạc Tướng
Mê-Linh và Chu Diên là khởi đầu khai chiến từ đấy
và Trưng Trắc được bà mẹ hết lòng giúp đở, giao
thiệp với các Quan Lang, Lạc Tướng trong vùng và
kế cận cùng chiêu mộ nghĩa binh để đánh lại giặc
phương Bắc. Cuộc khởi nghĩa chánh thức có thể bắt
đầu năm 39 Kỷ Hợi và sau này được các quận Cửu
Chân, Nhật-Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng.
Theo sách Thủy Kinh Chú của Lệ-Đào-Nguyên, khoảng
thế kỷ thứ 6 có viết, xin trích dẫn lại đoạn đã
dẫn ở các trang trước như sau : "Trắc vi nhân hữu
đảm dũng, tương Thi khởi tặc. Mã Viện tương binh
thảo. Trắc, Thi tẩu nhập Cấm Khê" (Trắc là người
có can đảm và dũng lược, cùng với Thi nổi lên làm
giặc. Mã Viện đem quân đánh đuổi. Trắc, Thi chạy
vào Cấm Khê). Do vậy, chúng ta có nhận định trung
thực rằng : "Cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng và
Thi Sách là vì chánh sách cai trị tàn bạo, bất
nhân của Thái Thú Tô-Định, đã đem luật pháp của
người Đông Hán, bắt dân Lạc Việt phải thi hành. Đó
là, chánh nghĩa sáng ngời của dân tộc Lạc-Việt
chống lại sự cai trị của ngoại bang"
Đầu năm Canh Tý 40, chồng Bà Trưng Trắc là
Thi-Sách bị Thái Thú Tô-Định giết, nhưng tấm lòng
ái quốc, thương chồng không làm bà sờn lòng nản
chí, mà còn nung đúc tinh thần và quyết tâm cùng
em là Bà Trưng Nhị quyết tâm tiến hành cuộc khởi
nghĩa lan rộng để đánh đuổi giặc ngoại xâm đô hộ
để cứu nước và trả thù nhà. Bằng chứng, theo đoạn
văn của Ngô Sĩ Liên viết, xin trích dẫn như sau :
"Canh Tý nguyên niên, Hán Kiến Vũ thập lục niên,
xuân, nhị nguyệt.
Vương khổ thái thú Tô-Định thằng
dĩ chính, cập thù Định sát kỳ phu, nãi dữ muội Nhị,
cử binh công hãm châu trị" (Năm Canh Tý 40 năm đầu,
năm thứ 16 hiệu Kiến Vũ nhà Hán, mùa Xuân, tháng
hai. Vương đau lòng vì Tô-Định lấy chánh pháp ràng
buộc, lại căm thù vì Định đã giết mất chồng, bèn
cùng em gái là Nhị cử binh đánh phá châu trị).
Tháng 3 năm Canh Tý 40 hai Bà Trưng mới công khai
dựng cờ khởi nghĩa xuất quân tại Mê-Linh để đánh
thái thú Tô-Định, Tô Định thua chạy về Tàu và
chiếm được 65 thành, đến ngày Rằm tháng Giêng năm
Tân Sửu 41 mới xưng vương (có sách viết ngày mùng
6 tháng Giêng năm Tân Sửu 41 và có sách lại viết
năm Canh Tý 40, có lẽ tính từ ngày hai Bà lập bàn
thề để ra quân vào tháng 3 năm 40 chăng ?).
Theo Đại Việt Sử Ký Tiền Biên, xin trích dẫn đoạn
viết lúc hai bà xuất quân như sau : "Lúc xuất quân,
tang chồng chưa hết, bà trang điểm rất đẹp, các
tướng hỏi, bà nói : Việc binh không để ảnh hưởng.
Nếu giữ lễ mà làm xấu dung nhan, thì nhuệ khí tự
nhiên suy kém, cho nên ta mặc đẹp để mạnh thêm màu
sắc của quân và khiến bọn giặc trông thấy động
lòng, lợi là chí tranh đấu, thì dễ giành phần
thắng..." .Và Bà Trưng Trắc lên đàn thề, xin trích
dẫn trong Thiên Nam Ngũ Lục như sau :
Một xin rửa sạch quốc thù,
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng,
Ba kẻo oan ức lòng chồng,
Bốn xin vẹn vẹn thừa công lệnh này.
Hai Bà lên làm vua chỉ đến ngày 6 tháng 2 năm Quý
Mão 43 thì chết, bởi vì bị vua nhà Hán cử Mã Viện
là một lão tướng, bách chiến bách thắng và được
gọi là "Phục ba tướng quân" (vị tướng dẹp yên được
sóng gió), nên cuối cùng hai bà phải nhảy xuống
sông Hát Giang (tức đoạn sông Đáy tiếp nối với
sông Hồng) tự tử vào ngày mùng 6 tháng 2 năm Quý
Mão 43.
Đối với cái chết của hai Bà có nhiều giả thuyết,
theo thần tích làng Hạ Lôi, xin trích dẫn như sau
: "Bà Trưng Nhị tử trận, Bà Trưng Trắc lên núi Hi
Sơn (núi Hùng) hóa". Rất có thể Bà Trưng Trắc bị
thương nặng rồi mới tự trầm mình nơi sông Hát
Giang. Còn Bà Trưng Nhị bị tử trận nơi khác. Sau
khi hai Bà hy sinh, có thể Mã-Viện tìm lấy thủ cấp
của hai Bà đem về Tàu hoặc là lấy thủ cấp của hai
người khác thay thế, làm sao Hán Quang Vũ phân
biệt được hư thực?
Ngoài ra, theo Lưu Long Truyện (Hậu Hán Thư) viết
: Lưu Long đã chém đầu Bà Trưng Nhị ở Cấm Khê, còn
Mã-Viện Truyện (Hậu Hán Thư) viết : Mã viện chém
đầu hai bà đem về Lạc Dương.
Còn một giả thuyết nữa, theo quyển Đường Phố Hà
Nội và Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội viết : Năm
1142, dân làng Đồng Nhân thấy hai pho tượng đá do
khí anh linh của hai bà kết thành, trôi trên sông
trong tư thế giơ cao hai tay như vẫy vùng trong ba
quân... (còn nhiều giả thuyết nữa).
Đó là, những giả thuyết khó ai biết được trung
thực cái chết của hai Bà như thế nào? chết cùng
một nơi hay xa cách nhau? Và ngày mùng 6 tháng 2
hay mùng 8 tháng 3 năm 43 Quý Mão hai Bà chết ?
Chỉ biết hai Bà thọ được 29 tuổi. Tuy nhiên, cái
chết của hai Bà bằng cách nào đi nữa cũng là tấm
gương anh hùng chống ngoại xâm phương Bắc, giành
độc-lập cho nước Lạc-Việt lúc bấy giờ và rửa hận
thù chồng bị giặc giết đáng được tôn thờ. Bằng
chứng hằng năm nơi đền chánh thờ hai Bà tại Hát
Môn cũng như các đền phụ nơi khác như : Cấm Khê,
Mê Linh, Yên Cư, Hạ Lôi... đều cúng giỗ chánh vào
ngày mùng 8 tháng 3 ....
Ảnh đền thờ hai Bà Trưng
Đặc biệt, trước đền thờ hai bà tại Hát Môn có câu
đối :
Đồng trụ chiết hoàn, Giao lĩnh trĩ,
Cấm Khê doanh hác, Hát giang trường.
nghĩa là :
Cột đồng đã gãy, núi Giao vẫn còn cao,
Ngọn Cấm Khê vẫn đầy, dòng sông Hát vẫn chảy.
Và tất cả các đền thờ hai Bà đều có tục cấm dùng
màu đỏ, bởi vì màu đỏ tượng trưng cho màu hai Bà
mất vì binh đao, các đồ thờ đều sơn màu đen, dân
địa phương kiêng cử màu đỏ, khách thập phương đến
dự lễ mặc áo phải cởi áo ra để ngoài đền mới được
vào cúng.
Ảnh đền thờ hai Bà Trưng tại thành Cổ Loa
Khi Mã Viện thắng được Trưng Nữ Vương và khi rút
quân trở về Tàu, tới biên giới hai nước, Mã Viện
cho dựng một cột đồng, trên khắc 6 chữ : "Đồng trụ
chiết Giao Chỉ diệt"ý nói "Cây trụ đồng này đổ thì
dân Giao Chỉ bị mất".
Đó là, lời hăm dọa kẻ mạnh của giặc phương Bắc nhà
Hán lúc bấy giờ, người dân Giao-Chỉ thấy buồn lòng
và ngao ngán cho nước Lạc-Việt, chỉ âm thầm chống
đối, bằng cách mỗi người đi qua nơi cột trụ đồng
mang theo vài cục đá để bỏ xuống, cứ thế cột trụ
đồng bị đá phủ ngập chôn dùi, bây giờ không còn
biết chỗ nào.
Để ghi lại công trận của Trưng Nữ Vương, xin trích
dẫn trong Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca sau đây :
Bà Trưng quê ở Châu Phong,
Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời thề,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.
Ngàn Tây nổi áng phong trần,
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên.
Hồng quần nhẹ bước chinh yên,
Đuổi ngay Tô-Định, dẹp yên biên thành.
Đô Kỳ đóng cõi Mê-Linh,
Lĩnh Nam riêngmột triều đình nước ta.
Ba thu gánh vác sơn hà,
Một là báo phục, hai là bá vương.
Uy danh động đến Bắc phương,
Hán sai Mã-Viện lên đường tiến công.
Hồ-Tây đua sức vẫy vùng,
Nữ nhi chống với anh hùng được nao?
Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo,
Chị em thất thế phải liều với sông ...
Trở lại, sự cai trị của thái thú Tô-Định trước kia,
đã làm cho dân tộc Lạc-Việt lúc bấy giờ phải khốn
khổ, bởi vì sự cai trị quá tàn bạo, bất nhân bằng
chứng bắt buộc phải theo phong tục tập quán của
nhà Hán để hủy diệt các phong tục tập quán của
Lạc-Việt và còn phải bắt tìm kiếm các ngà voi trên
rừng, châu báu dưới biển, kể cả trống đồng để
triều cống cho Hán Vương bản xứ. Vì thế Trưng Nữ
Vương hiệp cùng chồng là Đặng-Thi-Sách chống lại
chánh sách vô nhân của giặc Hán phương Bắc, đại
diện là thái thú Tô-Định.
Nhân nhắc đến Trống Đồng, xin trích dẫn từ trang
158 đến trang 160 quyển Thượng trong tác-phẩm "Tìm
Hiểu Tử Vi Đẩu Số và Điạ Lý" của tác-giả để quý bà
con nhàn lãm như sau : "Chúng ta được biết trống
đồng biểu tượng cho dân tộc Việt đã có từ đời Hùng
Vương, đã được nhiều nhà sưu khảo tìm ra gốc tích
các trống đồng từ thời tiền sử thuộc nền văn minh
Đông Sơn như : Hoàng Hạ và Ngọc Lũ (các cuộc đua
ghe trên hồ Động Đình và trên sông Tương, sông
Nguyên, rước thần mặt Trời, có vũ bộ, trống chiêng,
chày cối, các chiến sĩ giương cung bắn về phía mặt
Trời ở đầu thuyền, tất cả tiết mục đều có ghi khắc
nơi hông trống đồng Hoàng Hạ và trên mặt trống
đồng Ngọc Lũ).
Theo giáo-sư Bửu Cầm minh giải một
bài nghiên cứu của học-giả Trung Quốc
Lăng-Thuần-Thanh, đăng trong Đài Loan Đại Học Văn
Sử Triết Học Báo, năm 1950 thì : "Trống Đồng đã
xuất hiện ở miền trung du Trường Giang " tức là
vùng đất chung quanh đầm Vân-Mộng, thuộc hai tỉnh
Hồ Bắc và Hồ Nam do giống In-đô-nê-diên (người
Trung Hoa gọi Ấn-đô-ni-tây-an) mà cổ sử Trung Quốc
gọi là Bộc-Việt hoặc Lão-Việt, chế tạo từ 6 thế kỷ
trước Tây-Lịch.
Ngoài ra, họ Lăng đã chứng minh trống đồng không
những chỉ được tìm thấy ở Việt-Nam, mà còn tìm
thấy khắp miền Tây Hoa Nam, cho tới Vân Nam và Tứ
Xuyên, nguyên là địa bàn cư trú của người Việt xưa,
trước khi họ tràn xuống bán đảo Đông Dương, với
những làn sóng Nam tiến, mằ đặc biệt là của
Thục-An-Dương vào thế kỷ thứ 3 trước Thiên Chúa.
Nói một cách khác, trống đồng là một sản phẩm của
dân tộc Việt, không phải của dân-tộc Hán.
Riêng các bản văn vào đời Đường ở Trung Hoa
(618-906), cũng xác nhận nước Việt-Nam đã phát
hiện các trống đồng, lúc bấy giờ đang bị sự đô hộ
của Tàu (Hán) và một số trống đồng bị người Tàu
lấy, một số người Việt mang đi đem chôn giấu, bởi
vì trống đồng xem như bảo vật của đất nước và cái
kho tàng trân quý đó sau này được đào lên để lập
miếu thờ trống đồng. Bằng chứng từ vua
Lý-Thái-Tông đã dựng miếu thờ thần Đồng Cổ Sơn,
sau chùa Thành Thọ, hằng năm cứ đến ngày mùng 4
tháng 4, thì lập đàn trước miếu để cúng bái rất
linh-đình, trang trọng và còn thề như sau : "Vi
thần tận trung, vi quan thanh bạch"
Theo truyền thuyết, ngày xưa vua Hùng Vương đi
đánh Chiêm Thành đóng quân ở núi Khả Lao, đêm nằm
mộng thấy thần mách bảo vua rằng : "Thần sẽ đánh
trống đồng giúp nhà vua thắng trận" quả nhiên khi
ra trận, nhà vua nghe văng vẳng trên không có
tiếng trống đồng, làm cho quân lính Chiêm-Thành
khiếp sợ vì tưởng quân binh của nhà vua kéo đến tứ
phía, từ dưới đất và trên trời đều có cả, cho nên
quân Chiêm-Thành phải bỏ chạy, cuối cùng nhà vua
đánh thắng trận một cách dễ dàng. Từ đó, nhà vua
bèn sắc phong trống đồng là Đồng Cổ Đại Dương."
Ở Việt-Nam còn tìm thấy được các trống đồng được
biết như sau : Khoảng năm 1888 có một tù trưởng
người Mường tìm được trống đồng ở vùng sông Đáy,
đến năm 1924 ở làng Đông Sơn gần sông Mã, thuộc
tỉnh Thanh Hóa đã đào tìm được trống đồng, nên gọi
là trống đồng Đông Sơn và mãi đến năm 1935 người
ta mới đến vùng Đông Sơn, để khai quật thì tìm
được các trống đồng Lạc-Việt, các lưỡi kiếm bằng
đồng kiểu cổ và những đồng tiền thời Vương Mãng
của giặc phương Bắc đời nhà Hán vào thế kỷ thứ
nhứt cùng thời với hai bà Trưng.
Hàn
Lâm Nguyễn Phú Thứ |