|
TỪ ĐẾ
QUỐC TẦN HÁN ĐẾN ĐẾ
QUỐC ĐẠI HÁN
Luật Sư Nguyễn Hữu
Thống
Ngày nay, cùng với
người Việt trong và
ngoài nước, chúng ta
thách thức Bắc Kinh
công khai đưa vụ
tranh chấp chủ quyền
các hải đảo và hải
phận tại Biển Đông
Hải, Biển Nam Hoa
hay Biển Đông Nam Á
ra trước các cơ quan
tài phán, trọng tài
hay tham vấn theo
thủ tục quốc tế.
Lịch Sử Trung Quốc
Thời Trung Cổ
Theo cuốn Lịch Sử
Trung Quốc Thời
Trung Cổ do Hàn Lâm
Viện Trung Quốc xuất
bản tại Đài Bắc năm
1978, trong bài
“Nghiên Cứu về Lịch
Sử và Địa Lý” học
giả Hsieh Chiao-Min
nhận định về cuộc
Thám Hiểm của Trung
Hoa tại Đại Dương
như sau: “Suốt chiều
dài lịch sử, về sự
phát triển văn hóa
và khoa học, dân tộc
Trung Hoa không tha
thiết đến đại dương.
Thản hoặc nhà cầm
quyền Trung Quốc
cũng gửi những đoàn
thám hiểm đại dương
đến Nhật Bản trong
các thế kỷ thứ ba và
thứ hai Trước Công
Nguyên, cũng như tại
Đông Nam Á, Ấn Độ và
Phi Châu trong thế
kỷ 15. Điểm rõ nét
nhất là tại Thái
Bình Dương có rất ít,
nếu không nói là
không có, những vụ
xâm nhập quy mô của
Trung Quốc” suốt
chiều dài lịch sử (từ
nhà Tần thế kỷ thứ
ba Trước C. N. đến
nhà Thanh từ thế kỷ
17 đến thế kỷ 20).
Chiao-Min Hsieh.
Chinese History
Middle Ages: China
Academy, Taipei,
1978, p. 287).
Dưới đời nhà Tần,
cuốn Tần Chí tường
thuật rằng năm 211
Trước C.N. Tần Thủy
Hoàng sai một phái
bộ gồm hàng ngàn
đồng nam đồng nữ (trai
gái tân) đi kiếm
những dược phẩm có
tác dụng đem lại
trường sinh bất tử
cho nhà vua tại đảo
Đại Châu Bất Tử
trong Đông Trung
Quốc Hải. Mặc dầu
vậy, Tần Thủy Hoàng
không bất tử mà đã
chết một năm sau đó.
Và chế độ quân phiệt
nhà Tần đã cáo chung
sau 15 năm thống trị
(221-206 Trước C.N).
Qua thế kỷ thứ hai
Trước C.N. Hán Vũ Đế
khởi công tìm kiếm
hệ thống lưu vực
Sông Tây Giang để mở
rộng con đường
thương mại từ Hàng
Châu đến Quảng Đông.
Sau khi thôn tính
Nam Việt năm 111
Trước C.N. nhà Vua
nối liền được những
tỉnh phía Tây Nam từ
Vân Nam qua Ấn Độ và
Nam Nga nhằm phát
triển ngoại thương
như xuất cảng vàng
lụa đến miền Tây Á
và La Mã trên Con
Đường Tơ Lụa.
Như vậy trong thời
Đế Quốc Thứ Nhất đời
Tần Hán (First
Empire), những cuộc
thám hiểm đại dương
tại Đông Trung Quốc
Hải và Biển Nhật Bản
không phải để chinh
phục vùng Biển Nam
Hoa nơi tọa lạc các
quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa.
Đặc biệt trong thế
kỷ 15, từ đời Minh
Thành Tổ (Vĩnh Lạc),
Đô Đốc Thái Giám
Trịnh Hòa đã 7 lần
thám hiểm Tây Dương
(Ấn Độ Dương). Và
trong 28 năm, từ
1405 đến 1433, đã
viếng thăm 37 quốc
gia duyên hải đến Ba
Tư, Biển Hồng Hải
phía tây bắc, Đông
Phi Châu phía cực
tây và Đài Loan phía
cực đông. Những cuộc
thám hiểm này chỉ đi
ngang qua Biển Nam
Hoa nhằm khai phá Ấn
Độ Dương. Lịch sử
Trung Quốc cũng phê
phán những cuộc thám
hiểm đại dương đời
nhà Minh vì đã làm
kiệt quệ kinh tế đất
nước. (The large
exploring
expeditions that
were to cross the
South China Sea and
explore the Indian
Ocean were
criticized by the
court as poor to (an
impoverishment of)
the country. Chiao-Min
Hsieh, Ibid, p.
290-291).
Những tài liệu lịch
sử nêu trên đã được
phổ biến tại Đại Hội
Quốc Tế về Sử Địa
Trung Quốc Kỳ I tại
Đài Bắc năm 1968 và
đã được đăng trong
cuốn Lịch Sử Trung
Quốc Thời Trung Cổ
năm 1978.
Như vậy theo chính
sử Trung Quốc suốt
từ thế kỷ thứ 3
Trước C.N. đến thế
kỷ 15, dưới 3 triều
đại Tần Thủy Hoàng,
Hán Vũ Đế và Minh
Thành Tổ không có
tài liệu nào cho
biết có các lực
lượng hải quân Trung
Quốc đi tuần thám để
hành sử và công bố
chủ quyền tại Biển
Đông Hải, Biển Nam
Hoa hay Biển Đông
Nam Á.
Đối chiếu lịch sử
Việt Nam và Trung
Quốc, sử sách ghi
chép rằng năm 214
Trước C.N., sau khi
thống nhất Trung Hoa,
Tần Thủy Hoàng sai
Đồ Thư đem quân thôn
tính các nước Bách
Việt để chia thành 3
quận: Nam Hải (Quảng
Đông), Quế Lâm (Quảng
Tây) và Tượng Quận (Bắc
và Trung Việt). (Nước
Việt ta thời đó có
nhiều voi: Bà Trưng,
Bà Triệu cưỡi voi
khởi nghĩa đánh nhà
Hán, nhà Ngô; Trần
Hưng Đạo phá quân
Nguyên, Quang Trung
đuổi quân Thanh cũng
ngồi trên mình voi
đánh giặc).
Tuy nhiên các dân
tộc Bách Việt không
chịu ách đô hộ tàn
bạo của nhà Tần. Họ
trốn vào rừng chiến
đấu và giết được Đồ
Thư.
Năm 207 Trước C. N.
Triệu Đà đánh thắng
An Dương Vương, rồi
sát nhập Âu Lạc vào
quận Nam Hải để
thành lập một quốc
gia độc lập đóng đô
tại Phiên Ngung (Quảng
Châu) lấy quốc hiệu
là Nam Việt (207-111
Trước C.N.). Qua năm
sau Lưu Bang cũng
đánh thắng Hạng Võ
và thành lập nhà Hán.
Chữ “hải” trong quận
Nam Hải không có
nghĩa là biển mà là
vùng đất xa xôi. Và
quận Nam Hải là vùng
đất phía cực Nam
Trung Quốc
(far-south). Cũng
như Thanh Hải là một
tỉnh phía cực Bắc và
cực Tây tiếp giáp
Cam Túc, Tân Cương
và Tây Tạng. Như vậy
Biển Nam Hải là vùng
biển của quận Nam
Hải thuộc tỉnh Quảng
Đông. Từ nguyên thủy,
Biển Nam Hải có tên
là Trướng Hải là
vùng biển của tỉnh
Quảng Đông, cách
huyện Hải Phong 50
dậm ta (lý) về phía
nam (khoảng 25km).
Theo Tân Từ Điển
Thực Dụng Hán Anh
xuất bản tại Hồng
Kông năm 1971 “Biển
Nam Hải là vùng biển
ven bờ chạy từ Eo
Biển Đài Loan tới
Quảng Đông” (The
Southern Sea
stretches from the
Taiwan Strait to
Kwantung. A New
Practical
Chinese-English
Dictionary, Hongkong
1971, p. 121)
Theo Từ Điển Từ Hải
xuất bản năm 1948
thì “Biển Nam Hoa
thuộc chủ quyền
chung của 5 quốc gia
là Trung Hoa, Pháp (Việt
Nam), Anh(Mã Lai),
Mỹ (Phi Luật Tân) và
Nhật (Đài Loan). Do
đó Biển Nam Hải
(Southern Sea) không
phải là Biển Nam Hoa
(South China Sea).
Sau này Trung Quốc
lợi dụng danh xưng
để mạo nhận rằng
Biển Nam Hải của
tỉnh Quảng Đông
chính là Biển Nam
Hoa của Trung Quốc.
Từ thế kỷ 15, các
nhà thám hiểm đại
dương và các nhà
doanh thương Âu, Á
như Tây Ban Nha, Bồ
Đào Nha, Hòa Lan,
Anh, Pháp, Ả Rập khi
vượt Đại Tây Dương
đến vùng biển tiếp
giáp Ấn Độ, muốn cho
tiện họ gọi vùng
biển này là Ấn Độ
Dương. Và khi qua Eo
Biển Mã Lai đến vùng
biển tiếp giáp Trung
Hoa họ cũng tiện thể
gọi vùng biển này là
Biển Nam Hoa (ngoại
nhân xưng Nam Trung
Quốc Hải).
Sự trùng điệp danh
xưng này của các nhà
địa lý Tây Phương
chỉ là sự ghi nhận
một tập quán về ngôn
ngữ hàng hải. Như
vậy tên Biển Nam Hoa
cũng như Ấn Độ Dương
không có tác dụng
công nhận chủ quyền
của Trung Hoa và Ấn
Độ tại các vùng biển
này. Nó chỉ ghi nhận
vị trí của Ấn Độ
Dương là vùng tiếp
giáp Ấn Độ, cũng như
Biển Nam Hoa là vùng
tiếp giáp miền Nam
Trung Hoa. Vả lại,
về diện tích, Biển
Nam Hải (hay Biển
Nam) chỉ rộng chừng
25km, trong khi Biển
Nam Hoa chạy từ bờ
biển Quảng Đông tới
bờ biển Nam Dương và
rộng tới 2000 km.
Trong những chuyến
hải hành Trịnh Hòa
chỉ dừng chân tại
hải cảng Chaban (Trà
Bàn hay Đồ Bàn) thủ
phủ Chiêm Thành.
Theo Giáo Sư John
King Fairbank tại
Đại Học Harvard, mục
đích những chuyến
công du này không
phải để cướp bóc hay
thôn tính lãnh thổ
mà chỉ nhằm thiết
lập bang giao với
hàng chục quốc gia
duyên hải tại Ấn độ
Dương.
(The Chinese
expeditions were
diplomatic not
commercial, much
less piratical or
colonizing ventures.
John King Fairbank,
China, a New
History, Harvard
University Press
1991, p. 138).
Như vậy, theo chính
sử Trung Quốc, từ
các đời Tần Hán,Tam
Quốc, Lưỡng Tấn, Nam
Bắc Triều, Tùy Đường,
Ngũ Đại, Tống Nguyên,
Minh Thanh, sử sách
không ghi chép việc
hải quân Trung Quốc
đi tuần thám Biển
Đông Hải để chiếm
hữu các quần đảo
Hoàng Sa, Trường Sa
đồng thời công bố và
hành sử chủ quyền
tại các quần đảo này.
Để có cái nhìn khách
quan trung thực,
chúng ta hãy kiểm
điểm khái quát những
điều kiện kinh tế,
xã hội, chính trị
của các triều đại
Trung Hoa từ đời nhà
Tần đến đời nhà
Thanh. Từ đó chúng
ta có thể nhận định
rằng Trung Quốc
không có điều kiện
khách quan và chủ
quan để thôn tính
Biển Đông Hải và
giành giật chủ quyền
các quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa.
Theo lịch sử Trung
Quốc Thời Trung Cổ,
trở ngại chính yếu
cho việc ổn định
chính trị và phát
triển kinh tế là
hiểm họa Hung Nô.
Thời Đế Quốc Tần Hán
Năm 221 Trước C.N.,
Nhà Tần thống nhất
đất nước, tập trung
quyền lực trong chế
độ độc tài quân
phiệt, bãi bỏ chính
sách phân chia ruộng
đất (tỉnh điền) và
chế độ tư tưởng
phóng khoáng thời
Bách Gia Chư Tử. Mặt
khác huy động toàn
dân vào việc xây đắp
trường thành chống
Hung Nô và xây dựng
cung điện nguy nga
như Cung A Phòng với
những hy sinh khủng
khiếp: 1 triệu viên
đá xây thành là 1
triệu người dân hy
sinh thân sống. Lịch
sử Trung Hoa kết án
Tần Thủy Hoàng là
một bạo chúa đã từ
bỏ quan niệm hòa
bình nhân ái của
Khổng Mạnh lấy dân
làm trọng, và coi
nhẹ chính quyền (dân
vi quý, quân vi
khinh). Vì quá lao
tâm lao lực, Tần
Thủy Hoàng chỉ trị
vì được 11 năm. Từ
đó với những âm mưu
tranh giành quyền
lực, cà thái tử lẫn
tể tướng đã phải
hoặc tự sát, hoặc bị
giết. Vua Tần Nhị
Thế cũng bị một viên
quan hoạn giết sau 4
năm trị vì. Dân 6
nước bị nhà Tần tiêu
diệt thời Chiến Quốc
cùng những dân công
khổ sai đã vùng đứng
lên tiêu diệt chế độ
nhà Tần năm 206
Trước C.N.
Lúc này tại miền Hoa
Nam, hải quân Trung
Quốc không lai vãng
đến vùng Biển Đông
Hải.
Kế nghiệp Nhà Tần là
Nhà Hán kéo dài hơn
4 thế kỷ trong đó có
14 năm Vương Mãng
tiếm vị (206 Trước
C. N. -220 Tây Lịch).
Sau cuộc Hán Sở
tranh hùng, Hán
Vương Lưu Bang thắng
Sở Vương Hạng Võ. Họ
Lưu khởi nghiệp từ
miền Hán Giang (một
chi nhánh của Dương
Tử Giang) đã trừ
được nhà Tần, diệt
được nhà Sở và thống
nhất Trung Hoa lên
ngôi lấy hiệu là Hán
Cao Tổ.
Trước đó một năm,
năm 207 Trước C. N.,
Triệu Đà cũng đã lên
ngôi hiệu là Triệu
Vũ Vương sau khi
đánh thắng An Dương
Vương và sát nhập Âu
Lạc với quận Nam Hải
để thành lập nước
Nam Việt độc lập,
đặt thủ đô tại Phiên
Ngung (Quảng Châu).
Trong khi tại miền
Bắc, Hán Cao Tổ chỉ
trị vì được 11 năm,
thì tại miền Nam
Triệu Vũ Vương đã
chấn chỉnh và mở
rộng bờ cõi trong
suốt 70 năm (207-137
Trước C. N.). Năm
196 Trước C. N. Hán
Cao Tổ sai Lục Giả
sang phong tước cho
Triệu Vũ Vương.
Sau khi Hán Cao Tổ
mất bà Lữ Hậu lâm
triều lộng hành
không cho người Việt
mua các đồ sắt, điền
khí và trâu bò nái.
Triệu Vũ Vương xưng
là Triệu Vũ Đế rồi
cử binh đánh bại
quân nhà Hán tại
Trường Sa (Hồ Nam).
Sau khi Lữ Hậu mất,
Hán Văn Đế lại sai
Lục Giả sang thương
thuyết, yêu cầu
Triệu Vũ Đế bỏ đế
hiệu. Hán Văn Đế cam
kết rằng: “Tại miền
Hồ Quảng, từ phía
nam Ngũ Lĩnh và Động
Đình Hồ, Triệu Vũ
Vương được toàn
quyền cai trị”.
Đến năm 111 Trước C.
N., khai thác mâu
thuẫn giữa ba nước
Mân Việt, Đông Việt
và Nam Việt, Hán Vũ
Đế đã thôn tính Nam
Việt trái với lời
cam kết của các tổ
phụ và tiên vương
Hán Cao Tổ và Hán
Văn Đế.
Tuy nhiên, sau cái
chết của Hán Vũ Đế (năm
87 Trước C.N.), Nhà
Hán bắt đầu suy
thoái. Trong đời Hán
Nguyên Đế (48-33
Trước C.N.), quân
Nhà Hán đã phải rút
khỏi Châu Nhai và
Đạm Nhĩ (đảo Hải
Nam) cho đến cuối
thế kỷ thứ 6 đời
Lương, Tùy mới đặt
lại nền cai trị. Nếu
nhà Hán đã bỏ đảo
Hải Nam thì cũng
không lý vấn đến các
đảo Hoàng Sa và
Trường Sa tại Đông
Hải. (Hải Nam cách
Hoàng Sa 150 hải lý
hay 275 km)
Tiếp theo thời Đế
Quốc Tần Hán là Thời
Đại Phân Hóa Thứ
Nhất (First
Partition) với các
đời Tam Quốc, Lưỡng
Tấn và Nam Bắc Triều.
Thời Đại Phân Hóa
Thứ Nhất
Trong đời Tam Quốc
(220-265), với thế
chân vạc Ngụy, Thục,
Ngô, không nước nào
dám mạo hiểm và có
thực lực đi thôn
tính biển Đông Hải.
Trước kia có lần Tào
Tháo kéo quân dẹp
loạn Hung Nô phía
bắc. Chiến dịch này
đã bị các cố vấn
quân sự cho là quá
mạo hiểm vì có thể
đưa chế độ đến tiêu
vong trong trường
hợp Lưu Bị và Tôn
Quyền phối hợp từ
Thành Đô (Tây Thục)
và Kiến Nghiệp (Đông
Ngô) kéo quân đánh
úp Hứa Đô.
Thời Hán mạt Tào
Tháo mượn lệnh Hán
Đế đem 10 vạn quân (phóng
đại là 80 vạn) đi
xâm chiếm Đông Ngô
và đã bị Chu Du và
Gia Cát Lượng đánh
tan trong trận Xích
Bích năm 207.
Đến đời Nhà Tấn
(265-420) có loạn
Nhung Địch từ phía
tây bắc lũ lượt nổi
lên chiếm giữ cả
vùng Bắc Trường
Giang để xưng vương,
xưng đế tại cả thảy
16 nước gọi là loạn
Ngũ Hồ. Sau 50 năm
trị vì tại miền tây
bắc, nhà Tấn đã phải
lui về phía đông nam
để dựng nghiệp Đông
Tấn tại Nam Kinh.
Sau khi nhà Tấn mất
ngôi có nạn phân hóa
Nam Bắc Triều với 7
nước là Ngụy, Tề,
Chu phía bắc và Tống,
Tề, Lương, Trần phía
nam.
Do sự phân hóa này
Trung Quốc không còn
sinh khí. Đến đời
nhà Lương, tại Giao
Châu, Lý Bôn phất cờ
khởi nghĩa xưng là
Lý Nam Đế đặt quốc
hiệu là Vạn Xuân.
Sau đó Triệu Quang
Phục và Lý Phật Tử
kế nghiệp Nhà Tiền
Lý trong gần 60 năm
(từ năm 544 đến
602).
Thời Đế Quốc Tùy
Đường
Kế tiếp đời Nam Bắc
Triều, Nhà Tùy trị
vì được 30 năm, và
cùng với Nhà Đường
khởi sự Thời Đế Quốc
Thứ II (Second
Empire). Đây là thời
thịnh trị cả về kinh
doanh thương mại lẫn
văn học nghệ thuật.
Đường Minh Hoàng làm
thơ ca tụng Khổng
Tử. Các đại sư Huyền
Trang và Nghĩa Tĩnh
sang Ấn Độ thỉnh
kinh Phật. Các thi
sĩ nổi tiếng đời
Đường như Lý Bạch,
Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị,
Vương Duy đã chịu
ảnh hưởng sâu đậm
của các tư tưởng Lão
Trang, Khổng Mạnh và
Phật Giáo.
Tuy nhiên trong giai
đoạn thoái trào vào
thế kỷ thứ 8 có loạn
An Lộc Sơn với các
binh sĩ Ngũ Hồ từ
miền Bắc xâm chiếm
thủ đô Trường An.
Sự suy đồi của Nhà
Đường dẫn tới đời
Ngũ Đại kéo dài hơn
50 năm với 5 triều
đại đã có từ trước
như các nhà Hậu
Đường, Hậu Lương,
Hậu Tấn, Hậu Hán và
Hậu Chu. Vận dụng cơ
hội lịch sử này Ngô
Quyền kết tập binh
mã phá tan quân Nam
Hán năm 938 trong
trận hải chiến Bạch
Đằng Giang. Do đó,
từ năm 939, Việt Nam
được giải phóng khỏi
nạn Bắc Thuộc một
ngàn năm, mở đường
cho kỷ nguyên độc
lập với các nhà Ngô,
Đinh, Tiền Lê, Lý,
Trần, Lê và Nguyễn,
từ thế kỷ thứ 10 đến
thế kỷ 19.
Hồi giữa thế kỷ thứ
10, Đinh Bộ Lĩnh
bình định được Thập
Nhị Sứ Quân lên ngôi
hiệu là Đinh Tiên
Hoàng Đế. Tuy nhiên
triều đại nhà Đinh
chỉ kéo dài được hơn
10 năm, và đã bị kẻ
quyền thần sát hại
cả tiên hoàng lẫn
hoàng tử.
Thời Đế Quốc Lưỡng
Tống .
Thừa dịp này quân
Nhà Tống kéo sang
xâm chiếm nước Nam.
Để chống ngoại xâm
các tướng sĩ tôn
Thập Đạo Tướng Quân
Lê Hoàn lên làm vua.
Và năm 981 Lê Đại
Hành đánh thắng lục
quân nhà Tống với
Hầu Nhân Bảo và thủy
quân với Lưu Trừng
tại Bạch Đằng Giang.
Năm 1075, dưới đời
vua Lý Nhân Tông, Lý
Thường Kiệt và Tôn
Đản đem quân vượt
biên vây đánh Châu
Khâm, Châu Liêm tại
Quảng Đông và Châu
Ung tại Quảng Tây.
Qua năm sau nhà Tống
đem quân sang báo
thù. Nhưng một lần
nữa lại bị Lý Thường
Kiệt đánh bại trên
sông Như Nguyệt hay
Sông Cầu (Bắc Ninh).
Sau 3 lần dụng võ
thất bại, do trình
tấu của Hoàng Thân
Triệu Nhữ Quát, vua
Tống Thần Tông phải
theo chính sách
“Trọng Võ Ái Nhân” (thận
trọng việc võ bị,
thương xót mạng
người, không phơi
binh nơi lam chướng),
và đã thừa nhận nền
độc lập của Đại Việt.
Nhà Tống kéo dài từ
thế kỷ thứ 10 tới
thế kỷ 13
(960-1280). Qua thế
kỷ 12 nhà Tống bị
bao vây bởi Bắc Liêu
và Tây Hạ. Ngay từ
đầu thế kỷ 11 vua
nhà Tống đã phải
hàng năm triều cống
Bắc Liêu 10 vạn lạng
bạc và 20 vạn tấm
lụa. Tới đầu thế kỷ
12 (năm 1127) nước
Kim lấn chiếm toàn
cõi phía bắc Trung
Hoa khiến Vua Tống
phải bỏ miền bắc
thiên đô về Hàng
Châu (Chiết Giang)
gọi là Nam Tống. Đây
là một thời đại suy
vi kéo dài 150 năm.
Với sự phân hóa lãnh
thổ, suy thoái kinh
tế, và nhất là sau 3
lần thất trận tại
Việt Nam, Nhà Tống
không còn dòm ngó
đến Biển Đông Hải
với Hoàng Sa và
Trường Sa.
Thời Đế Quốc Nguyên
Mông
Qua thế kỷ 13 Trung
Quốc bị Mông Cổ thôn
tính trong gần 90
năm.
Trước đó trong chiến
dịch Tây Tiến, Thành
Cát Tư Hãn đã chiếm
giữ vùng Trung Á 6
ngàn dặm đến Hung
Gia Lợi và nước Nga
tại Bắc Âu và Ba Tư
tại Nam Á. Rồi quay
về chiếm nước Tây
Hạ, nước Kim và
Triều Tiên. Trước
đó, năm 1257 quân
Mông Cổ đánh Vân Nam
và tràn sang Việt
Nam. Tuy nhiên, với
quân dân một lòng,
nhà Trần đã đánh tan
quân Mông Cổ tại
Đông Bộ Đầu. Đây là
chiến thắng đầu tiên
của Việt Nam đối với
nhà Nguyên.
27 năm sau, năm
1284, con Hốt Tất
Liệt là Thoát Hoan
kéo 50 vạn quân sang
báo thù.
Trong Hội Nghị Diên
Hồng các bô lão đồng
thanh xin đánh. Dưới
sự lãnh đạo của Trần
Hưng Đạo, chỉ trong
vòng 6 tháng, từ
tháng 12-1284 đến
tháng 6-1285, quân
Đại Việt đã đánh
đuổi quân Nguyên ra
ngoài bờ cõi. Toa Đô
bị bắn chết, Ô Mã
Nhi bị đuổi quá gấp
phải một mình lẻn
xuống thuyền con
chạy trốn, và Thoát
Hoan phải chui ống
đồng lên xe chạy
thoát về Tầu.
Thời gian này Hốt
Tất Liệt đã có kế
hoạch thôn tính Quần
Đảo Phù Tang. Nay
quân Thoát Hoan đại
bại kéo về, Nguyên
Chủ phải đình chỉ kế
hoạch Đông Tiến. Và
hai năm sau, đầu năm
1287, Thoát Hoan lại
tập trung lực lượng
kéo 30 vạn quân sang
Đại Việt để báo thù
lần thứ hai.
Tuy nhiên, cũng như
lần trước, chỉ trong
vòng một năm quân
Mông Cổ đã mua lấy
thất bại. Ô Mã Nhi
lần này bị bắt sống
tại Bạch Đằng Giang.
Sau đó quân Trần
Hưng Đạo đại phá
quân Nguyên khiến
Thoát Hoan phải thu
tàn binh tháo chạy
về Yên Kinh. Và tại
Thăng Long, vua Trần
Nhân Tông đem các
tướng nhà Nguyên bị
bắt như Ô Mã Nhi,
Phàn Tiếp làm lễ
hiến phù tại Chiêu
Lăng. Đây là một
vinh dự cho Đại Việt
đã 3 lần đơn độc phá
vỡ kế hoạch Nam Tiến
(tại Việt Nam), đồng
thời ngăn cản cuộc
Đông Tiến (tại Nhật
Bản) của đoàn quân
mệnh danh là “bách
chiến bách thắng” từ
đời Thành Cát Tư
Hãn.
Và sau ba phen thất
bại, Nhà Nguyên
không còn dòm ngó
đến Việt Nam cả trên
lục địa lẫn ngoài
hải phận. Trong cuốn
“Tranh Chấp tại Biển
Nam Hoa” Marwyn S.
Samuels cũng xác
nhận rằng: “Trong
suốt thế kỷ 14, các
đội hải thuyền hùng
mạnh của Nhà Nguyên
có đi tuần tiễu,
nhưng tại Biển Nam
Hoa, các hải đảo
Hoàng Sa và Trường
Sa không bị chiếm
đóng và cũng không
thuộc chủ quyền lãnh
thổ của Trung Quốc”
(Marwyn S. Samuels:
Contest for the
South China Sea,
Methuen, London,
1982).
Như đã trình bày,
trong bài “Thám Hiểm
Đại Dương”, học giả
Hsieh Chiao-Min nhận
định rằng: “Suốt
chiều dài lịch sử,
dân tộc Trung Hoa
không tha thiết đến
đại dương”. Thuyết
bế quan tỏa cảng
được áp dụng từ đời
nhà Tần, Vạn Lý
Trường Thành không
chỉ là một kiến trúc
mà còn là một nhân
sinh quan. Miền bờ
biển được coi là nơi
hoang vu man rợ, đảo
Hải Nam là chốn lưu
đày các tù nhân biệt
xứ. Trong giả thuyết
“Cổ Tẩu sát nhân”
của Mạnh Tử (thế kỷ
thứ IV Trước C.N.),
vua Thuấn vào ngục
thất cứu cha là Cổ
Tẩu (phạm tội cố
sát) rồi cõng cha
chạy trốn về vùng bờ
biển để mai danh ẩn
tích đến trọn đời.
Sau khi chôn sống
460 nho sĩ tại Hàm
Dương, Tần Thủy
Hoàng lưu đầy tất cả
các nho sĩ đối kháng
tại miền bờ biển.
Trung Hoa là một đại
lục bao la, cả miền
Tây và miền Bắc đất
rộng mênh mông còn
chưa khai phá. Vậy
mà từ đời nhà Tần,
Trung Hoa đã tự cô
lập từ trong đất
liền đến ngoài đại
dương. Cho đến đời
nhà Thanh vào thế kỷ
19, chính sách bế
quan tỏa cảng vẫn
được thi hành.
Với tâm lý tự cô
lập, không thể có
100 ngàn quân nhà
Hán đi khai phá các
tiểu đảo san hô tại
Đông Hải. Rất có
thể, như đã trình
bầy, đó là 10 vạn
thủy quân của Tào
Tháo mượn lệnh Hán
Đế đi xâm chiếm Đông
Ngô và đã bị Chu Du
và Gia Cát Lượng
đánh tan trong trận
Xích Bích.
“Trung Hoa không bao
giờ là một cường
quốc đại dương. Dân
tộc Trung Hoa trong
4 ngàn năm chỉ sống
về ruộng đất với
những tập tục và
quan niệm sống của
nhà nông” (James
Fairgrieve,
Geography and World
Power, London,
1921).
“Với các đặc tính
của một dân tộc lục
địa, Trung Hoa không
phải là một cường
quốc đại dương. Chú
tâm của họ hướng về
đất liền tại miền
Trung Á hơn là ra
hải ngoại. Do đó các
kiến thức của họ về
biển cả và duyên hải
thật quá thô sơ”.
(E. B. Elridge, The
Background of
Eastern Sea Power,
Melbourne, 1948).
Đời Nhà Minh
Trong cuốn “Lịch Sử
Trung Quốc Thời
Trung Cổ” ghi trên,
học giả Hsieh
Chiao-Min ghi nhận
rằng, theo chính sử,
từ các thế kỷ thứ 3
và thứ 2 Trước C.
N., người Trung Hoa
chỉ đi tới Biển Nhật
Bản và Đông Trung
Quốc Hải. Họ không
nghĩ có đất liền bên
kia Thái Bình Dương.
Do đó mọi cuộc thám
hiểm đều hướng về
Tây Dương.
Mãi đến thế kỷ 15
dưới đời Minh Thành
Tổ (1403-1424) mới
có những vụ thám
hiểm đại dương từ
Đông Nam Á đến Ấn Độ
và Đông Phi .
Đồng thời với 5 cuộc
Bắc Chinh chống Hung
Nô, Minh Thành Tổ cử
Đô Đốc Thái Giám
Trịnh Hòa chỉ huy
những cuộc hành
trình tại Ấn Độ
Dương mệnh danh là
“Thất Hạ Tây Dương”
(Tây hay Tây Trúc
chỉ Ấn Độ và Tây
Dương là Ấn Độ
Dương).
Điều đáng lưu ý là
về 7 chuyến công du
tại trên 30 quốc gia
trong 28 năm (từ
1405 đến 1433),
chính sử Trung Hoa
cũng ghi rõ phái bộ
Trịnh Hòa chỉ đi qua
Biển Nam Hoa nhằm
thám hiểm Ấn Độ
Dương. Như vậy không
có chuyện phái bộ
Trịnh Hòa đến các
đảo Hoàng Sa và
Trường Sa để chiếm
hữu và hành sử chủ
quyền.
Theo chính sử do các
sử gia Trung Quốc
trên thế giới hội
nghị tại Đài Bắc năm
1968 và biên soạn
năm 1978 thì trong
các đời Tần Hán, Tùy
Đường, Tống Nguyên
và Minh Thanh, không
thấy một dòng chữ
nào đề cập việc
Trung Quốc đem quân
chiếm cứ các hải đảo
tại Biển Đông Hải.
Các chuyến hải hành
chỉ vụ vào việc bành
trướng thế lực ngoại
giao và phát triển
giao thương giữa
Trung Hoa với các
quốc gia Á Phi tại
Ấn Độ Dương và Biển
Ả Rập. Con đường
thương mại hàng hải
được thiết lập từ
Thời Phục Hưng hay
từ thế kỷ thứ 10,
với các dịch vụ về
tơ lụa, đồ sứ và
tiền đồng.
Tuy nhiên những
chuyến hải hành chỉ
nhằm phô trương
thanh thế cho Minh
Thành Tổ chứ không
thực sự đem lại kết
quả cụ thể nào về
mặt ngoại giao. Do
đó dư luận trong
nước đã phê phán
những chuyến đi phô
trương nặng phần
trình diễn làm hao
mòn công quỹ khiến
kinh tế quốc gia bị
suy thoái.
Riêng tại Đại Việt,
Giáo Sư J.K.
Fairbank cũng nói về
cuộc xâm lăng khởi
sự năm 1407 và kết
thúc năm 1427. Kết
cuộc, với những tổn
thất đáng kể, nhà
Minh phải trả chủ
quyền độc lập cho
Việt Nam năm 1428.
Hoàng
Sa Trường Sa theo
Trung Quốc Sử
Trong Trung Quốc sử
có rất nhiều tài
liệu lịch sử và
nhiều tác phẩm của
các học giả Trung
Hoa xác nhận chủ
quyền lãnh thổ của
Việt Nam tại Hoàng
Sa Trường Sa.
Dưới đời Nhà Thanh,
trong 3 thế kỷ từ 17
đến 20:
a) Theo bản đồ Hoàng
Thanh Nhất Thống Dư
Địa Tổng Đồ do Chính
Phủ ấn hành năm
1894, thì đến cuối
thế kỷ 19, “lãnh thổ
của Trung Quốc chỉ
chạy đến đảo Hải Nam
là hết” (Hải Nam
cách Hoàng Sa 150
hải lý (275 km) về
phía đông nam).
b) Qua thế kỷ 20 sự
kiện này được xác
nhận trong cuốn
Trung Quốc Địa Lý
Học Giáo Khoa Thư
xuất bản năm 1906
đời vua Quang Tự với
đoạn như sau: “Điểm
cực Nam của Trung
Quốc là bờ biển Châu
Nhai thuộc quận
Quỳnh Châu (Hải Nam)
tại Vĩ Tuyến 18”.
c) Trong bản đồ Đại
Thanh Đế Quốc do
Chính Phủ ấn hành
cũng không thấy vẽ
các quần đảo Hoàng
Sa Trường Sa, và
không thấy ghi các
danh xưng Hán hóa
Tây Sa, Nam Sa.
d) Trong bộ Hải Quốc
Đồ Ký, cuốn Hải Lục
của Vương Bỉnh Nam
(1820-1842) viết:
“Vạn Lý Trường Sa (Hoàng
Sa) là giải cát dài
ngoài biển được dùng
làm phên dậu che
chắn mặt ngoài bờ
cõi nước An Nam”.
Như vậy có sự nhìn
nhận rằng quần đảo
này là biên thùy hải
phận của Việt Nam.
e) Theo học giả
Marwyn S. Samuels
trong cuốn Tranh
Chấp tại Biển Nam
Hoa nói ở trên“không
có bằng chứng nào
cho thấy nhà Thanh
đã sát nhập Hoàng Sa
Trường Sa vào lãnh
thổ Trung Quốc”.
f) Trong tập Địa Dư
Chí Tỉnh Quảng Đông
được vua Ung Chính
duyệt phê năm 1731,
không thấy ghi hai
quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa là lãnh
thổ Trung Quốc.
g) Trong bộ “Đại
Thanh Nhất Thống Chí”
do Quốc Sử Quán
Trung Hoa biên soạn
năm 1842 với lời tựa
của vua Đạo Quang
không có chỗ nào ghi
Thiên Lý Trường Sa
hay Vạn Lý Trường Sa
(quần đảo Hoàng Sa)
thuộc địa phận tỉnh
Quảng Đông.
h) Đặc biệt là trong
cuốn Hải Quốc Văn
Kiến Lục của Trần
Luân Quýnh (năm
1744), vùng hải phận
của Việt Nam tại
Biển Đông Hải được
ghi bằng các danh
xưng Việt Hải và
Việt Dương.
i) Ngoài ra cuốn Hải
Ngoại Kỷ Sự của
Thích Đại Sán xuất
bản năm 1695 đời
Khang Hi cũng ghi
nhận Đại Việt đã
chiếm hữu, và khai
thác Biển Đông với
Hoàng Sa Trường Sa.
Đời nhà Minh
a) Bản Đồ Mao Khôn
trong cuốn Vũ Bị Chí
của Mao Nguyên Nghi
gọi vùng biển Việt
Nam là Giao Chỉ
Dương.
b) Trên các bản đồ
Trịnh Hòa Hạ Tây
Dương và Trịnh Hòa
Hàng Hải Đồ không
thấy ghi các quần
đảo Hoàng Sa Trường
Sa với các danh xưng
Hán hóa Tây Sa, Nam
Sa, Tuyên Đức, Vĩnh
Lạc trong các lộ
trình của Trịnh Hòa
7 lần đi ngang qua
Biển Nam Hoa để khai
phá Ấn Độ Dương.
c) Trong hai thế kỷ
14 và 15 có sự giao
chiến trường kỳ 100
năm giữa Việt Nam và
Chiêm Thành: Với Chế
Bồng Nga đời vua
Trần Nghệ Tông (năm
1370), và với hai
anh em Trà Toàn, Trà
Toại đời vua Lê
Thánh Tông (năm
1470). Nếu quả thật
nhà Minh đã chiếm
đất Chiêm Thành
trong chuyến đi thứ
tư của Trịnh Hòa,
thì lẽ tất nhiên sử
sách của Trung Hoa,
Chiêm Thành và Việt
Nam đã phải ghi chép
việc đó.
Mà nếu Trịnh Hòa đã
chiếm Chiêm Thành
năm 1413 thì lẽ tất
nhiên Nhà Minh đã
phải đem quân chống
lại vua Lê Thánh
Tông trong Chiến
Dịch Bình Định để
lấy đất Chiêm Thành
năm 1470.
d) Theo sách Dư Địa
Chí đời Hồng Đức lưu
trữ tại Đông Dương
Văn Khố Tokyo, tới
hậu bán thế kỷ 15
dưới triều vua Lê
Thánh Tông năm Hồng
Đức nguyên niên
(1470), Chiêm Thành
đã là lãnh thổ của
Đại Việt gồm có lục
địa, hải phận và các
hải đảo.
e) Về việc này cuốn
Minh Sử ghi chép như
sau: “Sứ thần Chiêm
Thành nói: Cổ lai
đất nước Chiêm có 27
xứ, 4 phủ, 7 châu,
22 huyện, nay vua An
Nam lấy đi chỉ còn 5
xứ, từ Bang Đô Lang
đến Chân Lạp”. Lúc
này vua Nhà Minh yêu
cầu vua Lê Thánh
Tông trả đất cho
Chiêm Thành nhưng
Ngài không chịu. Lý
do là vì Minh Chủ
không chịu trả đất
Nam Việt thời Triệu
Vũ Đế cho Đại Việt.
Tài liệu lịch sử này
cho biết từ thế kỷ
15, vùng biển Hoàng
Sa và Trường Sa
nguyên là địa bàn
ngư nghiệp của Chiêm
Thành đã trở thành
lãnh thổ Đại Việt.
Đời nhà Nguyên
a) Trong thế kỷ 13
Mông Cổ bị Đại Việt
đánh bại trong 3
thập niên,vào những
năm 1257, 1285 và
1287. Sau ba phen
thất bại, Nhà Nguyên
không còn dòm ngó
Việt Nam từ trên lục
địa đến ngoài hải
phận. Và trong các
thế kỷ 13 và 14,
theo chính sử, quân
Mông Cổ không xâm
chiếm các quần đảo
Hoàng Sa và Trường
Sa.
b) Theo cuốn Tranh
Chấp tại Biển Nam
Hoa của Marwyn
Samuels “trong thế
kỷ 14 các đội hải
thuyền hùng mạnh của
nhà Nguyên có đi
tuần tiễu, nhưng tại
Biển Nam Hoa các hải
đảo Hoàng Sa và
Trường Sa không bị
chiếm đóng và không
thuộc chủ quyền lãnh
thổ của Trung Quốc”
(sách đã dẫn, trang
20).
c) Cũng như các sách
sử địa đời Nhà Thanh,
cuốn Nguyên Sử Địa
Lý Chí đã viết như
sau: “Cương vực
Trung Quốc đời Nhà
Nguyên về phía Nam
chỉ đến Đảo Hải Nam,
và về phía Bắc không
quá Sa Mạc Gobi”.
Đời Nhà Tống
a) Như trong thế kỷ
13 đời Nhà Nguyên,
trong hai thế kỷ thứ
10 và 11 Việt Nam
cũng đã 3 lần đánh
thắng Nhà Tống.
b) Sau 3 phen thất
trận, theo trình tấu
của Hoàng Thân Triệu
Nhữ Quát, vua Tống
Thần Tông đã phải
theo chính sách
Trọng Võ Ái Nhân (thận
trọng việc võ bị,
thương xót mạng
người, không phơi
binh nơi lam chướng).
Và đã thừa nhận nền
độc lập của Đại Việt.
c) Sách Chư Phiên
Chí của Triệu Nhữ
Quát nhìn nhận rằng
quần đảo Hoàng Sa mà
tác giả gọi là Thiên
Lý Trường Sa (Bãi
Cát Dài Ngàn Dặm) là
đất của nước phiên
thuộc An Nam,
d) Trong đời Nam
Tống cuốn Lĩnh Ngoại
Đại Đáp của Chu Khứ
Phi cũng xác nhận:
“Vạn Lý Trường Sa (Hoàng
Sa) tọa lạc tại Giao
Chỉ Dương”.
Đời Nhà Đường
a) Sách Đường Thư
Nghệ Văn Chí đề cập
đến cuốn Giao Châu
Dị Vật Chí của Dương
Phu trong đó tác giả
tường thuật những
việc kỳ dị và những
nơi kỳ dị tại Giao
Châu (Việt Nam). Như
tại Thất Châu Dương
(Nhóm An Vĩnh, Hoàng
Sa) là nơi có nhiều
từ thạch hay đá nam
châm khiến các
thuyền ngoại dương
có đóng chốt sắt
không đi qua được.
Đây có sự thừa nhận
các đảo Hoàng Sa là
thành phần của Việt
Nam.
Ngoài ra sách Tứ Di
Lộ Trình của Giã Đàm
đời Đường có vẽ hải
đạo Hồng Kông-Tân
Gia Ba nhưng không
ghi các hải đảo
Hoàng Sa, Trường Sa
hay các danh xưng
Tây Sa, Nam Sa.
Đời Nhà Hán
a) Trong cuốn Chư
Phiên Chí, sử gia
Triệu Nhữ Quát đời
Nhà Tống đã xác nhận
sự kiện lịch sử đáng
ghi nhớ như sau: Năm
111 Trước C. N., sau
khi thôn tính Nam
Việt “Hán Vũ Đế sai
quân vượt biển sang
chiếm đất của địch
quân (Nam Việt) và
đặt ra hai quận Châu
Nhai và Đạm Nhĩ (Đảo
Hải Nam). Trong thế
kỷ thứ nhất Trước
C.N. Hán Nguyên Đế
đã rút quân khỏi đảo
Hải Nam, mãi tới đời
nhà Lương và nhà Tùy
vào cuối thế kỷ thứ
6 và đầu thế kỷ thứ
7 mới đặt lại quyền
cai trị”.
b) Như đã trình bày,
đến cuối đời Nhà
Thanh vào đầu thế kỷ
20, biên cương của
Trung Quốc về phía
Nam chỉ chạy tới đảo
Hải Nam tại vĩ tuyến
18.
Tổng kết lại, về mặt
chính sử, trong suốt
22 thế kỷ, từ các
đời Tần Hán thế kỷ
thứ 3 Trước C.N. đến
thế kỷ 20 đời Nhà
Thanh, không thấy
tài liệu nào, hay
nói rõ hơn, không có
câu nào ghi rằng
Biển Đông Hải với
Hoàng Sa Trường Sa
thuộc chủ quyền của
Trung Quốc.
Mãi tới năm 1951
nhân kỳ Hội Nghị Hòa
Bình San Francisco
1951, lần đầu tiên
Chính Phủ Bắc Kinh
mới đưa ra Công Bố
ngày 1-9-1951 đòi
chủ quyền lãnh thổ
tại các hải đảo
Hoàng Sa và Trường
Sa. Đó là Bản Chú
Giải về Đảo Nam Uy
và Quần Đảo Tây Sa
theo đó “đảo Nam Uy
cùng toàn thể các
quần đảo Nam Sa và
Tây Sa đều là lãnh
thổ của Trung Quốc,
các tài liệu lịch sử
liên quan đến các
quần đảo này có từ
đời nhà Tống”.
Tuy nhiên lịch sử
Trung Quốc đã không
xác nhận như vậy.
Cuốn Lĩnh Ngoại Đại
Đáp của Chu Khứ Phi
đời Nhà Tống gọi
vùng biển Hoàng Sa
Trường Sa là Giao
Chỉ Dương
Qua năm 1956 khi Phi
Luật Tân đòi chủ
quyền các hải đảo
Thái Bình (Itu Aba)
và Trường Sa
(Spratly), ngày
29-5-1956 Chính Phủ
Đài Bắc cũng lên
tiếng phản kháng,
chủ trương rằng các
hải đảo này đã thuộc
chủ quyền lãnh thổ
của Trung Quốc từ
đời nhà Minh.
Dầu sao, cũng như
Bản Công Bố Chủ
Quyền của Bắc Kinh
năm 1951, Bản Phản
Kháng Phi Luật Tân
của Đài Bắc năm 1956
không viện dẫn được
bằng chứng cụ thể
nào về pháp lý, địa
lý hay lịch sử để
chứng minh chủ quyền
của Trung Quốc tại
các quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa. Hai
Chính Phủ Quốc Cộng
Trung Hoa chỉ quả
quyết suông rằng
Biển Nam Hoa là Biển
Lịch Sử của Trung
Quốc từ các đời Tống
Thần Tông hay Minh
Thành Tổ. Đây chỉ là
sách lược của Bắc
Kinh nhằm phục hồi
Đế Quốc Đại Hán do
Mao Trạch Đông phát
động từ thập niên
1950. Để thi đua
tranh thủ nhân tâm,
Đài Loan cũng đã
phải phụ họa.
Phục Hồi Đế Quốc Đại
Hán
Tháng 5-2008 trên
tạp chí Duyệt Lại
Nền Kinh Tế Tại Viễn
Đông (Far Eastern
Economic Review),
học giả Micheal A.
Ledeen trong Viện
Nghiên Cứu Chính
Sách của Hoa Kỳ đã
mệnh danh chính sách
bá quyền của Trung
Quốc hiện nay là Chủ
Nghĩa Phát Xít Cổ
Điển.
Theo tác giả, thay
vì tiếp thu chủ
nghĩa đa nguyên theo
sự mong đợi của mọi
người, giới lãnh đạo
Trung Quốc càng ngày
càng trở nên giáo
điều và bảo thủ.
Cũng như tại Ý 50
năm sau khi Phát Xít
sụp đổ, Nhà Nước Ý
vẫn giữ nguyên chế
độ độc tài và chủ
yếu vẫn đàn áp chính
trị. Để biện minh
cho chế độ, họ đã
nêu lên quan hệ về
sự vinh quang cổ xưa
của dân tộc Ý thời
Đế Quốc La Mã. Ngày
nay, để phỏng theo
Chủ Nghĩa Phát Xít
Cổ Điển Ý, Bắc Kinh
cũng đề xướng “Dân
Tộc Hán Vĩ Đại”. Mục
đích để giữ chặt
quyền lực chính trị
và phục hồi Đế Quốc
Đại Hán.
Với “tứ hiện đại
hóa” Trung Quốc ngày
nay đã biểu lộ tính
hiếu chiến trong
chính sách bành
trướng cả về kinh tế
lẫn chủ quyền lãnh
thổ. Quân đội Trung
Quốc đang tăng cường
sức mạnh để hy vọng
có ngày đủ phương
tiện nhằm lọai trừ
hay phòng ngừa sự
can thiệp của Hoa Kỳ
tại Á Châu Thái Bình
Dương. Trong khi chờ
đợi họ phóng kim
ngân để tích cực vận
dụng thông tin tuyên
truyển hầu giành cảm
tình và sự thán phục
của các quốc gia
trên thế giới. Sau
đó, theo truyền
thống và tự hào lịch
sử, họ sẽ bước vào
giai đoạn đối đầu
với phe Dân Chủ Tây
Phương. Họ kỳ vọng
rằng với quyết tâm
và phát triển kinh
tế, hệ thống Trung
Quốc sẽ nổi bật trên
thế giới khiến các
quốc gia khác phải
khâm phục và mặc
nhiên chấp thuận để
họ thôn tính các
vùng lãnh thổ và hải
đảo tại Á Châu.
Những nhận định nói
trên của ký giả
Micheal A. Ledeen
cũng là nhận định
của Tiến Sĩ Lo
Chi-Kin từ Hồng Kông
trong Luận Án Tiến
Sĩ đệ trình Đại Học
Kinh Tế Chính Trị
Luân Đôn năm 1986 :
Theo Mao Trạch Đông
những lãnh thổ phụ
dung trước kia đã
được Trung Quốc
chinh phục và khai
hóa, nay phải trả
lại (Trung Quốc) văn
minh chứ không thể
thuộc về phe (Đế
Quốc) dã man.
(Chi-Kin Lo, Doctor
of Laws Thesis
London 1986)
Từ sau Chiến Tranh
Biên Giới Hoa-Ấn năm
1962, mọi người nhìn
rõ tham vọng không
bao giờ thỏa mãn của
Trung Quốc muốn đòi
những lãnh thổ mà họ
đã thôn tính trong
lịch sử. Chính sách
này được phổ biến
năm 1954 trong cuốn
“Lược Sử Tân Trung
Quốc” có kèm theo
bản đồ, nhắc lại lời
Mao Trạch Đông: “Tất
cả các lãnh thổ và
hải đảo thuộc khu
vực ảnh hưởng của
Trung Quốc đã từng
bị phe Đế Quốc Tây
Phương và Nhật Bản
chiếm đoạt từ giữa
thế kỷ 19 đến sau
Thế Chiến I, như
Ngoại Mông, Triều
Tiên, “An Nam”, Mã
Lai, Thái Lan, Miến
Điện, Bhutan, Nepal,
Ladakh, Hồng Kông,
Macao, cùng những
hải đảo Thái Bình
Dương như Đài Loan,
Bành Hồ, Ryukyu,
Sakhalin, phải được
giao hoàn cho Trung
Quốc”.
Đây là khát vọng bá
quyền của Trung Quốc
không bao giờ thỏa
mãn. Đế Quốc Ngai
Rồng phát hiện từ
các đời Tần Thủy
Hoàng, Hán Vũ Đế,
Tống Thánh Tông,
Minh Thành Tổ đã
được Mao Trạch Đông
chủ trương phục hồi
từ 1955.
Trong cuốn Cách Mạng
Trung Quốc và Lịch
Sử Đảng Cộng Sản
Trung Quốc xuất bản
sau năm 1949 có đoạn
như sau:
“Sau khi đánh bại
Trung Quốc trong
chiến tranh võ
trang, các đế quốc
đã thôn tính nhiều
nước phụ dung của
Trung Quốc: Nhật Bản
chiếm Triều Tiên,
Đài Loan, Bành Hồ,
các đảo Ryukyu, và
Port Arthur. Anh
chiếm Miến Điện,
Bhutan, Nepal và
Hồng Kông; Pháp
chiếm “An Nam”; và
ngay cả một quốc gia
vô nghĩa như Bồ Đào
Nha cũng chiếm
Macao”.
Nếu quả thật muốn
trung thành với chủ
trương phải giao
hoàn các lãnh thổ bị
xâm chiếm do chiến
tranh võ trang, thì
trước hết Trung Quốc
phải giao hoàn cho
Việt Nam lãnh thổ
nước Nam Việt do
Triệu Vũ Vương thiết
lập năm 207 Trước C.
N. (gồm vùng trung
nguyên Trung Quốc
với các tỉnh Hồ Nam,
Quảng Đông, Quảng
Tây, đảo Hải Nam và
Bắc Việt Nam). Tuy
nhiên năm 111 Trước
C. N. Hán Vũ Đế đã
đem quân thôn tính
Nam Việt nhằm Hán
hóa vùng lãnh thổ
này, mặc dầu Nam
Việt có nền văn hóa
đặc thù khác với các
dân tộc du mục Miền
Bắc. Đó cũng là nhận
định của Giáo Sư C.
P. Fitzgerald tại
Đại Học Oxford:
“Trong trường hợp
nước Nam Việt giữ
vững chủ quyền độc
lập với nền văn hóa
đặc thù của Miền
Nam, thì dầu nhà Hán
có chiếm được miền
Quảng Châu và Vân
Nam, họ cũng sẽ
không thành công
trong việc thiết lập
ảnh hưởng tại vùng
châu thổ Sông Tây
Giang phía đông nam
Trung Quốc”. (C. P.
Fitzgerald, China, A
Short Cultural
History, p 184)
Điều nghịch lý là,
dầu quả quyết nắm
chắc phần thắng
trong tay, Trung
Quốc vẫn ngần ngại
không dám công khai
đưa vấn đề tranh
chấp chủ quyền hải
đảo và hải phận tại
Biển Đông Nam Á ra
trước các cơ quan
trọng tài quốc tế.
Ngày nay, cùng với
người Việt trong và
ngoài nước, chúng ta
thách thức Bắc Kinh
công khai đưa vụ
tranh chấp chủ quyền
các hải đảo và hải
phận tại Biển Đông
Hải, Biển Nam Hoa
hay Biển Đông Nam Á
ra trước các cơ quan
tài phán, trọng tài
hay tham vấn theo
thủ tục quốc tế.
(Judicial
litigation,
arbitration or
consultation)
Hiện nay, tại vùng
Biển Đông Nam Á, rập
theo tham vọng của
Đế Quốc La Mã hồi
thế kỷ thứ nhất coi
Địa Trung Hải là
Biển Lịch Sử La Mã,
Bắc Kinh cũng đưa ra
thuyết Biển Lịch Sử
hay Lưỡi Rồng Trung
Quốc (mà dân gian
gọi là Lưỡi Bò). Họ
coi đó là mục tiêu
chiến lược từ sau
1951. Nhất là từ
1982 khi Trung Quốc
ký Công Ước Liên
Hiệp Quốc về Luật
Biển.
Tuy nhiên thuyết
Biển Lịch Sử ngày
nay đã lỗi thời. Nó
đi trái Điều 8 Công
Ước Liên Hiệp Quốc
về Luật Biển và đi
trái Luật Tục Lệ
Quốc Tế của Tòa Án
Quốc Tế The Hague.
Chủ Quyền Lịch Sử và
Biển Lịch Sử
Trong suốt 22 thế
kỷ, từ các đời Tần
Thủy Hoàng, Hán Vũ
Đế, Tống Thần Tông,
Minh Thành Tổ đến
giữa thế kỷ 20 (năm
1951), Trung Quốc
không bao giờ lên
tiếng yêu sách đòi
chủ quyền các quần
đảo Hoàng Sa và
Trường Sa (mà họ gọi
là Tây Sa và Nam
Sa). Họ khẳng định
đó là một vấn đề
“bất khả tranh
nghị”. Để tránh né
mọi cuộc tranh luận
công khai trước các
cơ quan tham vấn,
trọng tài hay tố
tụng. Lý do là vì họ
không đưa ra được
quan điểm pháp lý
hay một bằng chứng
lịch sử khả tín nào
cho thấy họ có chủ
quyền tại các quần
đảo này.
Năm 1982, sau khi ký
Công Ước Liên Hiệp
Quốc về Luật Biển,
Bắc Kinh tập hợp 400
học giả, ngày đêm
nghiên cứu, thảo
luận trong suốt 10
năm để kết luận rằng
“Biển Nam Hoa là
Biển Lịch Sử của
Trung Quốc từ hàng
ngàn năm nay”. Rồi
họ hội nghị với 100
nhà trí thức Đài
Loan để xác định chủ
trương này.
Tuy nhiên về mặt
Công Pháp Quốc Tế,
chiếu án lệ của Tòa
Án Quốc Tế The
Hague, muốn có Biển
Lịch Sử phải hội đủ
3 điều kiện:
1. Phải có sự hành
sử chủ quyền;
2. Một cách liên tục
và trường kỳ; và
3. Được sự thừa nhận
của các quốc gia
duyên hải, đặc biệt
là các quốc gia tiếp
cận và đối diện.
Dầu sao Tòa Án Quốc
Tế đã định nghĩa
“biển lịch sử là nội
hải”.
Công Ước Liên Hiệp
Quốc về Luật Biển
1982 đã kết thúc mọi
cuộc tranh luận khi
quy định trong Điều
8 như sau:
“Ngoại trừ trường
hợp các quốc gia
quần đảo [như Phi
Luật Tân hay Nhật
Bản] Biển Lịch Sử
hay nội hải của một
quốc gia nằm bên
trong đất liền, về
phía bên trong đường
cơ sở của biển lãnh
thổ. The
International Court
of Justice has
defined historic
waters as “internal
waters”; “Waters on
the landward side of
the baseline of the
territorial sea form
part of the internal
waters of the State”
(Art. 8 LOS
Convention 1982).
Thủ Đắc do Chiếm Cứ
Theo công pháp quốc
tế, muốn thủ đắc chủ
quyền các đất vô chủ
(terra nullius), sự
chiếm cứ phải có
những đặc tính sau
đây:
a) Chiếm cứ hòa
bình.
Không có sự chối cãi
rằng trong năm 1956
hải quân Trung Quốc
đã chiếm cứ võ trang
7 đảo Hoàng Sa thuộc
Nhóm An Vĩnh phía
đông bắc.
Năm 1974 Trung Quốc
lại dùng võ lực xâm
chiếm 6 đảo Hoàng Sa
thuộc Nhóm Lưỡi Liềm
phía tây nam.
Năm 1988, lần đầu
tiên hải quân Trung
Quốc tấn công võ
trang các đảo Trường
Sa, và đã chiếm Đá
Chữ Thập và Đá Gaven
cùng một số đá chìm
và bãi ngầm.
Năm 1992, Trung Quốc
lại dùng võ lực xâm
chiếm Bãi Vạn An
trên Thềm Lục Địa
Việt Nam phía đông
nam các bãi dầu khí
Thanh Long và Tứ
Chính.
Những vụ chiếm cứ
này không có tính
hòa bình mà do xâm
lăng võ trang nên
không được luật pháp
và tòa án bảo vệ. Vì
nó đi trái Điều 2
Hiến Chương Liên
Hiệp Quốc. Cũng như
thời Thế Chiến II,
Nhật Bản đã chiếm cứ
Hoàng Sa và Trường
Sa bằng võ lực nên
không có tư cách chủ
quyền hợp pháp.
2) Chiếm cứ liên tục
và trường kỳ
Cho đến ngày
1-9-1951 Trung Quốc
mới lên tiếng đòi
“chủ quyền lịch sử “
tại Hoàng Sa và
Trường Sa.
Tuy nhiên, theo cuốn
Trung Quốc Địa Lý
Học Giáo Khoa Thư
xuất bản năm 1906
đời Vua Quang Tự
“Điểm cực Nam của
Trung Quốc là bờ
biển Châu Nhai thuộc
quận Quỳnh Châu (Hải
Nam) tại Vĩ Tuyến
18”.
Theo Nguyên Sử lãnh
thổ của Trung Quốc
chạy từ Sa Mạc Gobi
về phía bắc đến Đảo
Hải Nam về phía nam.
Theo Minh Sử, đời
vua Lê Thánh Tông từ
thế kỷ 15 (năm
1470), các đảo Hoàng
Sa và Trường Sa
nguyên là địa bàn
ngư nghiệp của Chiêm
Thành đã trở thành
lãnh thổ của Đại
Việt.
Lịch sử Trung Quốc
không mang lại bằng
chứng khách quan vô
tư nào cho biết họ
đã liên tục chiếm
cứ, công bố và hành
sự chủ quyền tại
Hoàng Sa, Trường Sa
từ các đời Hán Vũ
Đế, Tống Thần Tông,
Minh Thành Tổ hay
Quang Tự. Nếu chỉ có
một số ngư dân lẻ tẻ
từ đảo Hải Nam đến
đánh cá theo mùa thì
cũng không có sự
công bố và hành sử
chủ quyền của Nhà
Nước.
3) Hơn nữa sự chiếm
cứ phải được sự thừa
nhận của các quốc
gia liên hệ.
Đầu tháng 9, 1951,
51 quốc gia đồng
minh họp Hội Nghị
Hòa Bình Cựu Kim Sơn
để ký Hiệp Ước Hòa
Bình Nhật Bản, trong
đó Nhật Bản từ bỏ
quyền đòi Hoàng Sa
Trường Sa nhưng
không nói để trả cho
nước nào. Ngoại
Trưởng Liên Sô
Gromyko nạp tu chính
án yêu cầu Hội Nghị
biểu quyết trao
Hoàng Sa Trường Sa
cho Trung Quốc.
Nhưng Hội Nghị đã
bác bỏ thỉnh cầu này
với 46 phiếu chống
và 3 phiếu thuận .
Sau đó Thủ Tướng
kiêm Ngoại Trưởng
Quốc Gia Việt Nam
Trần Văn Hửu lên
diễn đàn tuyên bố
chủ quyền của Việt
Nam tại Hoàng Sa
Trường Sa và không
gặp sự phản kháng
nào.
4) Sự thừa nhận chủ
quyền hải đảo chỉ có
ý nghĩa nếu xuất
phát từ các quốc gia
duyên hải đối diện
và tiếp cận. Vì các
đảo này tọa lạc tại
Biển Đông Nam Á, nên
chỉ các quốc gia
Đông Nam Á mới có
thẩm quyền thừa nhận.
Mà cho đến nay trong
tất cả các quốc gia
Đông Nam Á không một
nước nào thừa nhận
chủ quyền của Trung
Quốc tại Hoàng Sa và
Trường Sa.
Điều đáng lưu ý là,
cho đến những năm
1956, 1974, 1988 và
1992 các đảo Hoàng
Sa và Trường Sa đã
do Việt Nam chiếm cứ
công khai, hòa bình,
trường kỳ và liên
tục nên không thể
coi đó là đất vô chủ.
(terra nullius)
Do đó, về công pháp
quốc tế, thuyết Biển
Lịch Sử không còn là
một vấn đề tranh
nghị tại các cơ quan
trọng tài hay các
Tòa Án Luật Biển. Vì
thuyết này đi trái
với Luật Tục Lệ Quốc
Tế của Tòa Án Quốc
Tế và đã bị Công Ước
Liên Hiệp Quốc về
Luật Biển bác bỏ
trong Điều 8.
Vì biết rõ điều đó
nên Trung Quốc không
dám đưa vụ tranh
chấp hải phận và các
hải đảo tại Biển
Đông Nam Á ra trước
Tòa Án Quốc Tế, Tòa
Án Luật Biển hay
trước Ủy Ban Trọng
Tài Liên Hiệp Quốc.
Bài Đọc Thêm
HAI CHIẾN DỊCH
TRUYỀN THÔNG CỦA BẮC
KINH:
TRỊNH HÒA CHIẾM CỨ
HOÀNG SA TRƯỜNG SA
NĂM 1413
VÀ KHÁM PHÁ MỸ CHÂU
NĂM 1421
Khám phá Mỹ Châu là
nói cho vui. Thôn
tính Biển Đông là
mục tiêu chiến lược.
Mới đây, các học giả
trong Viện Nghiên
Cứu Chính Sách Hoa
Kỳ đã phê phán chính
sách bá quyền của
Trung Quốc là Chính
Sách Phát Xít Cổ
Điển.
50 năm sau khi Phát
Xít sụp đổ, nước Ý
vẫn theo chế độ độc
tài và đàn áp đối
lập. Để biện minh
cho chế độ họ đề cao
Dân Tộc Ý Vĩ Đại
thời Đế Quốc La Mã
2000 năm về trước.
Ngày nay, bắt chước
Đế Quốc La Mã, Trung
Quốc cũng đề cao
“Dân Tộc Hán Vĩ Đại”
để giữ độc quyền
lãnh đạo và phục hồi
Đế Quốc Đại Hán. Với
“tứ hiện đại hóa”
Trung Quốc ra sức
bành trướng về kinh
tế và lãnh thổ. Họ
phóng kim ngân thu
nhân tâm, vận dụng
truyền thông để
giành cảm tình của
các dân tộc trên thế
giới, kỳ vọng rằng
quốc tế sẽ khâm phục
họ và mặc nhiên để
họ thôn tính các
lãnh thổ và hải đảo
tại Á Châu Thái Bình
Dương.
Mới đây Trung Quốc
phát động hai chiến
dịch phô trương,
tuyên truyền rằng:
1. Năm 1421, trong
Chuyến Đi Thứ Sáu
(1421-1422) của
Chiến Dịch Thất Hạ
Tây Dương, Trịnh Hòa
đã khám phá Mỹ Châu,
trước Christopher
Columbus 71 năm (năm
1492). So với Vasco
Da Gama là người đã
khám phá Mũi Hảo
Vọng và đi xuyên 3
đại dương, từ Đại
Tây Dương qua Ấn Độ
Dương đến Thái Bình
Dương (năm 1498),
Trịnh Hòa đã thực
hiện cuộc hành trình
xuyên dương 77 năm
trước.
2. Và trong Chuyền
Đi Thứ Tư
(1413-1415) Trịnh
Hòa đã chiếm cứ
Chiêm Thành cả trên
lục địa lẫn ngoài
hải phận trong đó có
các quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa.
Đây là hai chiến
dịch truyền thông,
mạo nhận thành tích
để phô trương thanh
thế và bóp méo sự
thật.
Dầu sao sự mạo nhận
này đã bị lịch sử
phủ nhận.
TRỊNH HÒA KHÁM PHÁ
MỸ CHÂU NĂM 1421?
Trước hết, theo
chính sử Trung Quốc,
cuốn “Lịch Sử Trung
Quốc Thời Trung Cổ”
do Hàn Lâm Viện
Trung Quốc xuất bản
tại Đài Bắc năm 1978
đã viết như sau:
“Suốt chiều dài lịch
sử, dân tộc Trung
Hoa không tha thiết
đến đại dương. Thản
hoặc, trong các thế
kỷ thứ ba và thứ hai
Trước Công Nguyên
(thời Đế Quốc Tần
Hán), Trung Hoa đã
gửi những đoàn thám
hiểm đến Biển Nhật
Bản. Và trong thế kỷ
15, Minh Thành Tổ đã
cử những phái đoàn
thám hiểm Tây Dương
đến Đông Nam Á, Ấn
Độ và Phi Châu trong
28 năm, từ 1405 đến
1433 và đã viếng
thăm 37 quốc gia
duyên hải tại Ấn Độ
Dương”.
Đó là những chuyến
đi về ngoại giao và
thương mại (tribute
and trade). Những sự
kiện này đã được ghi
chép trong 3 loại
tài liệu lịch sử:
a. Cuốn Minh Sử là
chính sử.
b. Các bia kỷ niệm
và các đồ bản tuyên
dương thành thích
được tồn trữ tại
Phúc Kiến là địa
điểm xuất phát Chiến
Dịch.
c. Các sách sử địa
trước tác bởi các
thành viên tham gia
Chiến Dịch như Doanh
Nhai Thắng Lãm của
Mã Hoan và Tinh Tra
Thắng Lãm của Phi
Tín. Cuốn Vũ Bị Chí
của Mao Nguyên Nghi
đởi Nhà Minh cũng
tường thuật về 7
chuyến Thất Hạ Tây
Dương trong đó Trịnh
Hòa chỉ đi qua Biển
Nam Hoa để khai phá
Ấn Độ Dương. Thông
thường mỗi cuộc hải
trình kéo dài 2 năm.
Trong Chuyến Đi Thứ
Tư (1413-1415) Trịnh
Hòa đi quá Ấn Độ,
Vịnh Ba Tư, Biển
Hồng Hải đến đông
Phi Châu phía cực
tây Ấn Độ Dương.
Về Chuyến Đi Thứ Sáu
(1421-1422) Bắc Kinh
đại ngôn rằng Trịnh
Hòa đã đi xuyên qua
Thái Bình Dương, Ấn
Độ Dương và Đại Tây
Dương để khám phá Mỹ
Châu năm 1421.
Tuy nhiên, theo
chính sử, Chuyến Đi
Thứ Sáu của Trịnh
Hòa là chuyến đi
ngắn nhất chỉ kéo
dài 7 tháng, từ
tháng 2-1421 đến
tháng 9-1421. Trong
chuyền đi này Trịnh
Hòa chỉ đi từ Phúc
Kiến đến Sumatra
(Nam Dương). Kế
tiếp, hai sĩ quan
tùy viên Yang Ching
và Hung Pao đã điều
khiển cuộc hải
trình. (Lịch Sử
Trung Quốc Thời
Trung Cổ (1978),
trang 290-292).
Trong 7 chuyến công
du, Trịnh Hòa không
đến Đại Tây Dương,
mà chỉ đi qua Biển
Nam Hoa đến Ấn Độ
Dương. Và như vậy
không có việc, trong
thế kỷ 15, Trịnh Hòa
đã đi xuyên qua 3
đại dương là Thái
Bình Dương, Ấn Độ
Dương và Đại Tây
Dương, và qua 3 châu
Á, Phi và Âu để khám
phá Mỹ Châu năm
1421.
Trong cuốn Trung Hoa
Thao Túng Đại Dương
học giả Louise
Levathes, bỉnh bút
tờ Nữu Ước Thời Báo
và là giáo sư thỉnh
giảng tại Đại Học
Nam Kinh, cũng xác
nhận điều đó: “Trong
thời gian từ
1405-1433 các đoàn
bảo thuyền (treasure
ships) do Đô Đốc
Thái Giám Trịnh Hòa
chỉ huy đã thực hiện
7 cuộc hành trình
vượt qua Biển Nam
Hoa đến Ấn Độ Dương,
Vịnh Ba Tư và bờ
biển Đông Phi [chứ
không sang Đại Tây
Dương]. Trong những
cuộc tiếp xúc với
các thương gia Ả Rập
người Trung Hoa cũng
nghe nói về Âu Châu.
Tuy nhiên họ đã
không đến miền “cực
tây” đó, vì Âu Châu
chỉ sản xuất len dạ
và rượu vang là
những sản phẩm không
được thị trường
Trung Quốc ưa
chuộng”. (Louise
Levathes: When China
Ruled the Seas,
Simon & Schuster,
New York, 1994, p.
20).
Mục đích những
chuyến công du là
thiết lập quan hệ
ngoại giao và giao
lưu thương mại. Nếu
quả thật hồi đó
Trịnh Hòa đến Đại
Tây Dương thì lẽ tất
nhiên phải ghé đến
các cường quốc Âu
Châu hồi thế kỷ 15
như Tây Ban Nha, Bồ
Đào Nha, Anh, Pháp,
Hòa Lan trước khi đi
xuống Mỹ Châu là
vùng đất hoang vu
với các sắc dân da
đỏ bán khai không
thành quốc gia mà
cũng không có những
tài nguyên hay thổ
sản để giao lưu
thương mại với Trung
Quốc.
Và chiến dịch truyền
thông của Đế Quốc
Đại Hán chỉ là
chuyện bịa đặt vụng
về thô bạo bất khả
tín.
Như vậy, theo các sử
liệu của Trung Quốc
và trên thế giới,
Trịnh Hòa không lai
vãng đến Đại Tây
Dương và cũng không
khám phá Mỹ Châu.
Đây chỉ là một chiến
dịch tuyên truyền,
bịa đặt thành tích
để phô trương thanh
thế. Tuyên truyền
dối trá là võ khí
chiến lược số 1 của
Cộng Sản.
Trung thành với sách
lược này, mới đây
Bắc Kinh còn dựng
đứng câu chuyện, từ
thế kỷ 15 Trịnh Hòa
đã chiếm cứ Chiêm
Thành với Hoàng Sa
Trường Sa.
TRỊNH HÒA CHIẾM
HOÀNG SA TRƯỜNG SA
NĂM 1413?
Sau vụ đảo chánh
cướp ngôi của cháu
ruột Minh Huệ Đế năm
1402, để làm lạc
hướng dư luận, về
mặt quốc tế, năm
1405 Minh Thành Tổ
phát động chiến dịch
Thất Hạ Tây Dương.
Về mặt quốc nội, huy
động hàng trăm học
giả Trung Quốc soạn
thảo cuốn Vĩnh Lạc
Đại Toàn để đề cao
cá nhân Minh Thành
Tổ. Điều mỉa mai là,
viện cớ khôi phục
nhà Trần, Minh Thành
Tổ, kẻ soán đoạt
ngôi vua Nhà Minh,
đã đem quân trừng
phạt Hồ Quí Ly là kẻ
soán đoạt ngôi vua
Nhà Trần. Trương
Phụ, Mộc Thạnh
truyền hịch loan báo
quân Tầu chỉ sang
Việt Nam để tái lập
ngôi vua nhà Trần,
một triều đại vinh
quang được toàn dân
quý mến sau 3 trận
đại thắng quân Mông
Cổ. Với chiêu bài
“cứu dân phạt tội”
nhằm thu phục nhân
tâm, quân nhà Minh
đánh đâu được đó,
quân nhà Hồ phần giã
ngũ, phần qui hàng.
Chủ yếu Minh Thành
Tổ đã lợi dụng thời
cơ để đem quân thôn
tính Đại Việt trong
suốt 20 năm
(1407-1427).
Về Chiến Dịch Thất
Hạ Tây Dương, trong
Chuyến Đi Thứ Nhất
(1405-1407), với một
hạm đội hùng mạnh
trên 27 ngàn sĩ tốt
và hơn 300 hải
thuyền, trong đó có
62 bảo thuyền lớn
(large treasure
ships), Trịnh Hòa đã
không đổ bộ Việt
Nam, chỉ ghé bến Đồ
Bàn hay Trà Bàn
(Chaban). Lúc này,
nếu quả thật có kế
hoạch thôn tính
Chiêm Thành, Minh
Thành Tổ chỉ cần
điều động đội thủy
binh hùng mạnh của
Trịnh Hòa trong
Chuyến Đi Thứ Nhất,
chứ không cần phải
đợi đến Chuyến Đi
Thứ Tư (năm 1413)
mới dùng thủ đoạn
đồng minh giả hiệu
để xâm chiếm Chiêm
Thành cả trên lục
địa lẫn ngoài hải
phận.
Vả lại, theo chính
sử, về Chuyến Đi Thứ
Tư (1413- 1415),
Minh Sử chỉ ghi
Trịnh Hòa có đến Ấn
Độ Dương, Vịnh Ba
Tư, Biển Hồng Hải và
Đông Phi Châu, chứ
không ghi việc Trịnh
Hòa đã chiếm Chiêm
Thành với Hoàng Sa
Trường Sa. Đặc biệt
Trịnh Hòa đã ra huấn
thị cho các đội hải
thuyền: “phải tránh
xa các vùng đá ngầm
và các đảo nguy hiểm
tại Biển Nam Hoa”.
Trong những chuyến
đi sau này, nhiều
bảo thuyền đã bị mất
tích vì bão
tố.(Louise Levathes:
When China Ruled the
Seas, p. 93).
Điều đáng lưu ý là,
lập luận của Chính
Phủ Bắc Kinh cho
rằng Trịnh Hòa đã
chiếm Hoàng Sa
Trường Sa từ đời Nhà
Minh (thế kỷ 15)
hoàn toàn mâu thuẫn
với lập trường của
chính họ trong Bản
Chú Giải về các Đảo
Nam Uy (Trường Sa)
và Tây Sa (Hoàng Sa)
ngày 1-9-1951, theo
đó Trung Quốc đã
chiếm Hoàng Sa
Trường Sa từ đời Nhà
Tống (thế kỷ thứ 10
đến thế kỷ 13).
(Notes on the Nanwei
and Sisha Islands of
9-1-1951: People’s
China Foreign
Language Press).
Đây chỉ là những
quyết đoán hồ đồ và
những khẩu thuyết vô
bằng.
Vì nếu Bắc Kinh dám
tuyên bố Trịnh Hòa
đã khám phá Mỹ Châu
năm 1421, thì họ
cũng không ngần ngại
bịa đặt rằng Trịnh
Hòa đã thôn tính
Hoàng Sa Trường Sa
năm 1413.
Nói tóm lại, về hai
chiến dịch truyền
thông cho rằng Trịnh
Hòa đã khám phá Mỹ
Châu năm 1421, và đã
chiếm cứ Hoàng Sa
Trường Sa năm 1413,
chúng ta chỉ có thể
kết luận: Phải là
người Đại Hán đảm
lược (to gan lớn
mật) mới dám lấy
những chuyện hoang
đường võng tưởng làm
sự thật lịch sử.
Luật Sư Nguyễn Hữu
Thống |