|
VỀ NHỮNG NĂM TÂN MÃO TRONG SỬ VIỆT
Tính từ năm Tân Mão 931 cho đến năm Tân Mão 2011, có khoảng 34 hoa giáp, mỗi hoa giáp kéo dài 60 năm. Như thế có khoảng 34 năm Tân Mão trong lịch sử nước Việt, thuộc thời kỳ thoát khỏi ách Bắc thuộc và có nền độc lập kéo dài. Độc lập tự chủ nhưng biến cố « Năm Tân Mão nước Việt phải đối phó với mưu đồ của phong kiến phương Bắc, cấu kết với phong kiến phương nam và tây nam nước Việt, nhằm đưa nước Việt trở thành quận huyện của Tàu » thường xảy ra với một xác suất không nhỏ ! Có 34 năm Tân Mão mà hết 6 năm Tân Mão xảy ra biến cố vừa nêu, đủ thấy nước Việt phải chịu đựng áp lực vô cùng lớn của nước làng giềng phương Bắc, đất rộng, người đông, mưu sâu kế ác vô cùng ! Nhưng bao lớp con dân nước Việt đã dựng nước và giữ nước bằng xương máu, mồ hôi, nước mắt với ngọn lửa bất khuất không bao giờ tắt.
Dẫu rằng những sự kiện lịch sử xảy ra vào năm Tân Mão đã có chính sử ghi chép, nhưng thử thống kê, thu thập một số sự kiện tiêu biểu của những năm Tân Mão trong sử Việt để đại chúng hóa là việc cần làm, không ngoài mục đích góp vào ngọn lửa miên tục, bất khuất, của bao thế hệ người Việt đã chịu thương, chịu khó, chịu hy sinh mạng sống để giữ nền độc lập tự chủ và quốc thống nước nhà.
Sau đây là sáu sự kiện lịch sử đồng nhất với biến cố nêu trên :
1/Tân Mão 931, nước Việt quyết giương cao ngọn cờ độc lập :
Khát vọng đất nước độc lập tự chủ không bao giờ nguôi trong lòng dân Việt suốt thời Bắc thuộc. Dẫu tập đoàn phong kiến phương Bắc rất tàn độc, luôn luôn tìm cách phá đổ nền độc lập tự chủ đất nước ta, nhưng lớp lớp con dân nước Việt, liên tục quật khởi, quyết giương cao ngọn cờ độc lập, với niềm tin quốc thống trường tồn. Năm Tân Mão 931, anh hùng dân tộc Dương Diên Nghệ đã làm nên lịch sử độc lập tự chủ cho nước nhà, dù chỉ 6 năm, nhưng đủ cho dân Việt tự tin, quyết tâm thoát khỏi gông cùm nghiệt ngã của nhà Nam Tống ; tạo tiền đề cho Ngô Quyền đại thắng Bạch Đằng Giang, giữ vững nền độc lập của nước Việt .
Dương Diên Nghệ là một hào trưởng, quê quán làng Ràng, nay là Dương Xá, huyện Thiệu Yên, tỉnh Thanh Hóa. Làng Ràng nằm phía hữu ngạn sông Mã, gần nơi sông Chu hoà nước vào sông Mã, gọi là Ngã Ba Đầu. Đây là một trong những làng cổ hội tụ nhiều nét văn hoá truyền thống, vừa mang nét chung của làng cổ truyền thống Việt Nam, vừa có nét riêng của làng cổ vùng châu thổ sông Mã.
Làng Ràng về mặt phong thủy, là cát địa, nằm về phía hạ lưu sông Mã, thủy tụ và thủy giải hài hòa. Chỉ cần xem ảnh chụp vệ tinh thì thấy cồn giữa sông và con đê chia đôi làng, biết sự tụ tán khá đặc biệt của một vùng đắc địa. Nơi đây đã chung đúc người anh hùng Dương Diên Nghệ, một người văn võ toàn tài, từng là bộ tướng của Khúc Hạo [907-917]. Khúc Hạo mất năm 917, con là Khúc Thừa Mỹ kế thế, Dương Diên Nghệ vẫn là bộ tướng của Khúc Thừa Mỹ [917 - 930 ]. Năm 930 nhà Nam Hán đã xua quân sang xâm lược nước Việt, lúc bấy giờ gọi là Tĩnh Hải quận, bắt Tiết độ sứ Khúc Thừa Mỹ, đánh chiếm thành Đại La và cử Lý Tiến làm thứ sử.
Dương Diên Nghệ từng tập hợp hơn 3.000 "con nuôi" làm vây cánh tại lò võ ở làng Ràng, Tư Phố, dùng Ngô Quyền, Đinh Công Trứ (thân sinh của Đinh Bộ Lĩnh), Kiều Công Tiễn... làm nha tướng. Nhằm lung lạc Dương Diên Nghệ, vua Hán là Lưu Cung, sai sứ giả sang phong ông làm Thứ sử Ái Châu. Tương kế tựu kế, Dương Diên Nghệ giả vờ nhận chức để dễ bề phát triển lực lượng, chờ cơ hội đánh đuổi bọn xâm lược. Nhưng không lâu, mùa Xuân Tân Mão[931] Dương Diên Nghệ từ Ái châu, đưa tinh binh ra Đại La thành, đánh đuổi thứ sử Lý Tiến của nước Nam Hán. Lý Tiến bỏ chạy, Dương Diên Nghệ lấy thành Đại La như lấy đồ trong túi. Vua Nam Hán Lưu Cung vội sai tướng Trần Bảo mang quân sang tiếp viện. Dương Diên Nghệ chủ động mở cửa thành nghênh địch, không cần dùng kỳ binh, ông dễ dàng lấy đầu Trần Bảo, tiêu diệt viện binh Nam Hán. Sau chiến thắng vang dội, Dương Diên Nghệ tự phong mình là Tiết Độ Sứ, làm chủ Tĩnh Hãi quận; tuyên bố độc lập nước Việt độc lập. Một biến cố không may cho dân tộc Việt, vào tháng 4 năm 937, Kiều Công Tiễn, hào trưởng Phong Châu, một tướng dưới quyền Dương Diên Nghệ, đã giết hại Tiết độ sứ để cướp quyền. Tuy nhiên, người con rễ kiệt hiệt của Dương Diên Nghệ là Ngô Quyền đã đưa quân Ái Châu ra thành Đại La trừ diệt tên bội phản đê mạt Kiều Công Tiễn, và nối bước Dương Diên Nghệ một cách xuất sắc.
Chiến thắng oanh liệt Đại La, vào mùa xuân Tân Mão [931] đã tạo đòn bẫy cần thiết để dân tộc ta vượt qua gông cùm Bắc thuộc, bước vào thời kỳ phục hưng quốc thống. Chiến công của Dương Diên Nghệ là cơ sở để sau này Ngô Quyền lập nên chiến công hiển hách: đánh tan quân xâm lược Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào năm 938. Tại làng Dương Xá, Dương Diên Nghệ đã trở thành ông Tổ của họ Dương và là vị anh hùng của nước Việt. Khi mất ông được tôn làm Phúc thần. Tưởng nhớ công lao của ông, nhân dân đã lập đền thờ hương khói quanh năm. Câu đối ở đền thờ đã ca ngợi chí khí, oai danh lừng lẫy của ông: “Dưỡng tam thiên nghĩa tử dĩ phục thù đằng đằng sát khí. Chưởng bát vạn hùng sư nhi xuất chiến lẫm lẫm uy danh”. (Nuôi ba vạn con nuôi khí mạnh vô cùng. Cầm tám vạn quân ra trận oai danh lừng lẫy). Một số nhà sử học khi nghiên cứu về Hoàng thành Thăng Long đã có cơ sở khoa học khi khẳng định Dương Diên Nghệ là một trong những người có công phục hồi, xây dựng, mở rộng thành Đại La, về sau trở thành kinh đô Thăng Long vào thế kỷ thứ X.
2/Tân Mão 1171, vua Lý Anh Tông quyết tâm giũ vững lãnh thổ Đại Việt.
Vua Lý Anh Tông lên ngôi khi mới 3 tuổi, trị vì trong 38 năm, nhưng chỉ có thực quyền trên dưới 20 năm cuối đời. Vua trẻ chưa trưởng thành, việc triều chính thuộc về Lê thái hậu và Thái úy nhiếp chính Đỗ Anh Vũ, nên việc nội trị không tốt vào thời trị vì ban đầu của nhà vua, thậm chí để tiếng xấu muôn đời. Tuy nhiên khi vua đã trưởng thành, vào tuổi hai mươi, dựa vào Thái Phó bình chương quân quốc trọng sự Tô Hiến Thành, dần dần lấy lại quyền lực từ Lê thái hậu, đã tỏ rõ là một vị vua sáng mà Thái úy Tô Hiến Thành là một bậc tôi hiền.
Điểm nổi bật của vua Lý Anh Tông là biết chăm lo củng cố và phát triển quân đội, cắt đặt tướng tá thường xuyên đi tuần biên giới. Dẫu sao Đại Việt cũng ở sát nước Tống, nước lớn không nguôi dã tâm đưa nước Việt vào đồ bản, nước Chiêm Thành phương Nam cũng thường xuyên quấy nhiễu và Chân Lạp cũng không ngớt lăm le xâm lược. Ngoài ra nhà vua cũng coi trọng văn hóa giáo dục và xă hội, chú trong giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc khi các vua tiền triều dần dần có xu hướng sùng Nho.
Năm Tân Mão 1171, nhìn chung đất nước thanh bình, nhưng vua Lý Anh Tông không vì thế mà lơ là việc phòng bị, biết củng cố việc nội trị và lo sự nghiệp giáo dục quần chúng. Năm Tân Mão 1171 nhà vua đã làm một số việc sau đây, chứng tỏ sự sáng suốt của vị vua thứ 6 của triều Lý :
Dựng đền thờ thần Hậu Thổ :
Dẫu vua Lý Anh Tông vẫn cho dựng chùa, đúc chuông thờ Phật, củng cố Văn miếu Thăng Long, dựng miếu thờ Khổng Tử nhưng nhà vua không quên việc xiển dương tín ngưỡng thờ các vị thần thuầnViệt, trong đó có thần Hậu Thổ.
Thần Hậu Thổ xuất hiện trong cuộc thân chinh của vua Lý Thánh Tông, giúp nhà vua đánh thắng Chiêm Thành. Khi trở lại kinh sư, vua Lý Thánh Tông cho dựng đền thờ thần Hậu Thổ. Đến năm Tân Mão (1171) vua Lý Anh Tông lập thêm miếu thờ thần Hậu Thổ để có nơi cầu đảo, với niềm mong thần hồ trì cho Đại Việt. Ý nghĩa sâu xa của việc dựng miếu thờ thần Hậu Thổ là giáo dục quần chúng ý thức độc lập tự chủ của nước nhà. Dựng miếu Văn Tuyên Vương, thờ Khổng Tử như thánh nhưng là thánh ngoại lai, vì thế phải dựng miếu thần Hậu Thổ để thờ nữ thần thuần túy nước Nam vậy, nhằm « quân bình tư tưởng » trong khi du nhập tinh hoa tư tưởng ngoại lai, tránh lai căng và đó là « tôn chỉ của Trúc Lâm tông chỉ » về sau.
Trước Đình Ứng Thiên
Nhà vua tự thân đi tuần các hải đảo :
Thời vua Lý Cao Tông của Đại Việt ứng với hai triều vua nhu nhược của triều Nam Tống nên Đại Việt không phải lo mặt Bắc. Chiêm Thành ở phương Nam, đế quốc Chân Lạp ở phương Tây Nam đang thời kỳ phục hưng, rất mạnh về thủy quân, thường hay cướp phá và xâm lược Đại Việt vì vậy vua Lý Anh Tông rất chăm lo việc võ bị, thường xuyên đôn đốc các võ tướng rèn tập binh thư…Năm Tân Mão (1171) nhà vua trực tiếp đi tuần hành biên giới, nhất là đi kiểm tra sự phòng thủ các hải đảo. Sự kiện này là một điểm son của triều Lý Anh Tông. Nhà vua với vị cố vấn Tô Hiến Thành rất quan tâm bảo vệ không những đất liền mà cả những vùng biển của tổ quốc. Đến thời Lý Anh Tông, ranh giới của Đại Việt về phía Nam có thể đến sông Bến Hải (vĩ tuyến 17)…
Nhà vua vi hành xem xét đời sống của dân chúng.
Lo phòng thủ bên ngoài mà không an dân thì không củng cố được khối đại đoàn kết dân tộc. Mà muốn đoàn kết thì phải tạo công bằng xã hội . Năm Tân Mão 1171, vua Lý Anh Tông vi hành đến các địa phương để thăm dân, nghe dân thán oán nhằm trừng trị những tham quan ô lại, tiêu trừ nạn cường hào. Chính những con sâu độc quan tham, cường hào là nguyên nhân của sự mất đoàn kết, dẫn đến mất nước.
Tân Mão (2011), hoài niệm cha ông, muôn nỗi cảm hoài. Vua sáng thì tôi hiền, đó là mối quan hệ hữu cơ thường thể hiện mọi thời. Vua Lý Anh Tông là vị vua sáng suốt khi dùng bề tôi giỏi như Tô Hiến Thành. Vị cố vấn Tô Hiến Thành phò vị vua sáng nên đem hết tài năng đức độ ra thi thố. Tuy nhiên, lẽ thịnh suy là thường tình, khi những vì sao đã tắt, tất yếu bóng đêm lại loang chiếm.Tội cho nhân dân Đại Việt, phải chìm đắm trong những năm tháng tối tăm của thời mạt Lý với các vua tối Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông. Thời kỳ đầu vua Lý Anh Tông còn nhỏ tuổi, là vua tối, nên xuất hiện tôi ác như Thái Úy Đỗ Anh Vũ, tôi tham Đái Vũ.
3/ Tân Mão 1291, vua Trần Nhân Tông quyết thắng trên mặt trận ngoại giao
Ba lần xâm lược Đại Việt đều bị thất bại, nhà Nguyên vẫn chưa nguôi mối hận, mà cũng chưa hết tham vọng đưa Đại Việt vào đồ bản của đế quốc Nguyên Mông. Hốt Tất Liệt cho người đưa chiếu dụ sang Đại Việt nhằm đe nẹt vua Trần Nhân Tông, yêu cầu vua Trần sang kinh đô của nhà Nguyên chầu hầu. Lời chiếu dụ cho Thế Tử nhà Trần trong năm Tân Mão [1291] : « Các vị tổ tông ta đã quy định rằng : phàm các nước quy phụ, nước nào thân hành tới chầu thì nhân dân được an cư lạc nghiệp như thường ; còn nước nào kháng cự không phục tùng, thì bị tiêu diệt, điều ấy khanh đă biết rồi. Cho nên ta sai sứ thần qua mời thân sinh khanh qua chầu, rút cuộc không vâng lời, chỉ cho ông chú qua thay mặt chầu triều. Vì thân sinh khanh không vào chầu, nên ta phong cho người chú làm An Nam Quốc Vương và sai sứ thần là Bất Nhãn Thiết Mộc Nhĩ đưa về nước. Ông thân khanh lại giết người chú và đuổi sứ thần của ta, đến nỗi ta phải dấy binh qua đánh để hỏi tội, nhân dân của khanh bị chém giết thật nhiều mà quân ta cũng có tổn hại. Lúc đó Trấn Nam Vương Thoát Hoan còn trẻ tuổi, do đường biển tiến binh, lầm nghe theo Toa Đô và Ô Mã Nhi, nên rơi vào tay khanh, nhân đó khanh mới được tạm yên đến nay. Khanh như biết thân hành sang chầu triều, thì những phù ấn về tước vua, ta sẽ cho cả không tiếc gì, đất đai và nhân dân ngõ hầu được bão tồn vĩnh viễn »(Lê Tắc, An Nam Chí Lược, NXBTH,Huế, 2001).
Các vị tổ tông của Hốt Tất Liệt quy định như trên, đã chứng thực trên nhiều nước từ Á sang Âu, nhưng không thể hiện thực ở Đại Việt, đó là sự thật lịch sử ! Quy định ấy không khả thi ở Đại Việt, bằng chứng hãn Mông Kha (anh ruột của Hốt Tất Liệt, trị vì đế quốc Mông Cổ từ 1251 đến 1259) từng sai tướng Ngột Lương Hợp Thai đem quân xâm lược Đại Việt vào năm 1258. Vua Trần Thái Tông, thân cầm quân cùng với Lê Tần (Lê Phụ Trần), Hà Bổng…đã đánh thắng quân Nguyên, quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi Đại Việt trong năm 1258. Mông Kha chết năm 1259, em là Hốt Tất Liệt vừa kế tục, tiếp tục tiến hành chiến tranh nhằm diệt nhà Nam Tống và xâm lược Đại Việt.
Tháng 8 , năm 1279, khi Nam Tống hoàn toàn bị Hốt Tất Liệt thôn tính, Hốt Tất Liệt thành lập Đại Nguyên.Vua nhà Nguyên ra lệnh đóng thuyền chiến chuẩn bị đánh Đại Việt và Nhật Bản. Năm 1281, vua Nguyên yêu cầu vua Trần Thánh Tông qua chầu. Lúc bấy giờ vua Trần Thánh Tông đã lên làm Thái Thượng Hoàng, đã từ chối và cử chú mình là Trần Di Ái sang thế. Trần Di Ái là con trai thứ tư của Tổ Trần Thừa và là em ruột của Trần Thái Tông, tức Hiển Tổ Thúc (ông nội chú) của vua Trần Nhân Tông.Vua Nguyên nhân cơ hội này phong Trần Di Ái làm An Nam quốc vương và gửi thư cho vua Trần thông báo việc lập Di Ái thay vua Trần. Mưu mô ấy hoàn toàn bị phá sản. Thượng Hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông, với sự phò tá hết mình của Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, …đã tổ chức, lãnh đạo hai cuộc kháng chiến lần II, lần III thành công rực rỡ, làm tan tành kế hoạch xâm lược Đại Việt của Hốt Tất Liệt.
kháng Nguyên lần II
Trấn Nam Vương Thoát Hoan Sơ đồ hành binh quân Nguyêntrong kháng Nguyên lần III
Sau khi đưa quân sang “hỏi tội » Đại Việt không thành công, Hốt tất Liệt lại gửi chiếu dụ như trên. Biết các vua Nguyên đang dần dần chuyển biến từ võ trị sang văn trị nên vua Trần Nhân Tông đã hết sức nhún mình, mưu phạt tâm công, đánh thức “ tính bổn thiện” trong vua quan của Thiên Triều Nguyên Mông . Tháng 3 năm 1292, Thiên sứ Trương Lập Đạo vào Thăng Long , vua Trần Nhân Tông và triều thần nghênh tiếp long trọng và nhà vua dâng biểu có đoạn :
“ Than ôi! Người ở thế gian mà được gặp mặt thánh nhân, sách Phật cho là đại phúc, sách Nho gọi là cuộc gặp gỡ trong khoảng ngàn năm mới có một lần. Tôi há không muốn xem cảnh phong quang của thượng quốc, gội ơn mưa móc của Thánh triều, dại gì trái ngược mệnh lệnh để mang họa?
Nhưng có mặt trời ở trên soi xét, lấy thương tình mà nói, chỉ vì tham sống sợ chết, mà đắc tội với Thánh triều. Chúng tôi ở góc biển chân trời, được sự che chở khoan dung là nhờ có bệ hạ soi sáng như mặt trời, mặt trăng, bao dung như trời cao, đất rộng, nếu không thì nghiêng hết nước biển cả bốn phương cũng không đủ rửa tội của tôi cho sạch.”. Chỉ một việc vua Trần không qua chầu Thiên triều là vì « tham sống sợ chết » mà triều Nguyên đã dụng binh, đốt nhà cửa, đào mồ mả tổ tiên nhà Trần, tàn hại hàng vạn sinh linh hai nước thì tự vua Nguyên phủ định những lời tán tụng của vua Trần, nghĩa là vua Nguyên không phải là Thánh nhân và tội của vua Nguyên mới không rửa sạch dẫu dùng hết nước biển bốn phương ! Tội “của tôi” hay tội “của ngài” ? Vua Trần nhún mình để yên dân, làm « hạ nhiệt » thói hung hãn và ngạo mạn của vị hậu duệ tham tàn của những đại hãn Mông Cổ khét tiếng.
Năm 1292, tháng 3 ngày mồng 3, có tiết hàn thực, vua Trần Nhân Tông đang để tang Thượng Hoàng Trần Thánh Tông, phát nguyện trường chay, giữ giớí, biếu Thiên sứ Trương Lập Đạo bánh xuân và tặng bài thơ:
“ Thôi múa cành dâu, thử áo xuân,
Ngày nay hàn thực lại đương tuần.
Mâm sơn hồng ngọc, bánh xuân thể.
Tục cũ An nam cứ mỗi lần.”
Múa cành dâu tức múa Đô Chi, một điệu múa xưa ở nước Trung Hoa . Có thể là vua Trần Nhân Tông cho rằng mình đang có tang nhưng vì đón Thiên sứ, tiếp chỉ của vua Nguyên nên phải “thử áo xuân”, tức mặc áo đại triều để tỏ sự trọng thị nước lớn. Nhưng ẩn ý của vua Trần Nhân Tông là nhắc khéo Trương Lập Đạo: cha ông của ngài là dân nước Trung Hoa, ăn lộc nhà Tống , tức ngài là dân mất nước, lại mặc áo Thiên sứ nhà Nguyên Mông sang đây ra uy làm gì. Tiết hàn thực, cấm lửa để tưởng nhớ Giới Tử Thôi, một người vào rừng thà bị đốt cháy chứ không thờ chúa mới bội ân. Thiên sứ Trương Lập Đạo có áy náy việc ông đang có tang nước Tống mà hưởng bổng lộc của ngoại Mông không ? Mâm sơn hồng ngọc, đựng bánh xuân để biếu ngài là chúng tôi tỏ rõ chữ lễ với Thiên sứ Thượng quốc, nhưng cũng nhắc ông rằng tâm trong sáng, lòng sắt son mà nhận bánh xuân, tức bổng lộc của nhà Nguyên Mông thì có hợp đạo thánh hiền không? Còn nói cho ngài biết, tôi [ Trần Nhân Tông ] trước sau như một, cứ theo chí hướng của tổ tông: thần phục thượng quốc để tránh can qua, yên hưởng thái bình nhưng không khuất phục các ông đâu nhé.“Tục cũ An Nam cứ mỗi lần”là như thế!
Trúc Lâm đệ nhất tổ
Vua Trần Nhân Tông đã nhún mình, chịu “ thần phục” nhà Đại Nguyên trên mặt ngoại giao, nhằm cầu “hòa bình và ổn định” không phải cho mình mà cho hằng triệu sinh linh của hai nước Việt, Nguyên là xuất phát từ “LÒNG TỪ BI” của ngài. Thế thì Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt và Nguyên Thánh Tổ Thiết Mộc Nhĩ nếu không phá chấp thì các vị ấy không phải là bậc Thánh Minh vậy. Còn sứ giả Trương Lập Đạo của Đại Nguyên, gốc Tống, trong những ngày ở Đại Việt chắc chắn thấy được sức mạnh “đại đoàn kết” của Đại Việt, khi về nước báo cáo Hốt Tất Liệt khiến ông vua hung hãn này phải xét lại. Vua Trần Nhân Tông đã thành công, hơn 100 năm, các vua Nguyên kế tục Hốt Tất Liệt không còn đưa quân xâm lược Đại Việt nữa. Chiếu dụ năm Tân Mão 1291, vừa đe nẹt Đại Việt vừa yêu cầu vua Trần Nhân Tông sang chầu, không có tác dụng, Đại Việt vẫn giữ được sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ tiên.
4/Tân Mão 1411, năm nhà Minh giả nhân giả nghĩa để lung lạc quân dân kháng chiến Hậu Trần.
Sau đại thắng Bô Cô lừng lẫy, ngày 14 tháng 12 năm Mậu Tí (1408), vua tôi Hậu Trần mất đoàn kết đến nỗi Giản Định Đế Trần Ngỗi giết Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân vào tháng 2 năm Kỷ Sửu (1409), khiến cuộc khởi nghĩa Hậu Trần bị khủng hoảng nội bộ. Hai người con kiệt hiệt, của hai đại thần chết oan, là Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị phải ly khai, đón rước Trần Quí Khoáng lên ngôi vua, lấy niên hiệu Trùng Quang vào ngày 17 tháng 3 năm Kỷ Sửu (1409) ở Chi La (Đức Thọ, Hà Tĩnh). Từ đây đã bắt đầu sự rạn nứt trong ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hậu Trần.
Năm Canh Dần (1410), mặc dầu Trùng Quang Đế đánh thắng một số trận lớn nhỏ, giết nhiều quân Minh, đốt gần ngàn thuyền giặc, hào kiệt nổi dậy nhiều nơi, làm quân Minh khiếp sợ…nhưng « vì hiệu lệnh không thống nhất, quân đội không chỉ huy chung, nên sau đều tan vỡ cả ». Trùng Quang Đế phải về cố thủ ở Nghệ An.
Năm Tân Mão (1411) là năm đen tối của Đại Việt, Trùng Quang Đế gần như thúc thủ ở Nghệ An, vì nhà Minh đã tiến hành một chính sách rất mị dân và có hiệu quả.
Hoàng Phúc của quân xâm lược Minh là tay cáo già, làm ra vẻ y chỉ là một sứ giả của thiên triều, qua An Nam giúp « ổn định tình hình » mà thôi ! Bằng chứng y thay mặt vua Minh, trao chức quyền cho các thổ hào, giao đất đai và dân để họ trở thành thổ quan. Chính sách thâm độc bản chất là chính sách « lấy người Việt trị người Việt » đó thôi ! Thật vậy, đem lợi lộc để phủ dụ những người Việt có tài nhưng bất đức, đặt lợi nhà trên lợi nước, chỉ biết vinh thân phì gia mà chẳng cần quốc thể, lấy Nho giáo làm chỗ dựa, coi thiên triều Minh là tối thượng còn bộ tham mưu của Trùng Quang đế của Đại Việt là đám giặc gây rối, cam tâm nhận chức tước của nhà Minh và hưởng bổng lộc bằng lúa gạo do đồng bào mình tốn mồ hôi, nước mắt để làm ra, trên những tấc đất thắm máu anh hùng liệt sĩ bao đời. Còn vua nhà Minh ra dụ với lời đường mật, không phải ai cũng sáng suốt nhận ra. Tháng 2 năm Tân Mão (1411), Mình Thành Tổ xuống chiếu ân xá, giả nhân giả nghĩa, đại lược : « Giao chỉ đã thuộc về Chức phương (thuộc đồ bản nhà Minh) mà liền mấy năm chưa được yên nghỉ. Nghĩ thương dân ấy sau cơn khốn khổ, đặc cách ban ân khoan thứ, xót thương, ngõ hầu khiến cho triệu dân đều được thấm nhuần đức trạch ».
Cuộc kháng chiến hậu Trần chỉ mới 5 năm nhưng quá nhiều mất mát đau thương, người chết kẻ bị thương, bữa đói bữa no, bỏ nhà bỏ cửa,…nên một bộ phận kháng chiến không khỏi sờn lòng. Huống chi nghe lời chiếu đầy « nhân nghĩa », của Minh Thành Tổ giả dối, không ít người ra hàng quân xâm lược để cầu an hưởng lợi. Minh Thành Tổ qua bài chiếu như hiện thân của con trời, đầy lòng nhân hậu, biết bao dung,…, ông ta giấu móng vuốt của loài cáo trong cái bao tay nhung, chìa ra vỗ về quân dân kháng chiến hậu Trần. Hình ảnh Minh Thành Tổ nhân từ (khác Đế Ngỗi, Đế Khoáng,vua nước Nam hay chém giết quân lính, tướng phản trắc và đồng bào lầm lỡ hoặc bị hàm oan) đang ngấm dần vào tâm khảm của một bộ phận người Việt. Minh Thành Tổ nắm được nhược điểm của Trùng Quang Đế để « mưu phạt tâm công », lung lạc lòng người Việt nhẹ dạ. Ừ thì vua nào cũng là con trời, xuống trần để chăm sóc dân mà thôi, không bắt tội, cho ruộng để cày, dưới sự chỉ huy của các quan người Việt …có mất nước đâu. Minh Thành Tổ ban dụ : « Người Giao Chỉ đều là dân của trời, đã vỗ về chúng, thì chúng là con đỏ của trẫm. Chúng nhất thời đi theo bọn giặc, nghe nói bị giết, trẫm thực thương xót trong lòng, sao lại nỡ để chúng như vậy ? ». Con cáo già đang hát ru bầy gà nháo nhác, đang mất hướng về chuồng, bằng lời ru của mẹ ru con ! Ôi, cáo già Minh Thành Tổ quả là vị « thiên tử sáng suốt », một « minh quân » của đám dân đen trở thành con đỏ của y. Trên danh nghĩa, các vua đầu triều Trần như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông cũng từng nhận sắc phong An Nam Quốc Vương của thiên triều đó thôi. Con cáo già, giả nhân giả nghĩa, hiểu rõ dân tình nước Việt hơn cha mẹ hiểu con khi viết những lời dụ toát lên sự cảm thông những dân Việt lỡ theo Trùng Quang Đế : « Vả lại, chỉ bọn gây tội ác , còn trăm họ nơi bãi biển, hang núi, bị chúng cưỡng bức, uy hiếp, hoặc giúp chúng lương thực, hoặc bị chúng đem theo làm giặc ở các nơi, đều là bất đắc dĩ, bị chúng làm cho lầm lỡ chứ không phải do bản tâm. Nếu biết hối hận sửa bỏ, đều cho được đổi mới ». Dân Việt phần lớn là nông dân, an phận sau lũy tre bụi chuối, mà các quan sở tại vẫn là người Việt nên không ít người nhẹ dạ, bị « sa bẫy » của loài nhện độc. Không những ân xá, Minh Thành Tổ còn tạo cơ hội cho những quân dân lầm lỡ theo kháng chiến khi dụ : « Làm ác chỉ có mấy đứa, trăm họ không có tội gì. Trong đó, người nào hiên ngang dũng cảm, có kiến thức, có thể bắt được mấy đứa kia đem dâng thì nhất định sẽ ban cho quan to, tước cao. Còn bọn làm ác, nếu biết tẩy rửa tâm trí, đổi lỗi sửa mình, thì chẳng những được khoan tha tội lỗi, lại còn chắc chắn được làm quan vinh hiển nữa ».
Đám nho sĩ, theo học thuyết Khổng Mạnh, trong cơn mê « đại đồng », vẫn thấy mình làm đúng đạo thánh hiền, khi phục tùng thiên triều mà đứng đầu là Minh Thành Tổ. Vừa không trái với đạo trời, vừa làm thổ quan với bổng lộc dồi dào…nên không thiếu người tài hưởng ứng và nối gót Hồ Nguyên Trừng. Quả Minh Thành Tổ có tài dụ dỗ, khi trọng dụng Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng, con trai của ông thượng hoàng Hồ Quí Ly bị bức tử và anh ruột của ông vua nước Nam Hồ Hán Thương bị nhà Minh giết hại. Và « ăn cơm chúa múa tối ngày », bọn « mãi quốc cầu vinh » cũng có thực tài và được sự cổ võ, khích lệ, ban thưởng kịp thời qua sắc chỉ của vua triều Minh : « Các ngươi tài năng khôi kiệt, tư chất đôn hậu, sáng suốt nhìn xa, trước đă thành tâm gắng sức, tận trung với triều đình, nghĩ tới công lao của các ngươi, đặc ân thăng cho chức vụ vinh hiển. Nay nghe các ngươi biết làm tròn chức vụ, dốc sức lập công, bắt giết bọn giặc phản nghịch, giữ vững đất đai, nghĩ đến lòng trung thành ấy, xiết nỗi vui mừng khen ngợi. Hiện nay, bọn giặc còn sót chưa dẹp yên hết, các ngươi hãy lập thêm nhiều công, ra sức quét sạch bọn chúng để tiếp nối công tích trước đây. Ta đặc cách sai người sang ủy lạo ban thưởng. Các ngươi hãy kính cẩn phục tùng mệnh lệnh ân sủng này ».
Nếu Minh Thành Tổ thực tâm với họ Trần, với Đại Việt, không có dã tâm chiếm đoạt Đại Việt, muốn yên dân cả hai nước, thì chấp nhận ý cầu phong của Trùng Quang Đế. Minh Thành Tổ đã quyết nuốt chững Đại Việt nên từng bắt giam rồi giết chánh phó sứ Nguyễn Nhật Tư (Hành khiển), Lê Ngân (Thẩm hình) khi đoàn sử giả theo lệnh của Trùng Quang Đế sang cầu phong. Một bậc trí thức người Minh, Tham Nghị Giải Tấn, tiến sĩ cập đệ, bổ Hàn lâm học sĩ, nhìn xa trông rộng, biết nhà Minh không thể cưỡng chiếm Đại Việt, dâng sớ trái ý vua Minh, nên bị đày qua làm tham nghị ở Đại Việt (đã bị chiếm). Quan tham nghị Giải Tấn dâng sớ lên vua Minh Thành Tổ, đại ý : « Giao Chỉ chia đặt quận huyện không bằng để nguyên như cũ, phong tước chia đất cho các thổ hào để họ sát hại lẫn nhau, dẫu có cái được không bù được những cái mất, cái lợi không chữa được cái hại ». Minh Thành Tổ đã giết chết Giải Tấn vì y đã phóng lao rồi ! Thật vậy, khi đoàn quân chinh Nam sắp qua xâm lược Đại Việt, Thành Tổ ra lệnh cho tướng Chu Năng: « Một khi binh lính vào nước Nam, trừ sách vở của đạo Phật và đạo Lão, còn thì mọi sách vở, văn tự, cả những dân ca, sách dạy trẻ…đều phải đốt hết, một mảnh, một chữ cũng không chừa. Những bia nào Trung Hoa xây dựng từ trước thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy cho hết… »
Dẫu chính sách mị dân có bài bản, diệu kế « lấy người Việt cai trị người Việt » để che giấu bản chất xâm lược, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc Việt, nhưng triều Minh làm sao che mắt vị anh hùng Lê Lợi, đang nghiền ngẫm binh thư, lại càng không thể lung lạc ý chí sắt đá cùng với trí tuệ tuyệt vời của vị Thái học sinh (Tiến sĩ) triều Trần Nguyễn Trãi. Những ngày ngồi viết Bình Ngô Sách, Nguyễn Trãi đã vào tuổi 32, từng thấy sức mạnh quật khởi của dân tộc qua đại thắng Bô Cô, thấy được bài học quân thần đầy bi kịch của Giản Định Đế- Đặng Tất, thấy được sự dao động « tư tưởng » của vua quan nhà Minh xâm lược…Lịch sử là như thế, kết cục là như thế, những ngày ngồi viết Bình Ngô Sách chắc là Nguyễn Trãi ngộ rằng : Lê Lợi quả có con mắt tinh đời sẽ dùng mình như một vị quân sư và bản thân Nguyễn Trãi cũng biết coi tổ quốc trên hết, khi toàn tâm toàn ý với hai chữ « vi thần » để vào Lam Sơn tụ nghĩa.
5/Tân Mão 1471, vua Lê Thánh Tông ở thành Hóa Châu trong cuộc thân chinh.
Thời thuộc Minh, thành Hóa châu là nơi đặt bản doanh của cuộc khởi nghĩa Hậu Trần với những người con kiệt hiệt Trần Ngỗi, Trần Quí Khoáng, Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, …Rồi bộ tham mưu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn cũng từng coi Hóa Châu như một chỗ dựa, của đòn bẫy mạnh , cùng cả nước tiến ra Đông Quan, bứng sạch bọn xâm lược Minh ra khỏi bờ cõi Đại Việt. Và chỉ hơn nửa thế kỷ sau, thành Hóa Châu, vào năm Tân Mão 1471, lại là nơi vua Lê Thánh Tông đóng quân, chuẩn bị lương thảo, thao luyện quân sĩ, nắm bắt tình hình địch, rồi sớm đưa đại quân tiến đánh Chiêm Thành. Chiến dịch lớn này nhằm tiêu trừ những âm mưu, thủ đoạn tàn độc của nước một nước ở phương Nam, dựa vào thiên triều phương Bắc để xâm lấn Đại Việt.
Thời vua Lê Thánh Tông trị vì, trước năm 1471, Hóa Châu là vùng phên giậu phương Nam của Đại Việt, hứng chịu nhiều cuộc xâm lược của quân xâm lược Chiêm Thành, có « hậu thuẫn ngầm » của vua Hiến Tông triều Minh. Thật vậy, mỗi lần xâm lược Đại Việt (không chỉ dừng lại ở mức cướp phá), Trà Toàn đều cử sứ giả sang « xin chỉ dụ » của vua Minh. Khi vua Lê Thánh Tông quyết định thân chinh để trả đũa sự gây hấn của Chiêm Thành, triệt bỏ những mầm mống chiến tranh đến từ phương Nam, nhà vua cũng không quên cử đoàn sứ giả sang triều Minh để nói rõ lý do, nhằm tránh bị áp lực từ phương Bắc.
Vua Lê tấu cáo ở Thái miếu, tấu sớ có đoạn : « Thần là kẻ ít tuổi bất tài, vào nối nghiệp lớn, chỉ mong yên dân giữ nước đâu dám dùng nhảm việc binh. Chỉ vì giặc Chiêm Thành ngu xuẩn, nó điên cuồng nhòm ngó nước ta. Không sợ trời tạm bợ cho qua ; với nước ta nó gây thù địch. Trước thì đánh cướp châu Hóa để hòng chiếm đoạt đất đai, sau lại sang báo triều Minh, âm mưu diệt hết tông miếu. Là phường cha chó mẹ lợn ; làm việc cướp nước, giết vua bạo nghịch. Để vỗ cho Thi Nại béo no ; nó dao thớt cắt xẻo Tượng Quận. Chứa ác ngập trời, làm hại khắp cõi… » . Sanh sự thì sự sanh, gieo gió phải gặt bão. Nước Chiêm Thành, đứng đầu là vua Trà Toàn, rất thâm độc khi cử sứ giả qua triều Minh, nói xấu Đại Việt, thậm chí kích động triều Minh đem quân hỏi tội nước ta, để Đại Việt phải « lưỡng đầu thọ địch », muốn nước ta lâm vào trạng huống xưa, đó là cuộc xâm lược Đại Việt của liên minh Tống-Chiêm-Chân Lạp 1076.
Trong chiếu thân chinh, vua Lê Thánh Tông ban năm Canh Dần (1470), có đoạn : « Rồi như bầy cáo xiểm nịnh với Yên Kinh, ton hót để gièm pha người khác, định như giống tằm ăn lấn ra Tượng Quận, tính toan đâm trước mặt sau lưng. Mong cột đồng dựng ở Hoành Sơn, để quân Hán xuống đến Bặc Đạo. Rêu rao tố bậy, gièm nhảm chẳng chừa. Lại vu cáo ta điều động binh sĩ muôn người, sắp thôn tính cõi bờ triều Bắc, lại bảo ta như hai mặt trời cùng mọc, tự tôn là hoàng đế nước Nam, bảo là ta cướp mất lễ cống ngọc vàng, bảo là ta tranh mất giống voi cái trắng… »
Trà Toàn đối nội đã xằng bậy mà đối với Đại Việt lại coi thường, thậm chí rất hỗn xược với các tiên đế triều Lê. Thật vậy, trong chiếu thân chinh, vua Lê Thánh Tông đã kể tội Trà Toàn : « Khi Nhân Miếu (Lê Nhân Tông) lên ngôi cả, thì giống nòi chúng đã rất đông.Nương chốn Cổ Lũy như hang cầy, cậy thành Chà Bàn như tổ kiến. Điên cuồng mất trí, nó xưng bừa là cha chú, gọi đức vua ta là cháu con ; mất đức ra oai, lại nhận bừa là Trời Phật, coi nước Việt ta là tôi tớ. Tội ác chất chồng, giấu sao cho nổi ?Những lời lăng nhục không thể nêu tường… ». Đã thế Trà Toàn chọc giận Đại Việt vào năm Canh Dần (1470). Năm ấy, vào tháng ba, thừa cơ vua Lê Thánh Tông bận thân chinh dẹp giặc Bồn Man, quân Chiêm dùng thuyền vượt biển vào cướp phá Hóa Châu. Nghiêm trọng nhất là vào tháng 8, đích thân vua Chiêm là Bàn La Trà Toàn chỉ huy đại quân xâm lược Đại Việt. Đại Việt sử ký toàn thư chép : « Tháng 8 ( Canh Dần, 1470), quốc vương Chiêm Thành Bàn La Trà Toàn thân hành đem hơn mười vạn quân thủy bộ cùng voi ngựa đánh úp châu Hóa. Tướng trấn giữ biên thùy ở châu Hóa là bọn Phạm Văn Hiển đánh không nổi, phải dồn cả dân vào thành, rồi cho chạy thư cáo cấp. »(s.đ.d tr.441).
Năm Tân Mão 1471, cả nước như mở hội, thanh niên tòng quân, theo vua xuôi Nam. Riêng dân Hóa Châu hừng hực khí thế. Qua rồi những ngày chiến đấu cô lẻ, tan cửa nát nhà vì quân Chiêm xâm lược, phải vào thành Hóa Châu để sống và chiến đấu, trong vòng vây lớp lớp của giặc, mà vua ta ở xa ngàn dặm. Giờ đây, có vua với muôn đội hùng binh thao luyện mỗi ngày, phá Tam Giang dậy sóng, nhà nhà nô nức sản xuất để làm thêm lúa gạo, người lo bứt cỏ, người vót tre làm tên, … Tất cả đều lo cho chiến dịch lớn. Thật và vui, khi một cô gái làng Hòa Duân lại lọt mắt xanh vị vua tài hoa Lê Thánh Tông. Thế là có đám cưới, một cuộc rước linh đình từ cửa Nhuyễn (cửa Thuận An) theo phá Tam Giang, vào sông Phú Xuân (sông Hương) rồi theo sông con vào thành Hóa Châu. Cuộc hôn nhân làm vua Lê rất gần dân, quân và dân như cá với nước, và Hóa Châu ngày ngày như lễ hội. Thành Hóa Châu phấp phới cờ bay, từ vua chí dân muôn vạn tấm lòng vì sự vững bền của đất nước.
6/Tân Mão 1771, chúa Nguyễn tái chiếm thành trấn Hà Tiên từ quân xâm lược Xiêm
Dân của thành trấn Hà Tiên trong những ngày tháng 7 Tân Mão 1771 rất hoang mang khi họ chứng kiến điềm lạ, khi nhìn về phương Nam thấy hai cầu vồng đỏ giao nhau rồi hóa ra hình chữ thập. Lại trước lầu Bắc Đế có đống cát cao hơn một trượng, bỗng bị lốc xoáy tung lên giữa lưng trời, trong thành mờ mịt, một chốc đám cát ấy rơi xuống đất tạo thành hình chữ thập. Người ta đồn đoán khoảng tháng 10 thành trấn Hà Tiên sẽ bị mất vào tay giặc. Thật kỳ lạ, đúng tháng 10 năm Tân Mão, quân xâm lược Xiêm La, dưới sự chỉ huy của Phi nhã (Phya) đất Mang Tát là Trịnh Quốc Anh, dùng thuyền chiến sang vây đánh thành trấn Hà Tiên. Quan Tổng binh là Mạc Thiên Tứ giữ thành không nổi phải bỏ thành chạy...Không ngờ triệu chứng bất tường ấy lại báo hiệu ngày sụp đổ của tập đoàn phong kiến xuống dốc ở đô thành Phú Xuân.
Thật ra, trấn Hà Tiên những năm tháng ấy là nơi lưu vong của một hoàng tử nước Xiêm, có tên là Chiêu Thúy. Năm 1767, quân Miến Điện xâm chiếm Xiêm La bắt được vua Xiêm là Phong vương (Boromoraya V) và con là Chiêu Đốc, thiêu hủy thành Ayutthaya, nhưng sau đó phải rút về vì Miến Điện bị Trung Hoa tấn công. Hai người con của Phong vương là Chiêu Xỉ Khang chạy thoát sang Chân Lạp và Chiêu Thúy sang Hà Tiên lánh nạn. Chiêu Thúy từng được linh mục Bá Đa Lộc che chở ở Hòn Đất và được Tổng binh Mạc Thiên Tứ dung dưỡng, có lúc vị hoàng tử này phải vào hang sinh sống; hang này về sau có chùa Hang nổi tiếng của đất Hà Tiên. Đây là hang động thiên nhiên trong ngọn núi đá vôi bị xâm thực cách đây trên vạn năm. Trong hang có nhiều thạch nhũ với nhiều hình tượng lạ mắt, kỳ vĩ. Chùa Hang nằm trong đó. Chùa có nhiều pho tượng Phật, đặc biệt có 2 pho tượng Phật Thích Ca đã an vị hơn 300 năm.
Khi vương triều Phong vương bị sụp đổ, một tướng Xiêm là Trịnh Quốc Anh, khởi binh chống lại quân Miến rồi tự xưng vương năm 1768. Trịnh Quốc Anh (Taksin) tổ chức lại lực lượng, chiêu mộ rất nhiều hải tặc gốc Hoa đang hoạt động trong Vịnh Thái Lan để tăng cường lực lượng. Trịnh Quốc Anh sinh tại Ayutthaya , được đặt tên là Tín. Cha ông Trịnh Dong, người gốc Hoa xuất thân tại Triều Châu, mẹ ông là người Thái tên là Nok-lang. Lúc lên 7, ông bắt đầu được giáo dưỡng ở một ngôi chùa Phật Giáo. Sau 7 năm học, cha ông gửi đi làm tiểu đồng hoàng gia. Theo truyền thuyết, khi ông và bạn là Tong-Duang còn niên thiếu , họ đã gặp một ông thầy bói người Hoa xem tướng, nói cả hai có chỉ tay may mắn và cả hai sẽ trở thành vua. Quả thật Tong-Duang sau này là vua Rama I kế vị của vua Taksin.
Những người Hoa lang bạt kỳ hồ, có người lo buôn bán làm ăn, có người khai hoang lập ấp, nhưng có người trở thành cướp biển. Nếu ở Xiêm La có Trịnh Quốc Anh (Phi nhã Tân) dung túng bọn vong mạng này thì ở Đàng Trong anh em nhà Tây Sơn cũng từng dùng bọn này trong một số giai đoạn nhất định. Xuất thân là cướp biển nên chúng thường hay phản trắc. Những ngày bi đát của thành trần Hà Tiên có góp phần của hải tặc. Năm 1769, quân Khmer dưới sự chỉ đạo của một cướp biển người Triều Châu, tên Trần Liên, đổ bộ lên cướp phá Hòn Đất, rồi kết hợp với hai gia nhân của Mạc Thiên Tứ (Mạc Sung và Mạc Khoán), tiến đánh Hà Tiên. Hai gia nhân làm phản và một số lớn cướp biển Khmer bị Thiên Tứ giết chết, Trần Liên thoát được chạy sang Xiêm La tị nạn. Lợi dụng cơ hội này Mạc Thiên Tứ chuẩn bị đưa hoàng tử Chiêu Thúy về Xiêm La đoạt lại ngôi báu. Ông cho luyện tập binh mã rồi mang quân ra chiếm lại Hòn Đất (1770) và chuẩn bị tiến công Xiêm La.
Công việc đang tiến hành thì vào đầu năm 1771, một cận thần của Mạc Thiên Tứ, tên Phạm Lam, nổi lên làm phản. Phạm Lam kết hợp với hai cướp biển Trần Thái (Vinhly Malu, người Mã Lai) và Hoắc Nhiên (Hoc Nha Ku, người Khmer) lập đảng gồm 800 người và 15 tàu thuyền tiến vào Hà Tiên nhưng bị Mạc Thiên Tứ đánh bại.
Giữa năm 1771, nhận thấy những đám cướp biển không đánh lại Mạc Thiên Tứ, Trịnh Quốc Anh dùng Trần Liên làm hướng đạo, đích thân chỉ huy đạo quân 20.000 người tiến chiếm Hà Tiên. Tháng 9, Phi nhã Tân thấy Chiêu Thúy hiện đang ở Hà Tiên, lo rằng việc ấy là hậu họa, vừa mới phá giặc ở Lục Côn (thuộc nước Miến Điện) y điều 2 vạn lính thủy lục, dùng tên cướp Trần Thái ở núi Bạch Mã làm người dẫn đường. Ngày mùng 3 tháng 10, chúng tiến đến Hà Tiên, vây chặt trấn thành (thành có 3 mặt chắn bằng ván gỗ, không phải xây bằng đất đá). Lúc ấy quân giữ Hà Tiên rất ít ỏi, nên họ phải đóng chặt cửa thành để chống cự, mặt khác lo cấp báo với đồn dinh Long Hồ. Thủy quân của Xiêm chiếm được núi Tô Châu rồi dùng súng lớn bắn vào thành, tình thế rất nguy cấp.
Đêm mồng 10, kho thuốc súng ở núi Ngũ Hổ bốc cháy khiến cả thành đều chấn động. Ngũ Hổ sơn ở về phía bắc trấn thủ chừng nửa dặm. Thế núi vai khum, đầu cúi, giống như cọp co mình tựa vào góc gò, là dãy núi hộ vệ cho trấn thành, đây là vị trí trọng yếu về mặt quân sự.
Non nước Hà Tiên
Qua đêm 13, quân Xiêm từ cửa sau của thành, phá cửa xông vào phóng lửa đốt dinh, ánh lửa rực cả núi rừng. Quân Xiêm trong ngoài giáp công, chúng vừa đánh trống vừa hò reo huyên náo, tiếng súng đại bác vang như sấm.
Mạc Thiên Tứ thân dẫn quân đánh với chúng trên đường phố, một lúc sau, quân dân trong thành tan vỡ chạy tán loạn, qua canh ba thành vỡ, Mạc Thiên Tứ quyết tử chiến với địch thì Cai đội Đức Nghiệp hầu đến ôm nách đưa Mạc Thiên tứ lên thuyền rồi chèo theo đường sông hướng về Giang Thành (tên một thủ sở) mà chạy. Hiệp trấn Mạc Tử Hoàng, Thắng Thủy hầu Mạc Tử Thảng và Tham tướng Mạc Tử Dung đem thủy quân phá vòng vây rồi theo đường biển chạy xuống Kiên Giang, sau đó qua Trấn Giang đóng lại.
Sông Giang Thành, có thủ sở, nơi những ngày Mạc Thiên Tứ lui binh,
khi bị vua Xiêm Trịnh Quốc Anh đánh bật khỏi trấn thành Hà Tiên
Ngày 15, thuyền của Mạc Thiên Tứ đến Châu Đốc, tướng Xiêm là Trần Liên (vốn người Triều Châu), làm mưu sĩ cho cho Trịnh Quốc Anh , truy binh đuổi theo, Mạc Thiên Tứ sai Cai đội Đồ Bà (Chà Và) là Sa ra chặn đánh nhưng cũng thua. Cai đội Sa, tuy bị nhiều vết đạn, vết đâm nhưng không chết bèn rút ra đạo Tân Châu ở Tiền Giang. Trịnh Quốc Anh thiêu rụi thành phố, chiếm tất cả các đảo lớn nhỏ quanh Hà Tiên, mang về rất nhiều vàng bạc. Con cháu, hầu thiếp và người con gái út của Mạc Thiên Tứ bị Trịnh Quốc Anh bắt sống đem về Vọng Các. Mạc Thiên Tứ cùng các con trai phải rút về Rạch Giá, cho người về Gia Định cầu cứu chúa Nguyễn.
Tân Mão 2011, nhớ lại những ngày tháng năm Tân Mão [1771], khi trấn thành Hà Tiên thất thủ và tiền nhân đã lao tâm khổ tứ, tốn công mất của, không tiếc máu xương để tái chiếm miền biên viễn của tổ quốc…lòng thấy phấn khích. Vùng biển Hà Tiên nằm trong vịnh Thái Lan, vùng hoạt động của hải tặc, gần như “vô chính phủ” một thời. Thế nhưng, nhờ có Mạc Cửu, Mạc Thiên Tứ chiêu dân lập ấp, dưới sự bảo trợ của các chúa Nguyễn Đàng Trong, biến một vùng đất hoang vu, chỉ thích hợp cho bọn cướp biển, nơi hang ổ của lục lâm thảo khấu, trở thành nơi sầm uất, giao thương trên bộ dưới thuyền, cư dân Việt, Hoa, Khờ me sống hòa hợp nhau, tự do tín ngưỡng…biến trấn Hà Tiên thành một trung tâm văn hóa, thương mại của Nam Bộ. Với đạo lý uống nước nhớ nguồn, nhà nước cùng với nhân dân tỉnh Kiên Giang dựng tượng ngài “khai canh” Mạc Cửu, vị tổng trấn Hà Tiên của “ Thuận Quảng đẳng xứ”, tức Đàng Trong, của một thời mở cõi của Đại Việt.
Lịch sử là dòng chảy liên tục, thịnh suy là lẽ thường tình, cắt đọan một cách nghiêm ngặt theo từng “thời điểm Tân Mão” để viết lịch sử thì e rằng không nói hết công lao to lớn của tổ tiên suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Thế nhưng, cách làm có tính “khiên cưỡng” ấy, vẫn có mặt tích cực dưới góc độ “lịch sử-thống kê”. Tại sao ? Chỉ cần sáu sự kiện của sáu năm Tân Mão nêu trên cũng đủ phác thảo bức tranh toàn cảnh về lịch sử nước Việt, lịch sử của dân tộc Việt anh hùng, bất khuất, chịu thương chịu khó…luôn đánh thắng, hóa giải những tham vọng điên cuồng, những mưu mô giảo quyệt của những tập đoàn phong kiến phương Bắc, phương Nam, phương Tây-Nam.
Họ luôn huy động vật lực, tài lực, trí lực của những nước lớn, thường xuyên tổ chức những liên minh xâm lược Đại Việt, nhằm đưa Đại Việt trở thành quận huyện của họ nhưng Đại Việt đã bẻ gãy ý đồ tàn độc ấy một cách mưu lược. Với sáu sự kiện xảy ra trong sáu năm Tân Mão của lịch sử hàng ngàn năm của nước Việt cũng đủ làm rõ những nhân vật chính tà, những anh hùng tiết tháo và tiểu nhân mãi quốc cầu vinh, những trí thức lòng trong dạ sáng và những người học cao nhưng “mù-hèn”, những minh quân có lòng nhân và những hoàng đế cuồng tham tàn độc, những tôi hiền vì nước vì dân và những tôi ác giá áo túi cơm, những con dân kiên cường và những người dân cầu an…xuất hiện một cách sinh động và tất cả đã làm sáng tỏ chân lý mà anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi từng đúc kết: “đại nghĩa thắng hung tàn”. Những mưu đồ đen tối nhằm phá vỡ nền độc lập tự chủ của nước Việt tất yếu “thủ bại hư”.
Theo Trần Viết Điền
|
|
|