|
TRUYỀN THUYẾT LỊCH SỬ
[9/2011]
(Trần-Đăng Hồng & Nguyễn Thị Kim-Thu)
Từ bao ngàn năm, người Tàu tự cho dân tộc Đại Hán
của họ là văn minh nhất, đất nước Trung Hoa là
trung tâm của thế giới, các nước chung quanh là
man di, cần phải được người Tàu đô hộ và khai hóa.
Từ thời lập quốc, dưới thời đại Hùng Vương, theo
Việt Kiệu Thư ghi chép thì người Tàu gọi người
Việt là Man, nghĩa là man di mọi rợ, mặc dầu dân
Lạc Việt có trình độ văn minh không thua kém hay
còn hơn nước Tàu trong vài lãnh vực. Chẳng hạn,
dân Bách Việt đã sớm biết đúc đồng, trồng lúa nước,
xử dụng voi, nỏ bắn hàng loạt tên bằng đồng một
lần trong chiến tranh, áo giáp bằng mây giúp nỗi
khi lội qua sông mà người Tàu phải học hỏi. Việt
Kiệu Thư viết: “Man di xưa ở nước Nam Việt thời
Tần rất mạnh, về phép dùng nỏ lại càng giỏi lắm,
một phát tên bằng đồng xuyên qua hơn chục người”.
Vì sống kế bên nước khỗng lồ đầy tham vọng bá chủ
với nhiều mưu mô xâm lược, dân Việt từ ngàn xưa
phải uyễn chuyễn đối phó, khi phải xử dụng chiến
tranh du kích, khi phải dùng tài ngoại giao để giữ
vững nền độc lập.
Chống quân xâm lược là nhiệm vụ của mọi công dân,
lịch sử còn ghi lại những lời nói khẳng khái như
“Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chém
cá tràng kình ở biển Đông, quét sạch bờ cõi để cứu
dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm bắt chước
người đời cúi đầu cong lưng làm tì thiếp người ta"
của bà Triệu Ẩu, hay “ Ta thà làm quỷ nước Nam,
chứ không thèm làm vương đất Bắc. Ta đã bị bắt thì
có một chết mà thôi, can gì mà phải hỏi lôi thôi”
của Trần Bình Trọng; hay “Nếu bệ hạ muốn hàng, xin
hãy chém đầu thần trước đã" của Trần Hưng Đạo, hay
" Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo"
của Trần Thủ Độ (Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng
Kim). Nhiệm vụ bão vệ tổ quốc không phân biệt tuổi
tác, thể hiện qua sự quyết tâm của các bô lão
trong hội nghị Diên Hồng, qua hành động căm hờn
giặc Nguyên mà bóp nát trái cam của cậu bé Trần
Quốc Toản, và ngay cả cậu bé 3 tuổi Phù Đỗng Thiên
Vương cũng vươn mình thành người lớn để đuổi giặc
Ân ra ngoài bờ cỏi.
Để cổ động tinh thần yêu nước và chính nghĩa bão
vệ tổ quốc, tỗ tiên ta đã xữ dụng chiến tranh
chính trị, nước Tàu không có lý do gì để xâm lược
nước ta, như câu nói khẳng định nền độc lập của
quốc gia nước Việt của Lý Thường Kiệt:
Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế cư
Tuyệt nhiên định phận tại Thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
(Lý Thường Kiệt)
hay các câu trong trong bài hịch “Bình Ngô Đại Cáo”
của Nguyễn Trãi,:
….
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên; mỗi bên hùng cứ một
phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.
….
(Trích từ Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, bản
dịch Ngô Tất Tố).
Ngoài việc cỗ động tinh thần chống ngoại xâm qua
lời nói hay thơ văn, và lời hịch, tổ tiên ta còn
xử dụng các chuyện có vẽ thần thoại cho chiến
tranh chính trị. Chúng ta ai cũng biết chuyện Phù
Đỗng Thiên Vương, chiếc nỏ thần trong huyền thoại
Mỵ Châu Trọng Thủy, hay vua Lê Lợi được thần Kim
Qui trao gươm báu (Hãy đọc Chuyện Con Rùa). Trong
lịch sử Việt Nam, cũng còn ghi nhiều huyền thoại
lịch sử khác trong chiến tranh du kích với quân
Tàu để tranh thủ sự ũng hộ của toàn dân.
Lĩnh Nam Chích Quái nói về Lạc Long Quân, trong đó
kễ: "Hễ dân có việc lại lớn tiếng gọi Long Quân
rằng "Bố ơi, bố ở đâu mà không lại cứu chúng con".
Long Quân tới ngay. Sự linh hiễn cảm ứng của Long
Quân, người đời không thể lường nổi".
Lý Bí chống quân nhà Lương, lên ngôi vào tháng 2
năm 544, xưng Nam Việt Đế, quốc hiệu Vạn Xuân, có
nghĩa “ý mong xã tắc được bền vững muôn đời” (Đại
Việt Sử Ký toàn Thư). Nhà Lương cử tướng Trần Bá
Tiên xâm lược nước Vạn Xuân. Lý Nam Đế thua và
chạy đến động Khuất Liêu (546), rồi chết ở đó
(4/548). Anh của ông là Lý Thiên Bảo chạy được vào
Cửu Chân, tìm đường khởi nghĩa.
Nghe tin Lý Nam Đế mất, tướng Triệu Quang Phục ,
xưng vương hiệu Triệu Việt Vương, dùng du kích
chiến từ căn cứ ở Đầm Dạ Trạch ,thuộc Chu Diên (thuộc
huyện Khoái Châu, Hưng Yên bây giờ), đánh với quân
Lương. Theo truyền thuyết, Triệu Quang Phục ăn
chay, lập đàn cầu đảo ở giữa đầm thì thấy Chử Đồng
Tử cưởi rồng hiện xuống cho móng rồng gắn trên mũ
đâu mâu, nhờ đó đánh đâu thắng đó, lấy lại thành
Long Biên (Hà Nội bây giờ). Quân Lương chạy về Tàu,
Triệu Quang Phục làm vua tới năm 571.
Trong lúc đó, theo Việt Điện U Linh Tập, Lý Thiên
Bảo chạy đến động Dã Năng thuộc Cửu Chân, tại
nguồn con sông Đào giang (Sông Mã?). Ông thấy vùng
này xinh dẹp, đất đai rộng lớn và mầu mỡ có nhiều
sản vật, bèn xây một cái thành ở lại đây. Dân
chúng nghe tiếng quy tụ theo càng ngày càng đông,
đức năng lan ra khắp nơi xa gần. Đất nước Dã Năng
từ đó được thành lập và Thiên Bảo được tôn làm Đào
Lang vương. Khi ông mất năm 555, không có người
thừa kế, mọi người bèn tôn tộc tướng Lý Phật Tử
lên thay. Lý Phật Tử rời động về đồng bằng. Lý
Phật Tử cho con trai là Nhã Lang lấy con gái Triệu
Quang Phục là Cảo Nương. Nhã Lang lừa Cảo Nương
đánh cắp móng rồng rồi trốn về với cha mưu đem
quân đánh Triệu Quang Phục. Năm 571, Lý Phật Tử
đem quân đánh úp Triệu Quang Phục, chiếm lấy cả
nước, đóng đô ở Phong Châu. Làm vua được 32 năm
thì bị nhà Tùy xâm lăng, diệt, và nước ta lại vào
tròng đô hộ của Tàu (năm 602).
Truyền thuyết nước Dã Năng tương tự như huyền
thoại Đào Nguyên của Tàu. Ta không biết huyền
thoại Dã Năng Đào Nguyên được chính Lý Phật Tử xử
dụng hay là các sử gia đời sau đưa ra để biện minh
cho việc giết Triệu Quang Phục. Tuy nhiên, đây quả
là một biện pháp tuyên truyền hửu hiệu nhất. Lý
Thiên Bảo bỏ chạy vào rừng núi Cửu Chân và mất
tích trong nhiều năm không có liên lạc gì với vùng
đồng bằng, và để Triệu Quang Phục đơn độc chống
quân xâm lược. Lý Phật Tử vì vậy phải đưa ra một
giải thích nào đó khiến cho dân chúng chấp nhận sự
chính thống của mình khi chiếm lại thành quả chống
quân Tàu của Triệu Quang Phục. Một nơi như là Đào
Nguyên chính là một nơi lý tưởng, một thiên đàng
nơi tiên cảnh, khi ở đó con người không biết
chuyện gì xảy ra dưới trần thế. Bằng cách mô tả
khu động Dã Năng hầu như giống hệt Đào Nguyên của
Tàu, Lý Phật Tử đã khẳng định Dã Năng và Đào
Nguyên đều là hai nơi bên ngoài trần thế và vì vậy
Ông không biết ở trần thế có Triệu Quang Phục đánh
đuổi được quân Tàu, và khi trở lại trần thế Ông
mới là chính thống để thừa nghiệp đế vương từ Lý
Nam Đế.
Để đả phá quan niệm là dân Tàu tài giỏi hơn do
người Hán tuyên truyền, tổ tiên ta đã đặt ra huyền
thoại Lý Ông Trọng, chứng minh rằng dân Việt tài
giỏi hơn.
Theo Lĩnh Nam Chích Quái, vào thời An Dương Vương
(257 -205 trước Tây Lịch), vua Hùng thứ 18, Lý Ông
Trọng (tên Lý Thân), ở huyện Từ Liêm, là một người
khổng lồ, có sức mạnh phi thường. Có lần thấy hai
con trâu đực đang húc nhau, ông nhảy vào giữa,
dùng hai tay, mỗi tay nắm sừng một con trâu mà kéo
ra thật xa. Nhân Tần Thủy Hoàng muốn mang quân
sang xâm lược, An Dưong Vương bèn mang ông sang
cống nhà Tần để cầu hòa. Thấy Lý Ông Trọng to lớn,
khỏe mạnh, lại giỏi võ, Vua Tần cho đấu với các vệ
sĩ Tàu thì Ông lần lượt vật ngã mọi người. Thủy
Hoàng mừng lắm phong ông làm chức Tư Lệ Hiệu Úy.
Ông giúp Tần thôn tính thiên hạ, lập nhiều công
to, ông được Thủy Hoàng sai mang quân trấn đất Lâm
Thao, uy danh lừng lẫy, Hung Nô không dám xâm phạm.
Sau ông cáo lão về lại LạcViệt. Hung Nô lại xâm
phạm, Thủy Hoàng cho người vời ông qua Tàu, ông
không chịu trốn vào rừng. Thủy Hoàng cho đúc đồng
dựng tượng của ông ở ngoài cửa Kim Mã, kinh thành
Hàm Dương, trong bụng có chỗ trống, chứa được mấy
chục người để làm chân tay cử động. Hung Nô trông
thấy tưởng ông còn sống, không dám phạm bờ cõi
nước Tần nữa. Lý Ông Trọng được người Tàu tôn thờ.
Huyền thoại Lý Ông Trọng không chỉ dừng ở đây, mà
còn tiếp tục nhiều thế kỹ sau đó.
Đời Đức Tông nhà Đường, niên hiệu Trinh Nguyên năm
đầu (khoảng thế kỹ thứ 7 sau Thiên Chúa), Triệu
Xương qua Đô Hộ nước An Nam. Trịnh Nguyên đêm mộng
thấy cùng Lý Ông Trọng nói chuyện trị dân, và
giảng luận sách Xuân Thu, Tả truyện, nhân đó Triệu
Xương mới hỏi thăm nhà cũ của ông hồi xưa. Khi đến
viếng thì chỉ thấy mù khói ngang trời, sông nước
mênh mông, rêu phong đường đá, xanh rời cụm hoang,
một mảnh nhàn vân phất phơ trên đám cỏ thôn hoa
rụng. Triệu Xương mới lập lại đền thờ, xưởng cao
lầu lớn, rồi chuẩn bị lễ vật đem đến tế.
Theo Việt Điểu U Linh Tập, lúc Cao Biền (821-887)
đánh nước Nam Chiếu, ông Trọng thường hiển linh
trợ giúp. Cao Biền lấy làm kinh dị, sai thợ trùng
tu tráng lệ hơn xưa, và chạm khắc tượng gỗ son
thếp giống như thực mà đem lễ vật đến tế, từ đó,
hương hỏa không khi nào hết. Đền này nay thuộc
huyện Từ Liêm, gần Hà Nội.
Một nhân vật khác được Cao Biền cho thờ phụng là
Cao Lộ, người Việt mà tổ tiên nhiều đời trước từ
phương bắc đến. Chính Cao Lộ là người làm ra nỏ
thần cho An Dương Vương. Theo Việt Điển U Linh Tập,
một đêm Cao Biền nằm mộng thấy Cao Lộ đến nói
chuyện. Biết rằng Cao Lộ bị các Lạc tướng dèm pha
nên bị An Dương Vương giết, Biền hỏi Cao Lộ vì sao
lại bị các Lạc tướng thù ghét đến như vậy, thì
được Lộ cho biét chỉ vì ông ta là người gốc phương
bắc (tức gốc Tàu) cho nên không được các Lạc tướng
chấp nhận. Cao Biền là một nhà địa lý, biết phong
thủy, biết làm bùa yểm âm binh, dùng âm binh để
phá núi, đào sông, biết cởi diều giấy đi khắp lảnh
thổ Việt Nam trấn yếm long mạch đế vương, để dân
Việt không thể ngóc đầu, mãi mãi làm nô lệ cho Tàu.
Để đả phá lòng dễ tin của dân Việt vào tài Cao
Biền, tổ tiên ta đã đặt ra huyền thoại Thần sông
Tô Lịch (Hà Nội) cao tay ấn hơn, để hạ nhục tài
cán của Cao Biền và đó là lý do tại sao Biền phải
trở về Tàu trong thất bại. Theo Lĩnh Nam Chích
Quái và Việt Điện U Linh Tập, một buổi sáng, Biền
ra đứng trên thành, nhìn ra sông Tô Lịch thấy một
trận gió lớn nổi lên, sóng nước cuồn cuộn, mây
trời mờ mịt, có một dị nhân đứng trên mặt nước,
mình cao hai trượng, mặc áo vàng, đội mũ tía tay
cầm hốt vàng rực rở trên một khoảng trời, chập
chờn lên xuống trong không gian. Mặt trời lên đến
ba con sào, khí mây vẫn còn chưa tan. Biền rất
kinh dị, muốn yểm thần. Đêm nằm mộng thấy thần đến
bảo rằng:
“Chớ yểm ta, ta là tinh Long Đế đứng đầu các địa
linh, ông xây thành ở đây, ta chưa được gặp nên
tới xem đó thôi, ta có sợ gì bùa phép”. Biền kinh
hãi. Sáng hôm sau, cho lập đàn, niệm chú, lấy kim
đồng thiết phù để yếm. Đêm hôm đó sấm động ầm ầm,
gíó mưa dầm dập, đất trời u ám, thần tướng hò reo,
kinh thiên động địa. Trong khoảnh khắc, kim đồng
thiết phù bắn ra khỏi mặt đất biến thành tro, bay
tan trong không. Biền kinh hãi nói rằng: "Xứ này
có thần linh dị, ở lâu chắc chuốc lấy tai vạ". Và
Cao Biền vội xách khăn gói về Tàu.
Đúng như Cao Biền nói, nước ta có địa linh, nhân
kiệt. Nước nào có ý định xâm lược nước Việt, hảy
đọc lại lịch sử các trận chiến ở ải Chi Lăng của
Lê Lợi, hai trận Bạch Đằng Giang của Ngô Quyền và
Trần Hưng Đạo, trận Đống Đa của Quang Trung để
khỏi chuốc nỗi nhục phải chui vào ống đồng chạy
trốn. Biển Đông sẽ là mồ chôn của quân xâm lược
trong tương lai.
Tài liệu trích dẫn:
Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim
Nhìn lại Sử Việt- Từ tiền sử đến tự chủ. Tiến sỉ
Lê Mạnh Hùng. Tổ hợp xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ.
2007.
Reading, tháng 8/2011
Trần-Đăng Hồng & Nguyễn Thị Kim-Thu
|
|