BÁCH VIỆT VÀ NHÀ HÁN LẬP QUỐC :
Chúng ta cần rõ niên đại lập
quốc của nước của nhà Hán là
Tiền Trung Quốc. Vì sự hiểu biết
nầy rất quan trọng. Khi được
biết ai ra đời trước, ai ra đời
sau chúng ta mới dễ bàn luận đến
những vấn đề liên quan giữa hai
nước. Sự kiện nầy là điều rõ
ràng, nó như là chiếc chìa khóa
giúp chúng mở những cánh cửa tuy
không còn bí mật nữa, nhưng sự
tranh chấp giữa 2 dân tộc Hoa
Việt vẩn luôn âm ỉ không dứt
khoát được. Nếu có thể so sánh
thì chúng ta thử so sánh nước
Anh và nước Hoa Kỳ. Tuy Hoa Kỳ
đất rộng người đông, văn minh
giàu mạnh hơn Anh hay Pháp, Ý
hay Bỉ, thì Hoa Kỳ vẩn là nước
sinh sau đẻ muộn hơn các nước
kia. Và Hoa Kỳ đã lấy văn hóa
của các nước lập quốc xa xưa đem
phát triển thành một nước văn
minh nhất thế giới.
Lịch sử Trung Hoa ghi rằng vào
khoảng 2870 Tr. CN dân du mục
Mông Cổ mạnh mẽ nên hay đem quân
đánh nước Xích Thần của Đế Lai,
vua Bách Việt phương Bắc. Quân
Bách Việt của Đế Lai phải ra sức
đánh đuổi quân Mông Cổ qua bờ
bắc sông Hoàng Hà. Để trã thù,
nhiều Bộ tộc Mông Cổ hùng mạnh
lên, kết cấu lại với nhau, rồi
với ngựa cao giáo dài tổ chức
đánh Đế Lai. Khiếp sợ Đế Lai
thấy du mục Mông Cổ ngày càng
mạnh kết hợp càng đông, bèn đem
con gái là Âu Cơ gả cho em họ là
Lạc Long Quân, mong lập liên
minh quân sự lấy tên nước Xích
Quỉ của Lạc Long Quân chống các
Bộ lạc Mông Cổ. Một trận chiến
ác liệt xảy ra trên sông Hoàng
Hà. Liên minh Xích Quỉ thua, Đế
Lai tử trận, Lạc Long Quân bỏ
chạy đem theo một nửa con cháu
theo sông Hoàng Hà ra Thái Bình
Dương, mất tích. Âu Cơ gom số
nửa con cháu trở về giữ nước
Xích Quỉ. Đó là giây phút vợ
chồng Âu Cơ tổ tông dân Việt
chia tay.
Thủ lĩnh liên minh Bộ lạc Mông
Cổ chiếm bờ nam Hoàng Hà xưng là
Hoàng Đế (ngôi vị trên sông
Hoàng?). Trong một tiệc Tết tại
Sài Gòn, tôi được nghe một vị
học giả chuyên Việt-Hán sử Hà
Nội bàn về nguồn gốc chữ ‘Nhà
Hán’. Theo lời học giả thì tên
các quan chức xứ Mông cổ thường
kèm chữ ‘KHAN’ đi trước. Vậy
theo ông, thì chữ ‘HÁN’ là do
chữ KHAN mà ra. Một dịp khác,
một vị uyên thâm về chữ Tàu cho
tôi hay, chữ KHAN là chữ Mông cổ
có nghĩa là Chủ Thị Tộc. Như vậy
chữ KHAN là gốc của chữ ‘HÁN’.
Sau khi xưng Hoàng Đế, vua đầu
tiên của nước Hán tộc nhỏ trên
đất Bách Việt. Lãnh thổ nước
Xích Thần vẩn chưa mất hẳn, con
Đế Lai là Đế Du Vỏng còn tiếp
tục trị vì. Như vậy lúc bấy giờ
chưa thể gọi vua Hoàng Đế của
Mông Cổ là vị vua đầu tiên của
Trung quốc ngày nay. Tức là nước
Tàu chưa được thành lập với
chiến thắng Trác Lộc mà phải đợi
Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung
Nguyên của Bách Việt Cổ vào
khoảng năm 214 tr. CN thì mới
gọi là Trung Hoa lập quốc. Chính
những cái tên Trung Nguyên,
Trung Hoa, Trung Quốc, tên
‘Chin’, tên Tàu đều có nguồn gốc
từ chữ Tần. Như vậy một cách
chính thức nước Tàu lập quốc tại
trung tâm lục đia Bách Việt chỉ
khoản 214 tr. CN, thì làm sao có
văn hiến 4000, 5000 ngàn năm.
Nền văn hiến 4000 năm là của dân
tộc Việt Nam hậu duệ của Bách
Việt mà Tàu dành là của họ. Cách
đây không lâu tôi có xem một
phim nổi vĩ đại «Le Premier
Empereux de la Chine», câu
chuyện hoàng đế Tần Thủy Hoàng.
Lúc đầu tôi hơi lấy làm lạ. Suy
nghĩ lại, tôi thấy thế giới cũng
biết rõ về lịch sử lập quốc của
nước Tàu là từ đời nhà Tần chứ
không phải từ vua Hoàng Đế thắng
liên minh Xích Quỉ của Đế Lai và
Lạc Long Quân. Ngày nay ở Sài
Gòn đã có 2 con đường mang tên
Lạc Long Quân và Âu Cơ.
ANH HÙNG TIỀN SỬ :
Trong dân gian Việt Nam, mổi lần
phải nói đến chuyện gì xa xưa,
người dân quê mùa nhất vẩn
thường nói: «Ôi, chuyện đó xưa
rồi, từ đời ông Bành Tổ lận.»
Chuyện ông Bành Tổ hay Bàn Cổ là
một câu chuyện của Bách Việt,
Tàu thấy hay, nên dành mà lấy
làm tổ tiên của họ (Đọc chuyện
Ông Bàn Cổ của An Phong Nguyễn
Văn Diễn). Từ ông Bành Tổ đến
Thần Nông, không biết có bao
nhiêu đời. Truyền thuyết chỉ kể
Thần Nông là người dạy dân nghề
trồng lúc nước có qui mô, được
dân chúng tôn vinh là thần nhà
nông, chứ tên thật thì không còn
biết đến. Ông Thần Nông là Viêm
Đế hay Đế Viêm, vua xứ nóng cũng
là một. Việc làm nông vủa vua
Viêm Đế còn có bàn tay đàn bà
giúp vào.
Đó là bà Nữ Oa, tục gọi là O Gái
hay O nữ, về sau khi Tàu nhìn là
tổ tiên của họ mà đổi ra tên là
Nữ Oa. Chúng ta cùng bị buộc gọi
theo Tàu thành ra quen gọi là Nữ
Oa mà quên tên gốc là Oa Nữ. Nữ
Oa nghiên cứ thời tiết mưa nắng
bốn mùa suốt trong để giúp cho
việc làm ruộng có bài bản, lúc
nào cầy, lúc ngâm giống, lúc
gieo, lúc cấy mạ, lúc gặt hái,
lúc nghĩ ngơi. Như vậy việc làm
ruộng luôn được thành công như
ý, không bị những bất ngờ. Và
cũng nhờ vậy, dân chúng thành
công trong mùa màng rồi được
nghĩ ngơi mà ăn mừng, sinh ra
ngày lễ trọng đai cảu nhân gian
là ngày Tết. Tài nghiên cứu của
nàng Nữ Oa là tài khoa học,
nhưng dân vốn tin dị đoan cho
rằng nàng có quyền hô nắng hô
mưa, có tài « lấy đá vá trời ».
Hai vị trên đây liên quan trực
tiếp đến việc trồng lúa nước của
dân Bách Việt. Họ là tổ tiên anh
hùng của dân Bách Việt. Câu
chuyện không hề kể về Thần Nông
sinh ra từ thời nào. Nhưng chỉ
nói Thần Nông là ông Tổ nhiều
đời về trước của Đế Minh. Theo
nghiên cứu khoa Khảo cổ học thì
tuổn của Thần Nông có lẻ lến đến
trên 8000 năm tuổi.
Như trên đã trình là Mông cổ
vượt Hoàng Giang vào quảng 2870
năm Tr. CN đánh nhau ở Trác Lộc
với con cháu có đến gần 10 đời
của Thần Nông thì Tàu dành Viêm
Đế làm tổ tiên của nhà Hán chỉ
là chuyện khôi hài. Hơn nữa dân
du mục Mông Cổ sống bằng nghề
săn bắn chăn nuôi thì cần Thần
Nông và Nữ Oa làm gì. Nếu nói
rằng Thần Nông và Nữ Oa là tổ
tiên của người Trung hoa gốc
Bách Việt thì còn hiểu được, chứ
tổ tiên của người Hán Mông thì
xin không có ý kiến ý kiến. Việc
lạm nhìn văn hóa của người Việt
Cổ tức là dân Bách Việt mà Tàu
khinh bạc coi là nam man, man di,
chỉ cho làm ruộng, làm lính và
làm tôi đòi, coi như là toàn bộ
văn hóa tiền sử và sơ sử của
Bách Việt đều bị Tàu chiếm,
nhưng ở đây chúng tôi không đi
sâu vào văn hóa toàn diện. Nếu
có dịp sẽ xin trình bày thêm.
Tuy nhiên từ căn nhà của nhà
nông làm bằng tranh tre, có mái
cong tự nhiên, trở thành một mỹ
thuật xây cất của Bách Việt thì
Trung Hoa rất ưa thích hơn là
kiểu nhà tròn du mục của họ.
Loại nhà mái cong là nhà cố định,
nhà tròn là kiều du mục, nay
sống nơi nầy, mai nhổ đem cắm
nơi khác dẽ dàng. Hai loại nhà
nầy điều là nhà tiền và sơ sử
của 2 dân tộc. Nhưng Tàu đã yêu
thích kiểu nhà mái cong của Bách
Việt nên họ đã phát triển làm
nên lâu đài cung điện rất đẹp đẻ
uy nghi và họ cho đó là nhà của
họ mà Việt Nam bắt chước làm
cung điện ở Huế. Đó chỉ mới là
cái vỏ bên ngoài, còn lắm sự cố,
có dịp sẽ xin bàn thêm về kỷ
thuật làm giấy, làm đường, làm
gốm, làm trống đồng, bói quẻ,
xem tử vi vv….
NGUỒN GỐC RỒNG PHỤNG VÀ MÁI NHÀ
CONG :
Đế Lai cháu nội Đế Minh, nối
nghiệp cha là Đế Nghi. Đế-Minh
là cháu 3 đời của Đế-Viêm tức
Thần Nông. Đế Lai xưng là thiên
tử làm vua nước Xích Thần của
các thị tộc Bách Việt phương Bắc
nằm giữa 2 con sông lớn Hoàng Hà
và Dương Tử. Trước đó Đế Minh đi
ngao du đến núi Ngũ Lĩnh gặp một
tiên nữ là bà Vụ Tiên (người đàn
bà tài giỏi và đẹp nên được tặng
biệt danh là Tiên Nữ), đẻ ra Lộc
Tục. Như vậy Lộc-Tục là em khác
mẹ của Đế Nghi, chú của Đế Lai.
Đế Minh cho Lộc Tục làm vua
phương nam từ Dương-Tử-Giang đến
tận Việt-Thường tức Trung-Việt
ngày nay (thời đó một phần Miền
Trung còn là hoang dã sình lầy).
Lộc-Tục làm vua các thị tộc Bách
Việt phương Nam mà Đế Minh đặt
tên nước là Xích-Quỉ (lanh lợi,
tế nhị, khéo léo, khôn ngoan),
để hai anh em nương tựa nhau
tinh thần và khôn khép mà tồn
tại. Lộc Tục xưng hiệu là
Kinh-Dương-Vương lấy nàng Long-Nữ
con Động Đình-Quân đẻ ra
Sùng-Lãm tức Lạc-Long-Quân. Như
vậy Lạc-Long-Quân là con Nữ-Rồng
(Long Nữ) và cháu nội của Tiên
nữ (Vụ-Tiên vợ Đế Minh): Phải
chăng do đó mà chúng ta được gọi
là con Rồng (mẹ rồng Long Nữ)
cháu Tiên (bà VụTiên) ? Chứ
không phải cha Rồng là Lạc Long
Quân và mẹ tiên là Âu Cơ. Những
câu chuyện như vậy dân Trung Hoa
gốc Bách Việt không dám nhắc đến
trước giới lãnh đạo Hán tộc, và
Hán tộc cũng thấy không cần phải
nhìn lạm thêm nữa.
Sử Tàu kể rằng vào thời nhà Châu,
dân Bách Việt quận Việt Thướng
đem tặng vua nhà Châu cặp chim
trĩ, sau đó nhờ Tàu dùng xe chỉ
nam của Mông Cổ chỉ đường về.
Tàu liền mua nhiều chim trĩ của
Việt cổ để phát triển. Những ghi
chép thường có tính cách kỳ thị
man di. Nhưng những chuyện huyền
thoại cổ của man di như chuyện
ông Bàn Cổ gốc người Dao (Sách
chuyện Ông Bàn Cổ của An Phong
Nguyễn Văn Diễn), chuyện bà Nữ
Oa biết "đội đá vá trời" tức có
kinh nghiệm về thời tiết mưa gió,
dạy dân theo thời tiết mà trồng
trọt, Thần Nông tức Việm Đế (vua
xứ nóng Bách Việt) dạy dân làm
ruộng, và chuyện vật tổ là con
Rồng, chứ không phải Cọp trắng (Cọp
trắng là vật tổ của dân Mông Cổ
Hán tộc từ trước) thì dân Hán
tộc Mông Cổ chiếm lấy làm của.
Thật ra lúc đầu người Hán không
quan tâm đến những câu chuyện
thêu dệt thần thoại của dân
Bách-Việt. Nhưng khi họ hiểu ý
nghĩa triết lý sâu xa của những
câu chuyện coi ra như hoang
đường như chuyện ông Bàn Cổ, thì
họ, dân Hán tộc Mông-Cổ, vốn đã
có chữ đễ ghi rất sớm (vừa qua
tôi được nghe người chị dâu của
tôi là Tiến sĩ Hán học tên Băng
Thanh ở Hà Nội nói rằng chữ Hán
không phải của dân Mông Cổ đem
qua Trung Quốc, mà của chung của
Bách Việt nữa), chép ngay các
câu chuyện và nhận ngay các Vị
có gốc Bách Việt trên làm tổ
tiên của họ. Họ cũng có lý một
phần, vì dân Miêu tộc Trung-hoa
có gốc Bách-Việt lai giống với
Mông Cổ dần dần để trở thành dân
Trung Quốc. Nhưng họ phải hiểu
rằng người Việt Nam mới là con
cháu chính thống của các Vị.
Người Việt chẵng bao giờ dành
riêng ai cho mình.

Người Tàu có văn hoá và có kiến
thức vẩn biết tổ tiên của người
Hán có nguồn gốc Mông-Cổ, có con
vật tổ là Cọp trắng, với nhà
truyền thống cổ là nhà gốc du
mục hình tròn (xem "Les
premières civilisations LA CHINE
ANCIENNE", trang 28-29, của ông
William Watson xuất bản năm 1969
tại Grande Bretagne) (Hình 6, Bs
Thanh vẻ lại hình nhà khảo cổ
của ông William Watson). chứ
không phải nhà hình chữ nhật cao
cẳng hay không, với những nét
cong cong đặc trưng của các góc
mái nhà, của 2 đầu giường ngủ, 2
đầu thuyền như ngày nay. Trong
lúc đó nhà cổ của Bách Việt là
nhà hình chữ nhật 3 gian và 3
gian 2 chái làm bằng tranh và
tre cong cho chắc chắn, dần dà
sinh ra mái cong cong. (Hình 7,
Bs Nguyễn Thị Thanh vẻ, phỏng
theo nhà minh khí chôn theo
người chết bằng đất nung thời Âu
Cơ và Hùng Vương tìm thấy trong
văn hóa tiền sử). Nhà hình chữ
nhật của Bách Việt từ thời Âu Cơ
cách đây trên 6000 năm: Những
cây tre cong cong làm nhà với
chiều cong đưa lên trời để căn
nhà có thế vững vàng. Người
Trung Hoa gốc Mông Cổ thấy nhà,
giường ngủ, thuyền bè của dân
Trung Hoa gốc Bách Việt có nghệ
thuật tuyệt vời với dáng cong
cong nên phát triển thành nhà
ngói có mái cong cho cung điện
triều đình và chùa chiền. Sau
nầy Đại Hàn và Nhật Bản cũng bắt
chước.
Từ trước đến nay, thế giới và cả
người Việt Nam cũng đều lầm
tưỡng rằng Rồng (hiện thân của
con cá sấu) và chim Phụng hoàng
(chim trỉ) là vật tổ của
Trung-Hoa, và mái nhà cong cong
là văn hóa cổ truyền của họ.
Chưa nói đến sử học hay khảo cổ
học đã chứng minh được sự thật,
Mông Cổ ở phương bắc không có cá
sấu mà chỉ có nhiều ngựa và cọp
nên họ đã chọn cọp trắng làm vật
tổ. Chim trỉ từ nghìn xưa chỉ
sống ở đất Việt Thường trên
triền núi phía đông dãy Trường
Sơn (ngay miền Quãng Trị và phía
bắc Thừa Thiên).
Dầu sao thì cũng không chối cải
được là nhờ vào ảnh hưởng dân
Bách Việt trên lục địa Bách Việt
cổ mà Mông-Cổ đã phát triển nên
một nền văn hóa lớn lao về mọi
mặt sau này cho Trung-Quốc. Nhật
Bãn và Đại Hàn cũng nhờ ảnh
hưỡng văn hóa Bách-Việt qua
Trung-Hoa. Trước đây thế giới,
đặc biệt là người Pháp cứ cho là
Việt Nam bắt chước Tàu. Chẵng
hạn việc bà Daisy
Lion-Goldschmidt tác giả quyển
LES POTERIES ET PORCELAINES
CHINOISES, trang 4, đã cho rằng
dân Annam bắt chước gốm Hoa-lam
của Tàu. Trong khi chính Việt
Nam có gốm hoa lam trước Tàu và
thợ thầy gốm giỏi Việt bi Tàu
bắt đi làm gốm từ đầu thiên niên
kỷ thứ I cho vua quan Tàu.
VỀ MỘT NỀN VĂN MINH SƠ SỬ :
Dân tộc Việt Nam (DTVN) kinh qua
hơn 1200 năm bị Tàu, Tây, Nhật,
Mỹ đô hộ cùng nội chiến liên tục
mà vẫn tồn tại. Như vậy cũng đã
nói lên sức sống kiên cường nhẩn
nhục và bất khuất của DTVN như
thế nào. Hiện DTVN đang cần tìm
và nhìn lại thời quá khứ oanh
liệt của tổ tiên Bách Việt để có
hướng bước đi lên vững vàng cho
dân Việt ngày nay và con cháu
trong ngày mai hậu.
Trong tinh thần đó chúng tôi tìm
hiểu vài điểm về lịch sử hai
quốc gia Hoa Việt. Trong Việt
Nam Sử-lược, sử gia Trần Trọng
Kim đã viết:
"Tích Quang và Nhâm Diên sang
làm thái thú tại Giao-Chỉ và
Cửu-chân (2 quận lớn trong 9
quận của Việt cổ), dạy dân điều
lễ nghĩa, cưới vợ hỏi chồng,
dùng cày bừa mà cày cấy ruộng,
vì trước đó dân Giao Chỉ chỉ
biết săn bắn và chài lưới...."
!!!.
Sử gia Đào Duy Anh cũng viết :
"Nó (Trung Hoa) làm thầy khai
hóa cho ta và các dân tộc Á Đông
khác."
Sách vở của các vị sử gia trên
đã dạy dân Việt học suốt bao thế
kỷ. Người Việt Nam cứ theo thế
mà học u hoc mê và tin tưỡng vào
lịch sử nước nhà là thật !!.
Không hiểu vì lẻ gì mà hai ông
sử gia Việt Nam đã không cố tìm
hiểu, suy luận và phán đoán đầy
đủ về sử liệu nước nhà. Một
gương sáng mà chúng ta cần chú
ý: Triều-Tiên và Trung-Hoa phản
kháng 35 điểm viết sai trong
lịch sử giáo khoa Nhật-Bản hiện
nay. Mặc dầu hai sử gia trên đã
có công viết nên lịch sử nước
nhà để dạy dân. Nhưng hai ông
không quan tâm biên khảo cho
đúng sự thật những gì đã được
ghi chép lâu đời trong những bộ
sử nước ta vào những thế kỷ
trước: Bộ Đại-Việt Sử-Ký do hai
sử gia Lê Văn Hưu và Phan Phu
Tiên biên soạn dưới thời nhà
Trần; và bộ Sử-Ký Toàn-Thư do
Ngô Sĩ Liên biên soạn dưới thời
nhà Lê.
Sở dỉ ngày nay chúng ta không
còn một dấu tích gì về các bộ
luật cổ, sử địa cổ, nghệ thuật,
binh nghiệp, văn chương cổ ...thời
Trưng Vương vì Mã Viện đã cướp
lấy đem về Tàu hoặc tiêu hủy tất
cả. Một trường hợp điển hình quí
báu, GS Lê Hữu Mục cho biết là
Trung hoa đã cho xuất bản một
quyễn sách mà tác giả là Chu Văn
An: đây là một trường hợp hi hữu,
có lẻ người có quyễn sách của
Chua Văn An tưỡng lầm ông An là
người Tàu. Số sách cổ lớn của
Việt Nam bị cướp trong 1000 năm
đô hộ Tàu đã bị họ đạo văn hay
bị đốt phá. Như vậy biết bao tài
liệu về lịch sử, văn chương, tài
liệu canh nông, thời tiết, Y
thuật, tướng số, tử vi vv... của
tổ tiên chúng ta đã bị cướp lấy
đem vể Tàu xử dụng và tiêu hủy.
GS Lê Hữu Mục cũng cho biết là "Thơ
phú, câu đối của Việt nam vào
tay họ, người Tàu đạo văn rất
nhiều."
NGUỒN GỐC NÔNG NGHIỆP CỦA BÁCH
VIỆT :
Trở lại vấn đề giữa hai sắc dân
Trung Hoa gốc Mông Cổ du mục và
TH gốc Bách Việt nông nghiệp
sống định cư trên Hoa Lục, thì
thật dễ hiểu rằng nguồn gốc nông
nghiệp của Trung-Quốc là do dân
Miêu tộc hay man di (tên khinh
miệt mà người Hán gọi Bách Việt
ở lại với Tàu) dạy cho dân Hán
Mông. Dân Bách Việt vốn đã có
nghề nông từ lâu đời. Và các vị
Thần nông, Nữ-Oa vv tổ sư nghề
nông là tổ tiên của Bách Việt
cũng đã chết lâu đời trước trận
Trác-Lộc, tức trước khi Mông Cổ
đến lập nước Trung Hoa. Vậy nên
Hán tộc gốc Mông Cổ hoàn toàn
không liên can gì đến sự nghiệp
nhà nông của các vị Viêm đế Thần
Nông và Nữ Oa... nói trên. Và
dân Bách Việt cũng đã thạo thành
về nông nghiệp lâu đời từ trước
khi Mông Cổ đến chiếm đất đai.
Vậy cả hai dân tộc, Trung-hoa
gốc nam man Bách-Việt và Việt
Nam gốc nam man Bách Việt đều là
dân tộc anh em đã làm nên nền
nông nghiệp từ rất nhiều thiên
niên kỷ trước khi Mông Cổ đến
xâm lăng đất đai lập nên
Trung-Quốc ngày nay. Người Hán
gốc Mông Cổ cai trị Trung-hoa
lâu đời, và đô hộ Việt Nam non
1000 năm, nên lòng người nam man
Trung-hoa gốc Bách Việt cũng như
lòng người cổ Việt Nam dần lãng
quên gốc gác của mình mà tưỡng
rằng văn minh nông nghiệp là do
Tàu Mông cổ (Hán) khai hóa ?!
Đối với dân tộc Trung-quốc thời
bấy giờ, người Hán có nguồn gốc
Mông Cổ là lớp quí tộc chủ nhân,
lớp lãnh đạo quyền uy giàu có.
Miêu tộc hay nam man Bách Việt
tuy đông, chỉ được làm nghề nông,
làm thợ, làm tôi tớ, làm lính và
bị liệt vào hàng bần cùng, nô lệ.
Như thế văn minh nông nghiệp của
dân Bách Việt không phải do du
mục Mông Cổ khai sáng. Đó là
tàng tích công lao Bách Việt
hoàn toàn. Nếu phải nói một cách
công bằng thì văn minh nông
nghiệp Bách Việt là tài sản
chung của toàn thể Bách Việt mà
Việt Nam là chủ yếu. Vậy
Trung-Hoa có nông nghiệp từ thời
tiền sử, sơ sữ ngay từ thời vua
Hoàng đế là nhờ vào dân Miêu tộc
man di (tức Bách Việt) ở lại
chung sống dạy cho họ.
Với Việt sử, trong hai bộ sử xưa
của Việt Nam còn lại là bộ Đại
Việt Sử Ký do hai sử gia Lê Văn
Hưu và Phan Phu Tiên biên soạn
dưới thời nhà Trần, và bộ Sử Ký
Toàn Thư do Ngô Sĩ Liên biên
soạn dưới thời nhà Lê đã có ghi
rõ ràng:
".... Trước họ Hồng Bàng (Kinh
Dương vương) còn nhiều đời vua
nhưng không kể đến...(đó là các
vua Phục-Hy, Đế Viêm, Đế Minh,
Đế Nghi vv.)", và rằng " ...từ
họ Hồng-Bàng (2879 tr. TC) dân
ta cầy cấy mà ăn, đào giếng mà
uống..." rằng "Vua Kinh Dương
Vương nối nghiệp con cháu Thần
nông, lấy con gái vua Động Đình
Quân, tỏ rỏ đạo vợ chồng, nắm
ngay gốc văn hóa, lấy đức mà cảm
hóa dân...đó chẵng phải là phong
tục thái cổ từ Viêm Đế ư ? ...."
Rất có thể chính Trần Trọng Kim
và Đào Duy Anh cho rằng những
tài liệu nầy là hoang tưỡng là
huyễn hoặc, nên không tin mà
chép lại, họ lại đi tin sữ Tàu.
Trong lúc đó sử gia Trần Trọng
Kim viết :
"Họ Hồng Bàng có vua Kinh Dương
Vương (2879-258 tr.TL) là dòng
dỏi Vua Thần Nông có quốc hiệu
là Xích Quỉ, có con là
Lạc-Long-Quân nối ngôi ( 2.804
năm tr. TC)."
Ủa, đã gọi là con cháu vua Thần
nông thì tại sao không rành về
nghề nông mà phải đi nhờ dân gốc
Mông Cổ du mục dạy vậy ?! Viết
sử như vậy chẵng hoá ra là mâu
thuẩn lắm sao ? Như thế, rõ ràng
hai sử gia Trần Trọng Kim và Đào
duy Anh chỉ biết dựa lặt vặt
từng điểm trên sử của một quốc
gia đã xâm lăng nước ta lâu đời
và luôn có khuynh hướng chiếm,
phá hoại hay xuyên tạc sự thật
văn hóa tiền sử và lịch sử của
dân tộc Bách việt.
Tuy nhiên nhờ vào di vật của tổ
tiên để lại trong lòng đất, các
học giả khảo cổ học ngoại quốc
Pháp, Mỹ, Nhật, Liên Xô và ngay
cả Trung Quốc, và Việt Nam đã
chứng minh cho chúng ta và thế
giới ngày càng thấy rõ sự thật :
Rằng chính dân Bách Việt nông
nghiệp mà chủ đạo là Việt Nam (Xích
Quỉ cổ) đã ảnh hưỡng giáo dục lễ
nghĩa, nông nghiệp và công
nghiệp cho khắp lục địa Nam-Á
trước khi Mông Cổ tới nhiều
nghìn năm.
Theo Việt Nam cổ Bách-Việt, thì
rằng, khi dân du mục Mông Cổ
đánh Liên minh Xích-Quỉ của Đế
Lai và Lạc Long Quân mà chiếm
bình nguyên sông Hoàng Hà thì có
thể coi đó là nhà Hán Mông Cổ
xâm chiếm luôn nước Xích Thần
(3000 năm tr.TC) và dần dà đến
chiếm nước Xích Quỉ là Bắc thuộc
lần thứ nhất. Lúc Tần Thủy Hoàng
chiếm nước Âu Lạc của nhà Thục
là Bắc thuộc lần thứ hai, chứ
không còn là thứ nhất (214 tr TC).
Lúc nhà Hán dứt nhà Tần bèn
chiếm lấy nước Nam-Việt của
Triệu Đà (Bách Việt) chia làm
quận huyện: Đó là Bắc thuộc lần
thứ ba chứ không còn là lần thứ
hai. Lúc nhà Đông Hán đánh chiếm
nước Lĩnh-Nam của Trưng-Vương là
Bắc thuộc lần thứ tư. Nhưng
Chính sử đã bỏ qua lý luận trên
đây. Phải tính bốn lần như trên
mới tỏ rỏ được việc Hán Mông
chiếm nước Xích Quỉ của Việt Nam
mà lập nên nước Tàu vĩ đại.
Câu chuyện "Tích Quang và Nhâm
Diên sang làm thái thú tại
Giao-Chỉ và Cửu-chân (2 quận lớn
nhất được coi là kinh đô của
Việt Nam cổ không còn là nước
Xích Quỉ hay Lĩnh Nam của Nữ
Vương Trưng Trắc), dạy dân điều
lễ nghĩa, cưới vợ hỏi chồng,
dùng cày bừa mà cày cấy ruộng....."
là hoàn toàn sai sự thật. Đức
Khổng Tử là người đã sống trước
Tích Quang và Nhâm Diên hàng bao
nhiêu thế kỷ, chúng ta hãy nghe
những lời của ngài sau đây, khi
một môn đồ xuôi nam đến đất Việt,
đến xin Đức Khổng Tử chỉ dạy,
ngài nói:
"Người Bách Việt miền nam (phía
nam Dương Tử) có lối sống, tiếng
nói, luật lệ, phong tục, tập
quán, thức ăn uống riêng..."
"...dân Bách-Việt chuyên làm
ruộng lúa mà ăn, không như chúng
ta trồng kê và lúa mì. Họ uống
nước bằng thứ lá cây hái trong
rừng gọi là trà…."
Người Việt ta cứ luôn cho trà là
của Tàu, thật không biết nói sao
nữa.
Một lần khác Đức Khổng Tử xác
nhận :
" Những đạo lý (ngài) viết ra để
dạy vua quan gốc Hán tộc và dân
chúng đều là những điều đã có
sẵn trong dân gian miền Nam từ
trước (dân gian miền nam tức là
nam man gốc Bách Việt) ".
Chính những đạo lý đó tộc
Mông-Cổ hoàn toàn không có, vì
với Mông-Cổ chỉ có đạo lý của
sức mạnh. Vì thế Đức Khổng Tử
mới lấy đạo lý từ dân gian Việt
cổ, viết ra để dạy cho vua quan
Hán là giòng giỏi Hán Mông Cổ.
Đức Khổng Tử còn nói rằng :
"Dân Bách Việt rất thích ca múa,
vừa làm việc vừa ca vè, hát đối,
nói vận (vè, thơ, ca dao), lấy
lá cây mang vào người, trá hình
múa hát..." .
Và Đức Khổng tử cho rằng: "xướng
ca vô loại, chẵng nên ca múa như
dân Nam". Nên trong thời gian đô
hộ quan Tàu cấm dân ta múa hát
trong những ngày lễ lạc. Nhưng
hát-bội hay hát-bộ (vừa hát vừa
làm bộ điệu) gốc Bách Việt thì
vua quan Tàu rất thích nên họ
phát triển hát bộ (sau nầy lại
truyền qua cho Việt-Nam phương
thức hát bộ mới, được chế biến
thêm. Miền Nam Việt Nam lại cãi
biến thêm thành Cãi Lương, Tàu
lại chế biến thành cãi lương
Hồ-Quãng).
Sách Hậu Hán Thư quyển 14 viết :
« Dân Giao-chỉ (thủ đô của Bách
Việt phương nam) biết nhiều thủ
công nghiệp, luyện đúc đồng và
sắt vv... »
Sách Cổ Kim Đồ Thư, Thảo Mộc
Điếm của Trung-hoa chép:
Làm Đường Phèn : "Mã viện tâu
vua Tàu, Giao-chỉ ép mía làm
đường phèn: Giao chỉ có thứ mía
rất ngọt, đem ép lấy nước, rồi
làm thành đường phèn."
Làm Giấy Mật Hương : "Giao chỉ
làm giấy mật hương: Giấy mật
hương làm bằng lá và vỏ cây mật
hương trồng ở Giao-chỉ, giấy mềm,
giai và thơm, ngâm nước không bở
không nát"(Hình 5).

Trong quyển sách ART DE LA CHINE
(Nghệ Thuật Trung Quốc) của Jean
Buhot "Les Editions du Chène,
Paris" xuất bản tháng Tư năm
1951, tác giả viết :
"Le papier étant inventé par la
Chine dès la dynastie des Háns
probablement, on peut croire
qu'ils connaissaient depuis la
même époque deux procédés:
l'estampage et l'impression... "
!!??... "Giấy đã được Tàu phát
minh ra từ thời các triều Hán,
chắc như vậy, và người ta có thể
tin rằng cũng vào thời ấy người
Tàu Hán tộc đã biết 2 kỹ thuật :
rập khuôn bằng tay và in ấn."
!!??
Xem như vậy, thì thấy những sự
hiểu biết của người Âu Châu về
Trung-Hoa và Việt Nam vô cùng
lệch lạc sai lầm.
Xin ghi thêm ở đây là việc sáng
tạo ra đường và đường phèn từ
cây mía và việc phát minh ra
giấy là công lao và là văn hóa
của Nữ Vương Trưng Trắc. Vì sao
? Tàu đang cai trị Lĩnh Nam, bị
con cháu Hùng Vương là Hai Bà
Trưng cùng mẹ là Man Thiện Trần
Thị Đoan nổi lên chống cự. Sợ
yếu thế, Man Thiện bèn bàn với
Trưng Trắc kết sui để liên minh
với Đặng Thi Sách thuộc dòng Sơn
Tinh làm kế đánh Tàu. Chứ làm
sao một góa phụ đi trả thù chồng
mà được một lực lượng giúp rập,
đánh nhanh, thắng mau đến thế.
Lại thêm nữa, Vua Trưng Trắc nhà
Đông Hán tự động sử sử cho làm
vua 3 năm thôi. Thắng trận 3 năm
thì làm được gì chứ. Xin xem đây
:
Gần đây đào được trống đồng ở
Vân-Nam, khảo cổ gia Tàu cũng
tuyên bố ầm ỷ là trống đồng do
Mã Viện và Gia Cát Lượng sãn
xuất ??!!. Sao họ có thể quên
đất Vân-Nam Quãng-Đông Quãng-Tây
lên tận Động Đình Hồ vốn là đất
của nước Việt Cổ, họ cũng quên
những điều đã ghi trong Hậu Hán
Thư quyển 14 về việc Mã Viện phá
trống đồng đúc ngựa và cột đồng
theo mật lệnh của vua Hán Quang
Võ. Chính vua Quang Vỏ nhà Đông
Hán đã ra mật lệnh cho Mã Viện
phải phá hũy trống đồng Bách
Việt của Trưng Vương vì đó vật
thần linh giúp Việt tộc chống
xâm lăng. Vì thế trên đất Hoa
Nam hiện tại là đất Việt cổ tìm
thấy trống đồng là việc đương
nhiên. Hậu Hán Thư quyển 14 chép:
"Mã Viện là người thích cưởi
ngựa giỏi, biết phân biệt ngựa
tốt. Lúc ở Giao-chỉ Viện lấy
được trống đồng đem đúc ngựa..."
(Hình 10)

Hình 10 : Mã Viện phá trống đồng
của Trưng Vương để đúc ngựa và
đồng trụ
Mã Viện đã phá trống đồng để đúc
cột đồng trụ để chiếm cho chắc
ăn phần đất từ Động Đình Hồ trở
xuống Ải Nam Quan của nước Lĩnh-Nam.
Và vì sợ dân Giao Chỉ lấy cột
đồng đúc trống và phá hủy biên
giới do Mã Viện đề ra, để chiếm
lại đất củ của mình, nên Mã Viện
ghi trên đồng trụ "Đồng trụ
chiết, Giao Chỉ diệt" để dọa dân
Việt cổ. Nhưng rồi chắc là dân
ta cũng đã lén lấy đồng trụ để
đúc trống vì thiếu đồng, nên
đồng trụ biến mất. Ngoài ra, vì
cần đồng để đúc trống nên dân
Việt thường đem vàng bạc ngọc
ngà hạt trai, sãn phẩm quí đồi
lấy tiền đồng của ngươời Hán.
Trước đó chính bà Lữ Hậu vợ vua
Thái Tổ nhà Hán là Lưu Bang đã
ra lệnh cấm bán, đổi chác tiền
đồng cho dân Giao Chỉ. Riêng Mã
Viện, từ khi thắng Trưng Vương,
biết dân Giao Chỉ coi trống đồng
như là một linh vật giữ nước.
Mã-Viện, có kinh nghiệm về việc
Trưng Vương ra trận dùng trống
đồng thúc quân, thấy uy lực
trống đồng của Bách Việt rất lớn,
giúp họ đánh giặc rất hăng. Việc
đúc ngựa, đúc đồng trụ chỉ là
cái cớ để tiêu hủy linh vật của
Bách Việt mà thôi. Vậy ai dám
bảo trống đồng do Mã Viện và Gia
Cát Lượng đúc thì thật là xuyên
tạc lịch sử mỹ thuật Việt Nam
một cách trắng trợn.
Xin xem nữa đây :
Dưới thời Nhà Trưng Vương, nước
Lĩnh Nam đã có nhiều tài liệu
lịch sử, luật pháp, nghệ thuật
và văn chương vv.. Bằng chứng là
Mã Viện đã tâu với vua Quang Võ
nhà Đông Hán:
« Luật của Trưng Vương có 10
điều khác với luật Tàu, cần hủy
bỏ để trói buộc họ » (Hình 4).

Các sách cổ khác của Trung quốc
như Giao-Châu Ký, Tam Đô Phủ,
Ngô Lục Địa Lý Chí, Nam Phương
Thảo Mộc Trạng đều chép đại lượt
lại rằng :
"Dân Lạc Việt trồng lúa mà ăn,
dùng lá trà mà uống..."; ...
"...họ biết uống nước bằng lổ
mủi...";... họ nhuộm răng đen ăn
trầu để giữ răng khỏi hư...»
"... họ nuôi tằm mà dệt vải
nhuộm màu bằng vỏ cây..."; "...họ
dùng đất sét đào sâu trong đất,
thái mỏng phơi khô làm thức ăn
quí, dùng làm quà quí để đi hỏi
vợ..."; ... "...dùng đá màu làm
men gốm...";... "....dùng mu rùa
mà bói việc tương lai ...";
...."....họ dùng một khúc tre
dài chừng 1 thước hơn, một dầu
có trụ cao làm tay cầm, có giây
buộc vào tru nối lại đằng kia mà
làm đàn gọi là độc huyền cầm..."....
"...họ đem tính tình các con vật
mà so sánh với ngươời, rồi họ
truyền tụng 0rằng ngày thứ nhất
trời sinh con chuột, ngày thứ
hai trời sinh con trâu, ngày thứ
ba trời sinh con cọp ... (chuyện
thần thoại của người Dao : gốc
tích của 12 con giáp của tử vi
ngày nay)".... "Họ biết tìm hiểu
các thức ăn nóng mát (tức thuyết
âm dương) để trị bệnh, dùng kim
đâm vào da thịt lấy máu để trị
bệnh (lể nặn máu ra mà trị bệnh,
giác bầu, châm cứu), lấy đá hơ
nóng áp vào da thịt để trị bệnh
(đốt) vv...."; ... ".... Họ rất
quí các loài chim, biết tập chim
biết nói, ... »... « ... họ có
nuôi nhiều chim trỉ sống trên
núi rất đẹp (mà sau nầy Tàu gọi
là phụng hoàng)".
GỐM CỔ VIỆT NAM :
« Mổi lần đi cống, đồ gốm phải
72 bộ . »
Chính Nguyễn Trãi đã viết như
vậy. Tôi đã đọc được trong một
quyễn sách từ khi còn trẻ, nay
không nhớ là sách gì. Hỏi lại
dân chơi cổ ngoạn Hà Nội, họ đều
công nhận có nghe kể Việt Nam
phải đi cống gốm men ngọc
Céladon làm thật đẹp và thật lớn.
Chính có nhiều anh chàng bán đồ
cổ thấy những mảnh chén gốm
Céladon có đường kính đến 60cm,
và dĩa có đường kính lớn đến nổi
người vào nằm được.
Không biết được mổi ‘bộ’ đây là
gồm bao nhiêu thứ và mổi thứ bao
nhiêu cái. Và mãi cho đến thời
vua Quang-Trung Nguyễn-Huệ, Tàu
vẩn còn buộc chúng ta làm gốm
đẹp, dệt lụa trắng mổi năm đem
cống Tàu (xem quyển Đại Việt
Quốc Thư của vua Quang-Trung
Nguyễn Huệ do Trung Tâm Học Liệu
- Bộ Giáo Dục Đệ Nhất Cộng Hòa
Miền Nam cho dịch ra quốc ngữ
năm 1962 và in thành sách quí
giá, tài liệu hiếm quí của Triều
Nguyễn Tây Sơn còn lại.).
Phải chăng vì vua, quan
Trung-hoa thường thích những đồ
gốm to cao lạ thường, nên vua
chúa quan nước ta cho thợ làm
những chén dĩa gốm nói trên để
thay thế vàng bạc mà đi cống Tàu
chăng ? Chứ người Hoa-kiều chạy
loạn qua Việt-nam sinh sống chắc
chắn không đem đồ gốm to lớn như
vậy. Gốm hoa lam Việt Nam có
trước Tàu, người thợ làm gốm hoa
lam từ rất sớm, chỉ dùng màu
xanh nội địa, và cách trang trí
trên gốm của Việt Nam hoàn toàn
có những đặc tính độc đáo khác
Tàu. Đôi khi các lò gốm Việt Nam
cũng đổi chác màu xanh tươi mà
các lò gốmTrung-hoa mua của
Ba-Tư. Nhìn hai mầu bình gốm ngự
dụng và phong cách trang trí của
Tàu và ta có những nét khác biệt
rất lạ lùng (xem hình 8, 9),
điều nầy chứng minh sự khác biệt
về tính khí, tình cảm và hoàn
cảnh sống của Việt tộc và Hán
tộc. Tôi không dám dài dòng ở
đây; xin mời quí độc giả phán
đoán.

Gốm hoa nâu ngự dụng triều đại
Lý, Việt Nam (Hình 8) : Bình Gốm
hoa nâu :
- Bình trà gốm hoa nâu lớn có
nắp. Kỷ thuật tạo gốm và trang
trí nổi rất đẹp hoàn chỉnh về
mọi mặt. Độc nhất ở Việt Nam và
thế giới. Viện Bào Tàng Lịch Sữ
Hà Nội đã mượn chụp hình đưa vào
sách Mỹ Thuật Thời Lý, chủ nhân
bình không cho mượn nắp. Da rạn
với thời gian. Trang trí 2 dãy
cánh sen kép đều đặc, quá đẹp
trên nắp, trên vai bình và ngay
cổ chân. Một vòng chuổi hột trên
vai. Vòi bình thoát ra từ miệng
một con chim két. Trang trí đặc
biệt trên bình hoa nâu nầy là
một con chim két đâu ngay chổ
quai cầm, yên lặng quay mặt nhìn
trở ra phía lưng. Thân bình được
chia làm 6 khung hình thuẩn đều
nhau. Trong mổi khung được trang
trí bằng hoa và lá hoa súng, hay
còn gọi là sen dại. Xung quanh
đế bình, phía dưới những cánh
sen kép, một chuồi chử I xiên
đều đặn chạy tròn chân bình. Đây
là bình ngự dụng của triều đình
nhà Lý, Việt Nam. Kính = 20cm ,
Cao = 22cm.
Gốm ngự dụng triều nhà Minh
Trung Quốc (Hình 9) :
- Bình lớn tam sơn và ngủ sắc
quan trọng, với 4 tầng lớp ‘Ngư,
Tiều, Canh, Đọc’. Phần cổ của
bình có hình hơi giống hình ống
hai đầu xoè ra, men ngọc rất đẹp
(céladon), vết rạn men lớn. Hai
bên cổ bình có 2 quai làm bằng
cành mai men nâu với 2 nhánh hoa
mai trắng mọc quanh cổ bình. Mặt
trước bình là đỉnh núi xanh từ
thân bình trồi lên. Phần thân
núi nằm trên thân bình. Vai bình
màu xanh da trời sáng. Phần thân
bình hình ống thẳng đứng trang
trí với men xanh trắng. Trên 3/4
diện tích thân bình được vẻ bức
tranh sơn thuỷ, rừng và núi. Bốn
chiếc thuyền ngư ông câu cá trên
sông, trên rừng một tiều phu
đang gánh củi, trong điếm canh 1
người đang đứng. Xa xa trên cầu
một thư sinh cởi ngựa, theo sau
là người hầu gáng 1 gánh sách.
Toàn bộ cảnh vật được bao vây
bằng 7 đỉnh núi nổi trên mặt
biển. Phần chân bình được tô màu
vàng đậm, khúc giữa bóp lại được
trang trí một vòng hoa văn màu
nâu đậm với những hoa mai trắng
và chim trắng vẻ cách điệu. Đế
có men trắng rạn, chính giữa có
in khuôn dấu « Đại Minh
Ch’eng-Houa Niên chế ". Cao =
65cm D = 23cm
Trở lại nông nghiệp của dân Bách
Việt. Làm ruộng công cụ. Nông
nghiệp đòi hỏi nhiều dụng cụ,
dụng cụ đòi hỏi công nghiệp.
Công nghiệp đá sãn xuất công cụ
cho thợ đá (để làm cày cuốc), kỹ
nghệ đá; công nghiệp đồng cho
thợ đồng, kỹ nghệ đồng đúc trống
đồng và các thứ tiểu công nghiệp
khác như nghề nuôi tằm dệt vải,
làm đồ gốm của nước ta từ trước
rất xa thời văn hoá Hoà Bình Bắc
Sơn đã rất phát triển cho đến
thời Bắc thuộc năm 111 tr TC thì
bị cấm chỉ, ngưng hằn. Như vậy
nông nghiệp và công nghiệp nước
ta đã phát triển xa hơn Tàu và
không hề nhờ phương Bắc giáo
huấn. Từ năm 111 tr.TC nước cổ
Việt hoàn toàn bị Tàu thu thập
thầy thợ nhân lực và công lực.
Các thợ thầy giỏi và kỷ thuật
cao của nước ta bị sức mạnh cướp
lấy để phát triển, dành lấy làm
văn hóa của mình. Trong những
thời gian bị đô hộ, dân Việt cổ
bị cấm tuyệt mọi sinh hoạt kỹ
nghệ bản địa công khai. Vì vậy
những nền văn hóa thời tiền và
sơ sử Việt Nam bị ngưng hẵn từ
thời Bắc thuộc, kể cả hậu Trưng
Vương. Thế giới cũng hiểu rằng
Trung Quốc đã ngăn chặn những
nền văn minh tiền sữ Việt Nam,
và đã xung phong vào để tiếp nối
những nền văn minh tiền sử Bách
Việt. Sự kiện nầy đã được làm
sáng tỏ với những bằng chứng
khoa học rõ ràng (sẽ nói rõ sau).
Từ trước đến nay chúng ta chưa
khẳng định được những điều nói
trên mà phải chờ di vật cổ tổ
tiên để lại trong lòng đất mới
có đủ luận cứ thuyết phục cho
chính chúng ta và thế giới. Khảo
Cổ học đã nói lên cho chúng ta
biết rất nhiều điều bí ẩn mà
ngoại quốc đã hiểu lầm hoặc che
dấu và xuyên tạc. Nhờ vậy ngày
nay rất nhiều học giả Trung-hoa
đã công nhận sự thật về nguồn
gốc Bách Việt trong văn hóa Tàu.
Từ khi người Pháp qua cai trị
nước ta, họ chiếm độc quyền khoa
khảo-cổ. Từ cuối thế kỷ 19 và
đầu thế kỷ 20, các nhà khảo cổ
ngoại quốc và Việt Nam đã tìm ra
ở trên đất nước chúng ta từ miền
Bắc đến miền Trung là đất cổ
Bách Việt rất nhiều luận cứ
chứng minh sự thật: Người ta đã
tìm thấy rất nhiều nền văn minh
tiền sử Việt Nam cổ liên tục nối
đuôi nhau trên đất Bắc và Trung
Việt. Thường khi tìm được di chỉ
văn hoá ở đâu sớm nhất, người ta
lấy tên địa phương mà đặt cho
nền văn hóa đó. Văn hoá Việt cổ
xưa nhất còn gặp nhiều di vật
cách đây trung bình 30.000 năm
được tìm thấy ở núi Đọ, thôn Sơn-vi
tỉnh Vĩnh Phú được đặt tên là
văn hóa Sơn-vi hay Tiền Hòa Bình.
Nền văn hóa nầy được tìm thấy
rải rác khắp miền Bắc và Bắc
Trung Việt.
Tuy việc tìm thấy là ngẩu nhiên,
nhưng nhờ vào sự giàu thịnh nên
người ta đã tìm thấy rất nhiều
nền văn hóa có tính cách liên
tục nối tiếp nhau từ văn hoá Sơn-Vi
(30.000 năm tr, TC) qua Hoà Bình
(16.000 - 8.000 tr TC) đến Bắc
Sơn rực rở, Quỳnh Văn, Phùng
Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Hoa
lạc vv.. dần dần đến văn hóa
Đông Sơn huy hoàng có niên đại
từ 1000 năm đến 111 năm tr TC là
thời gian bị Bắc thuộc lần đầu.
Rồi từ 111 tr TC dưới ách đô hộ
của Tàu, văn hóa nước ta ngưng,
chìm lỉm hẳn, không tiến và hầu
như biến hẵn, vì sao ? Hỏi tức
nhiên là đã trã lời. Đến triều
đại nhà Trưng, chính nữ hoàng
Trưng Trắc đã làm sống lại Văn
hóa Đông Sơn Phục Hưng vời trống
đồng dùng để thúc quân trong
quân ngủ. Dư âm của các nền văn
hóa trên còn âm thầm kéo dài
thêm vài thế kỷ sau Bắc thuộc
rồi bị Tàu thôn tính và ẳm đi
luôn.
TRUNG TÂM NÔNG NGHIỆP LÚA NƯỚC
VÀ CÔNG NHIỆP ĐÁ :
Trong những nền văn hoá tiền sử
nước ta khi nói đến văn hóa Hòa
Bình (di chỉ tìm thấy ở tỉnh
Hòa-bình Bắc-Việt) thì từ lâu
giới khảo cổ học và khoa học thế
giới đều biết rằng đó là một
trung tâm nông nghiệp và công
nghiệp đá xưa nhất thế giới.
Nhưng vì sao dân ta như các sử
gia Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh
cứ luôn cho mình là dân man di,
được Hán khai sáng, dạy cho cưới
vợ hỏi chồng, dạy cho nông
nghiệp....
Suốt 1000 năm cai trị, Hán lấy
tài nguyên sản vật quí, và bắt
thợ giỏi, gái đẹp cùng ngăn cấm
dân truyền tụng văn hoá cổ, ngăn
cấm dân ta phát triển kinh tế,
và đập phá tất cả mọi công trình
công nghệ điển hình là gốm, lò
luyện kim, lò đúc đồng, trống
đồng, đúc sắt CỦA Hai Bà Trưng.
Dân Việt sợ, ai có đồ gốm và đồ
đồng, trống đồng thì đem chôn
dấu. May thay khảo cổ học đã lấy
lên từ lòng đất những sự thật về
văn hóa tiền sử, sơ sử và lich
sử nước nhà.
Nghiên cứu tài liệu khảo cổ, đối
chiếu với tài liệu sử học là
việc làm có bằng chứng khoa học
vững vàng giúp chúng ta tìm hiểu
nguồn gốc văn hóa dân tộc. Lịch
sử văn hóa mỹ thuật dân tộc Việt-Nam
cần được soi tỏ dưới ánh sáng
khoa học một cách công-minh.
Khác với lịch sử, sử gia có thẩm
quyền ghi chép nhiều ít theo ý
mình, có thể làm méo mó sai vẹo
đi những sự việc xẩy ra, văn-hoá
mỹ thuật lịch-sử cần những sự
thật cụ thể được chứng-minh bằng
khoa-học. Lịch-sử phụ thuộc sử
gia, trong lúc văn-hoá mỹ thuật
lịch-sử là công trình của tiền
nhân để lại một cách đích thực,
hiển nhiên, không thể chối cãi
hay làm méo mó sự thật được.
Văn hóa mỹ thuật lịch sử giúp
tìm hiểu tâm lý, hoàn cảnh sống,
nghệ thuật, trình độ tiến hóa,
tâm linh, sinh hoạt gia đình
làng xã, quan niệm hôn nhân. Thế
cho nên văn hoá mỹ thuật khảo cổ
là một khoa học lịch sử, nhất là
tiền sử và sơ sử tuy vô cùng khó
khăn và mù mờ nhưng cũng vô cùng
sống động, quí báu và lý thú.
Những cổ vật là vô tri, nhưng
qua đó chúng ta có thể tìm hiểu
được cách sống, tư tưỡng, cá
tính, tinh thần tập thể, tinh
thần đoàn kết dân tộc, tình cảm,
hoài bảo và tư tưỡng triết
thuyết trong cuộc sống vật chất
và tinh thần của tiền nhân. Vì
vậy chúng ta không thể nào chấp
nhận lịch sử văn-hóa nước nhà
qua hành động và lời lẻ khinh
bạc, dìm dập, xuyên tạc của thực
dân ngoại lai Tây và tay sai
người Việt của chúng nó.
Trở lại các thị tộc du mục Mông
Cổ, thủy tổ nhà Hán vượt sông
Hoàng hà đến chiếm dần dà trung
nguyên bao la rộng lớn mà lập
nên nước Tàu vĩ đại. Nghề nông
là do dân Bách Việt làm từ lâu
đời trước khi Mông Cổ đến chiếm,
dân Trung hoa gốc Bách Việt tiếp
tục làm nông. Vị tù trưởng Mông
Cổ Hoàng Đế biến dân Bách Việt
Trung-hoa thành nô lệ, chỉ được
quyền tiếp tục nghề nông hay làm
lính làm tôi tớ. Như vậy khi đến
chiếm lục địa trung nguyên dân
Mông Cổ được thừa hưởng tài sản
nông nghiệp của bao nhiêu đời
Bách Việt truyền lại. Tuy vậy
xưa kia Hán tộc Mông Cổ rất kỳ
thị, khinh miệt và đối xữ tàn ác
với Miêu tộc Trung-hoa, do đó
mới sinh ra chế độ nô lệ man di.
Dân nô lệ Bách Việt thường chỉ
được sống với nghề bản xứ, trồng
trọt, đánh cá hay đánh giặc. Dân
Hán là dân nắm chính quyền vẩn
còn nhớ, yêu thích nghề du mục
xưa, nên rất ưa thích săn bắn,
làm thành một thú tiêu khiển
vương giả.
Sau trận Trác-Lộc, lớp Bách Việt
nước Xích Thần thuộc hàng lãnh
đạo vượt sông Dương Tử giữ nước
Xích Quỉ. Rồi cũng lại bị nhà
Hán đến cướp đất. Sau đời Trưng
Vương họ còn kéo đến đô hộ tiếp.
Trước sau sự đô hộ kéo dài đến
non 1.000 năm. Nhà Hán vừa chiếm
Việt cổ vừa thi hành ngay chính
sách thực dân, thâu nạp không
những của cải vật chất, đặc biệt
là con người với tài nguyên trí
tuệ mà họ vô cùng chú trọng. Nhà
Hán đã chiếm văn hóa tiền và sơ
sữ của Bách Việt trên lục địa
Trung Hoa từ trước. Nay lại
chiếm luôn cả văn hóa sơ sử mới
mẻ của nước Lĩnh-Nam của vua
Trưng Vương từ Động Đình Hồ trở
xuống, rồi kế đến là văn hoá
Việt Nam trong Thiên niên kỷ thứ
I sau CN từ ải Nam quan trở
xuống miền Bắc và miền Trung
Việt Nam.
Vì thế rất dễ hiểu những gì Việt
Nam có từ trước đều được vua
chúa Trung-Hoa làm phát triển
tối đa vang danh thế giới. Đến
sau này Việt Nam lại tìm cách
bắt chước, nhưng chưa được bao
nhiêu, vì thường chính phủ Trung
Quốc bắt buộc các chuyên gia dấu
nghề một cách sắt máu (Hiện tại
2 nước Hoa Việt đều là Cộng Sãn
anh em, vậy mà khi một Kỷ sư Cầu
cống Trung Hoa qua làm việc tại
Hà Nội, hướng dẩn chỉ bảo gì cho
Kỷ sư Việt Nam là bị giết ngay,
và không được làm đám tang như
thường lệ.) Mặt khác dân Việt
khó lòng phát triển nghề của
chính mình, vì thiếu khả năng
kinh tế, thiếu sự giúp đở của
nhà cầm quyền và vì những thợ
giỏi bị bắt đi gần hết.
Người Trung Hoa gốc Mông-Cổ có
thâm ý làm cho người Trung-hoa
gốc Bách Việt và người Việt cổ
quên hẳn quá khứ của giống nòi
hầu dễ dàng buộc họ đồng hóa và
chấp nhận rằng chính nhà Hán
Mông-cổ khai hóa ra Bách Việt,
ra văn hóa của họ. Sự thật người
Trung-quốc gốc Mông-cổ bị đồng
hóa với Bách-Việt. Chính nhà
Nguyên Mông-cổ và nhà Thanh
Mãn-Châu sau nầy cũng lại bị
Trung-hoa gốc Bách Việt đông đúc
đồng hóa luôn. Như vậy Mông cổ
và Mãn Thanh đã bị man di Miêu
tộc Bách việt đồng hóa thành
Trung-hoa. Người Tàu Mông cổ vốn
có vật tổ là cọp trắng, và nhà
cổ là nhà hình tròn gốc du mục
nhưng khi họ thấy vật tổ Bách
Việt là rồng phụng, và nhà cổ
Bách Việt mái cong cong, có nét
đẹp mỹ thuật tao nhả, họ chiếm
ngay văn hoá nhà cổ mái cong
cong và vật tổ rồng phụng Bách
Việt làm của họ và người mình
không hề dám hé môi hay trăn
trối gì với con cháu.
Nhân đây xin kể một trường hợp
xuyên tạc, bình gốm Hoa Lam cổ
Đại Việt, trưng bày ở viện bảo
tàng Istanbul. Cách đây trên 50
năm Tàu và Nhựt tìm xem có thể
là của họ không ? Nhưng đến khi
thấy niên hiệu ghi trên bình là
niên hiệu vua Nhân Tôn nước Đại
Việt (1450) "Thái-hòa bát niên,
Bùi Thị Hy bút" (Hình 11),
ngươời Hoa bèn bảo đó là "...
của một ông thầy Tàu qua Việt
Nam chơi, làm để lại..." ! Và họ
cho Bùi Thị là một người nam,
đọc là "Thái hòa bát niên Bùi
Thị hí bút". Vào thời kỳ đó
người ta hoàn toàn chưa biết
Việt Nam đã có lò gốm hoa lam
rất sớm từ thế kỷ 8, 9, 10, 12,
13 với màu xanh bản địa chứ
không nhập cảng màu xanh tươi
của Ba-Tư như Trung-Hoa.
Phải mất gần 30 năm sau, khi
khảo cổ học Việt Nam tìm thấy
dấu tích nhiều lò nung gốm cổ
hoa lam trên đất Bắc Hà từ thế
kỷ VI, VII, VIII, IX, XI, XIII
cùng những sản phẩm phế thải của
lò và những gốm Việt Nam cổ có
trang trí hoa văn giống hoa văn
hoa cẩm chướng giây, hướng dương
giây, hoa cúc giây bao quanh
thân gốm trên độc bình ở
Istanbul (Hình 12, 13, 14), mới
chứng minh đích thực bình cổ
danh tiếng ở bảo tàng viện
Istanbul là của Việt Nam do một
nữ nhân tên là Bùi Thị Hy trang
trí tỉ mỉ (giới nữ chuyên nghề
trang trí là nghề nhẹ tại các lò
gốm) chứ không phải hí hoạ của
ông thầy Tàu qua Việt Nam.

Trở lại với du mục Mông-Cổ, họ
sống bằng săn-bắn và du mục. Do
đó họ không thể nào là những
người đã phát sinh ra nền
văn-hóa nông nghiệp. Và như thế
họ cũng chẵng bao giờ có họ hàng
cần thiết với các vị Thần-Nông (người
tài giỏi về làm ruộng), bà Nữ-Oa
"đội đá vá trời" (tức là người
tìm hiểu và kinh nghiệm nhiều về
thời tiết giúp nhà nông làm
ruộng). Dân du mục phải thường
xuyên chống chọi với thú rừng,
cũng như chống chọi với các đoàn
du-mục khác, họ phải đấu tranh
không ngừng. Vì thế họ là một
chủng tộc mạnh, tài nghệ bắn
cung, cưởi ngựa, đô vật, đâm
chém của họ rất cao. Chính nhờ
vào tài nghệ nầy mà họ đã thành
công trong việc chiếm lục địa
Xích Thần anh en, và nước Xích
Quỉ của Việt Nam, và chiếm Lĩnh
Nam của vua Trưng. Giòng máu du
mục buộc họ luôn sẵn sàng chiến
đấu, từ đó nảy sinh giòng máu
xâm lăng. Vả lại khí trời miền
bắc lạnh, nên bản chất họ rất
khỏe, họ rất sợ khí nóng ở miền
nhiệt đới nông nghiệp mà họ coi
là nơi âm phong chương khí.
Cũng vì lý do trên, người
Trung-Hoa gốc Mông cổ không thể
có các vị vua Thần nông "vua
trồng-trọt xứ nóng" tức là vua
Viêm Đê, cần thiết của nhà nông.
Dân Bách-Việt hiền lành ở miền
Nam lo nghề nông, không quen
đánh giặc bị họ chiếm hết đất
đai và văn hóa. Suốt trên hai
nghìn năm chúng ta hầu như chỉ
học cho biết rằng Việt Cổ là một
đất nước vô văn-hóa, man di,
được nhờ Tàu Mông cổ khai hóa.
Dầu rằng Tàu gốc Mông cổ không
chứng minh được nguồn gốc văn
hóa của họ. Như thế đủ thấy ảnh
hưỡng của việc bị đô hộ Tàu, kể
cả Tây sau nầy, là nguy hiểm như
thế nào !. Chính vì vậy mà LM
Triết-Gia Kim-Định đã gia-công
nghiên-cứu một triết-lý An-Việt
và nói đến "một nền văn hóa Việt-Nam
cổ mồ côi " mồ côi đây có nghĩa
là không được thế giới trước đây
nhìn nhận, chứ không phải không
có mẹ đẻ ra. Thật ra văn-hóa
tiền-sử Việt-Nam đã bị che dấu
và cướp đoạt vì sức mạnh, chứ
nhất thiết chưa hẳn là không
được nhìn nhận. Văn-hóa Việt cổ
có mẹ đẻ từ các nền văn hóa tiền
sử Việt cổ, và đã sinh đứa con
khổng lồ là nền văn-hóa
siêu-việt Trung-Quốc. Chính
văn-hóa Trung-Quốc lúc không
nhận là con đẻ của văn hóa Bách
Việt, là một văn hóa mồ côi thật
tình. Lúc Tưỡng-Giới-Thạch ra
lệnh nghiên cứu về văn hóa Trung
Hoa từ ngày nay trở về trước.
Nhưng khi lên đến nhà Hán và
thời Khổng-Tữ, các nghiên cứu
gia Trung Hoa Dân Quốc đành bỏ
dở vì vấp phải nguồn gốc văn hóa
Bách Việt !.
Với thực dân Pháp, trong vòng
gần 100 năm đô hộ Việt Nam,
chúng đã lấy biết bao tài sản
của đất nước ta đem về cất giữ
và xây dựng đất nước họ, làm
giàu Viện Bảo Tàng của họ, ví dụ
một dàn đàn đá hoàn chỉnh nhất,
đẹp nhất, báu vật cổ hiếm quí
của Việt Nam; ví dụ bốn quyển
truyện Kiều viết tay, trước tác
của cụ Nguyễn Du vv. và vv. Pháp
cướp về nước làm của báu. Tương
lai gần chúng ta nhất định phải
đòi lại tài sản bị cướp, đòi bồi
thường và đòi Pháp phải xin lổi
dân tộc Việt Nam. Như đã nói
trên trong thời gian bị thực dân
Pháp đô-hộ, việc khảo-cổ trên
đất nước ta chỉ dành độc quyền
cho người Pháp. Chuyên gia và
khảo cổ gia Việt-Nam có đóng góp
công lao ý kiến cũng không được
ghi lại. Người Pháp mà tiêu biểu
là ông Henry Mansuy với óc thực
dân, khinh dân tộc bị trị, đã có
những phán đoán sai lạc, tầm bạy,
tần bạ, lập luận lầm lẩn về văn
hóa mỹ thuật tiền sữ và lịch sữ
Việt Nam. Trước những khám phá
về văn hóa tiền sử và lịch sủ
Việt Nam, ông ta luôn có thành
kiến rằng, bao nhiêu nền văn hóa
xa xưa của Việt-Nam cổ từ thời
tiền sử vốn chỉ là:
"..Đây là hàng nhập cảng....
hàng vay mượn... hàng thiên di
vv. của phương Bắc hay phương
Tây đưa lại mà thôi."!!
Cũng vậy, với phong cách thực
dân, khi Ông H. Mansuy nhìn thấy
những viên gạch lót nền nhà cổ
có hoa văn đẹp (xem hình gạch
lót nhà có hoa văn, đào lên từ
lòng đất của các thế kỷ 10, 12,
15 (Hình 15, 16, 17), ông ta
ganh tị, cay đắng, đã viết lên
một cách sai lầm rằng:
"Đây là gạch nhập cảng chỉ để
làm bàn thờ..... đẹp thế nầy.....
không thể dùng để lót nền nhà
"!!

Ngày nay chúng ta đã tìm thấy
nhiều lò gạch cổ sãn xuất gạch
có khắc hoa văn và thời đại vua
chúa ở Bắc Hà (Hình 15, 16, 17),
và đã đào được nhiều nền nhà lót
gạch có hoa văn thời nhà Đinh,
Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, ví dụ
nền nhà có lót gạch hoa văn rất
đẹp của Hưng Đạo Vương tại Vạn
Kiếp. Các nhà học giả về khảo cổ
học khắp thế giới và Việt Nam đã
chứng minh về tính chất bản địa
của những nền văn hóa tiền sữ
xưa nhất và phát triển nhất trên
đất nước Các nền văn hoá Việt
Nam mà đặc biệt là văn hóa Hòa
Bình xưa nhất với sự ra đời sớm
nhất thế giới của nông nghiệp
lúa nước cũng như các nền văn
hóa lịch sữ sau nầy đều đã được
thế giới công nhận.
Một sự kiện lịch sử vĩ đại mới
xẩy ra tại Hà Nội đầu năm 2004
càng chứng minh thêm sự vững
vàng về những nền văn hóa tiền
sử và lich sử của đất nước ta.
Khi nhân công đào móng để xây
nhà Quốc hội thì gặp ngay một di
tích lịch sử có tầm quan trọng
về khảo cổ học và nhất là về di
tích lịch sử nước nhà lớn nhất
từ xưa đến nay: Đó là sự xuất
hiện một phần cung điện kinh đô
Thăng Long do vua Lý Thái Tổ xây
dựng từ đầu thế kỷ thứ 11. Hiện
các nhà khảo cổ Việt Nam tìm
thấy nhiều tầng lớp văn hoá cùng
những cổ vật quan trọng, những
hòn gạch lớn có khắc niên hiệu
các triều đại Đinh, Tiền-Lê, Lý,
Hậu Lê. Họ đang bàn cải về nhiều
vấn đề, về số lớn các giếng nước
hầu như còn nguyên vẹn, cùng về
những di tích cung điện vua chúa,
thành trì với những sân gạch và
hàng cột gổ quí, có khi cách
nhau đến 5 mét hoặc 6 mét mà có
người cho rằng đó là công trình
cuối thế kỷ 19 bằng bê tông cốt
sắt của triều Nguyễn (các chúa
và vua nhà Nguyễn đóng đô ở
Quãng Trị rồi Thuận Hoá thì làm
sao có công trình ở Thăng Long
vào cuối thế kỷ 19). Ngày xưa
những cây gổ quí cao đến 8, 10
mét để cất cung điện chắc không
thiếu. Người ta đã múc uống ly
nước giếng trong vắt của tổ tiên
1000 năm để lại mà xúc cảm tận
cả tâm can.
Các nhà khảo cổ đang bàn tán dữ
dội về việc di tích tìm thấy bị
chôn vùi sâu dưới lòng đất đến
nhiều mét (từ 2 đến trên 3 mét
?). Di tích hiện tìm thấy thuộc
cung điện nào trong thành Thăng
Long ? Họ lấy làm lạ tại sao có
những hòn gạch ngói cổ niên hiệu
triều Đinh và Tiền-Lê. Theo
thiển ý, thì lúc vua Lý Thái Tổ
dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long,
cũng phải mang theo những vật
liệu xây cất có sẵn ở Hoa Lư từ
thời các vua trước. Và việc chôn
vùi dưới đất sâu là do lủ lụt
bồi đắp nhiều lần suốt gần 10
thế kỷ nay, và con người cũng đã
vun thêm đất cho vững chắc để
xây đường sá nhà cửa. Tôi e rằng
rồi đây người ta phải hy sinh
các chùa chiền, miếu vủ, cao ốc,
nhà cửa dân chúng có tính cách
văn hoá mới sau nầy để làm sống
lại toàn thể di tích kinh thành
cổ Thăng Long. Sự xuất hiện
thành Thăng Long cổ như một phép
lạ vĩ đại cho nền văn hoá mỹ
thuật lịch sử nước nhà. Và trong
tương lai thành Thăng Long cổ
khi hiện nguyên hình sẽ trở nên
một trung tâm lịch sử vẻ vang,
một di tích văn hoá độc đáo
khổng lồ, niềm hảnh diện dân tộc
của chúng ta.
Có những người Việt, và ngay cả
dân khoa bảng lớn đã lầm lẩn và
lẩm cẩm cho rằng Việt Nam không
có văn hóa mà đại diện là nhà
khảo cổ Nguyễn Văn tốt và ông
bác sĩ giáo sư Đại học Mai Kim
Ngọc. Tệ hơn nữa, hiện có một ít
bác sĩ và khoa bảng Việt Nam tự
xưng là không hiểu văn hóa là gì
và cho là dân mình không có văn
hóa. Bs. Vủ Đình Minh thì cho
rằng văn hóa Việt Nam có chăng
chỉ là cái "búi tó trên đầu ông
nội ông ta" đăng trong bài "Bảo
tồn Văn-hóa" của ông khoa bảng
bác sĩ giáo sư Đại học Y khoa
kiêm nhà văn Mai-Kim-Ngọc. Bài
cũng được đăng trên nhiều báo
đặc biệt là báo Y-giới. Bài viết
có tính cách mĩa mai Việt Nam
không có văn hóa gì để mà bảo
tồn ‘hết trơn hết trọi’, hoặc
giả có chăng chỉ có cái "búi tó"
của ông nội ông ta mà thôi.
Nhà khảo cổ Nguyễn Văn Tốt đã
đọc sách tây thực dân, sao chép
lại nguyên văn tư tưỡng khinh
bạc dân tộc Việt Nam của bọn H.
Mansuy và bà M. Colani (khoảng
cuối thế kỷ 19 và đầu thế 20) để
làm ra quyển sách "Introduction
à l'Art Ancien du Viêt Nam, 1er
trimestre 1969"; mặc dầu lúc đó
thế giới đã cải chính ầm ầm
những xác quyết sai lạc của H.
Mansuy (Gisement Préhistorique
du Tonkin 909; Stations
Préhistoriques dans les massifs
calcaires de Bắc Sơn 1924), H.
Mansuy et M. Colani (Néolithique
Bacsonien Inférieur et Supérieur
dans le Haut-Tonkin 1925 ) và bà
M. Colani (Découverte du
Paléolithique dans la Province
de Hòa Bình Vol XVI 1926) rất
lâu rồi. Năm 1932, Đại Hội Nghị
Quốc tế các nhà khảo cổ tiền sử
học Viển đông đã khẳng định tính
cách tiền phong của nền văn hóa
bản địa Hòa-Bình nước ta rồi.
Vấn đề thực tiển là nền văn hóa
Hòa Bình đã được thế giới công
nhận rõ ràng là nơi phát xuất
lúa nước và công nghiệp đá đầu
tiên trên thế giới rồi. Vậy mà
năm 1969 ông Trần Văn Tốt vần
theo đúng luận điệu thực dân lạc
hậu của H. Mansuy mà viết sai
lạc một cách sai lạc trầm trọng
về nền văn hóa Hòa Bình (cách
đây từ 10000 đến 17000 năm) và
văn hóa Bắc Sơn (cách dây 10000
năm dến 6000 năm) rằng:
"Người Hoà-Bình có mặt trên đất
nước Việt-Nam vào khoảng từ 5000
đến 3000 trước TC...coi như chưa
biết gì về nông nghiệp và chăn
nuôi, không biết gì gốm ....
"..."... Đá mài đã có vào thời
Bắc-Sơn, nhưng ít được xử dụng.
";..."... nghệ thuật đá mài có
vai rất tiêu biểu cho văn-hóa
tộc họ Auxtro asiatique, được
dùng nhiều ở miền Trung Đông
Dương. Người ta đã cho là những
rìu mài nầy đươc nhập cảng từ
Tây-Tạng, Giang Nam bên Tàu, vì
chúng nó cũng có ở Hoa-Nam,
An-Độ, Nhật-Bổn, Đại-Hàn... ";
... "... và những dụng cụ đá mài
hình dĩa là của văn-hóa Úc từ
Tàu truyền xuống vv. "....

Hình 18 - Gốm Hoà Bình : Ly rượu
cao cẳng đất nung thuộc, 12000
năm tr.TC.
Than ôi! thật vô cùng đáng trách
! Thật vô cùng xấu xa, hổ nhục
cho chúng ta khi thấy Nguyễn Văn
Tốt chẵng những sao chép lại
y-nguyên những lập luận lầm lạc,
vội vàng và đầy dẩy thành kiến
đầu tiên của ông H. Mansuy mà
còn xuyên tạc một cách nặng nề
vo lý thêm, cùng bỏ qua hoàn
toàn mọi chứng minh khoa học xác
đáng và mới mẻ của các ông C.O.
Sauer (với nhiều sách vở ví dụ
quyển Agricultural Origins and
Dispersals, New York năm 952) và
ông W.G. Solheim II (1960 với
nhiều sách về Hoà bình sẽ kể
sau), và bỏ qua mọi xác quyết
của Đại hội nghị quốc tế các nhà
khảo cổ Viễn đông năm 1932,
không biết với mục đích gì?. Như
thế phải chăng ông Tốt đã cố ý
làm tay sai cho thực dân lổi
thời cho thực dân Pháp mà thế
giới đã lên án, để phản bội văn
hóa dân tộc, chưởi lên đầu ông
bà tổ tiên Việt Nam của ổng !?.
Ông Tốt đã theo đuôi thực dân
đưa ra một thứ suy luận hàm hồ
quá quắt. Vì hể cứ thấy nơi nào
có, thì tất là "nhập cảng của
nơi đó", bất chấp cả thời gian
nơi nào có trước, nơi nào có
sau, và bất chấp cả nơi nào có
tính cách sãn xuất nghiệp vụ, và
nơi nào có tính cách tiêu thụ.
Vậy thì ông Tốt viết sách về
văn-hóa tiền sữ Việt-Nam, phải
chăng là để tìm cách dìm dập
thóa mạ tổ tiên mình hay và để
nối giáo cho giặc chăng ?.
Nhà học giả C. Sauer Hoa-Kỳ đã
viết nhiều về văn hoá hoà Bình
trong nhiều sách ví dụ quyển
‘Đồng-Quê’. Chúng ta hãy nghe
mấy dòng sôi nổi của ông C.O.
Sauer viết trong quyển
Agricultural Origins and
Dispersals - Xuất bản ở New York
1952 :
"Đúng là nông nghiệp đã tiến
triển qua 2 giai đoạn, mà giai
đoạn đầu là giai đoạn của
văn-hóa Hòa-Bình (Bắc Việt), lúa
nước đã được trồng cùng một lúc
với củ môn nước (khoai sọ)...
"..."... Tôi đã chứng minh
Đông-Nam-Á là cái nôi của nền
nông nghiệp xưa nhất.... Và tôi
cũng chứng minh rằng văn-hóa
nông nghiệp có nguồn gốc gắn
liền với đánh cá bằng lưới ở xứ
này (Bắc Việt).... Tôi cũng đã
chứng minh rằng những động vật
gia súc xưa nhất bắt nguồn từ
Đông-Nam-Á.... Và nơi đây là
trung tâm quan trọng của
thế-ygiới về kỷ thuật trồng trọt
và cải biến cây cối bằng cách
tái sinh sản thực vật ".
Đến nay tất cả các nhà khảo cổ
học, sử học Hoa-kỳ như các ông
C. Sauer, R. Somhein, Trương
Quang Trực (Ông Trực là người Mỹ
gốc Trung-hoa), ông Jorhman và
học-giả Liên-Xô là ông N.
Vavilow đều công nhận:
"Đông-Nam-Á mà chủ đạo là
Việt-Nam đã có một nền văn hóa
tiền sử phát triển rất sớm sủa,
tiên tiến và nhanh chóng, sáng
tạo và sống động chưa từng thấy
một nơi nào khác trên
thế-giới.".
Trước đây người ta vẩn ca tụng
địa điểm văn-minh tân thạch khí
ở vùng Tây-Á Tiểu-Á và cho rằng
đây là một xứ nông-nghiệp xưa
nhất thế-giới. Vì đã có những
niên đại C14 lên đến thiên niên
kỷ thứ VII, thứ VI tr.TC. Việc
phát hiện ra nền nông-nghiệp tại
Hòa-Bình cách đây trên 10.000
đến 15000 năm đã làm cho thế
giới rung chuyển, chao động. Như
vậy trung tâm nông-nghiệp xưa
nhất không còn là vùng Lưởng Hà
mà là Đông-Nam-Á , mà chủ đạo là
Việt-nam. Việt-Nam đóng vai trò
quan trọng nhất vì nơi đây là
điểm phát xuất chính.
Chúng ta hãy nghe lời bình luận
xác đáng của ông Willhelm G.
SOLHEIM II (đã viết trong nhiều
sách: Southeast – Asia Vol VI
1962; Reworking Southeast –
Asian Prehistory Vol WV 1969;
The Hoabinhian and Island
Southeast Asia 1972; An Early
Agricultural 1972; Remark on the
Neolithic in South China and
Southeast Asia Vol IV 1973 vv.)
rằmg :
"Tôi cho rằng khi chúng ta
nghiên-cứu lại nhiều cứ liệu ở
lục-địa Đông-Nam-Á, chúng ta
hoàn toàn có thể phát giác ra
rằng việc thuần-thục-hóa cây
trồng đầu tiên trên thế-giới đã
được dân-cư Hòa-Bình (Việt Nam)
hoàn thành vào khoảng 10.000 năm
trước TC."... "Rằng văn-hóa
Hòa-Bình là văn-hóa bản-địa,
không hề chịu ảnh-hưởng của bên
ngoài, đưa tới văn-hóa
Bắc-Sơn.".... "Rằng miền Bắc và
miền Trung lục địa Đông-Nam-Á có
những văn-hóa tiến bộ mà trong
đó đã có sự phát triển của dụng
cụ đá mài láng đầu tiên của
Châu-Á, nếu không nói là đầu
tiên trên thế giới và đồ gốm
(Hình 18) đã được phát minh.
".... "Rằng không phải là sự
thuần hóa thựt vật đầu tiên như
ông Sauer đã gợi ý và chứng minh
mà thôi. Mà còn đi xa hơn, nơi
đây đã cung cấp tư-tuỡng về nông
nghiệp cho phương Tây. Và sau
nầy một số cây đã được truyền
đến Ấn-Độ và Phi-Châu. Và
Đông-Nam-Á còn tiếp tục là một
khu-vực tiền-tiến ở Viển-Đông
cho đến khi Trung-Quốc thay thế
xung lực này vào nữa đầu thiên
niên kỷ thứ 2 tr.TC tức khoảng
1500 tr TC....."(Nữa đầu thiên
niên kỷ thứ 2 tr.TC tức sau khi
Mông-Cổ chiếm lục địa Trung-Hoa
non 1500 năm, tức là vào giai
đoạn nước Xích Thần ổn định trở
lại về nông nghiệp và Trung Quốc
bắt đầu đánh chiếm đất đai nước
Xích Quĩ.)
Như đã nói trên, Trung-quốc thừa
hưỡng văn hóa nông nghiệp phát
triển nhờ dân Bách Việt còn lại
trên hoa lục. Chính nhờ sự phát
triển của những sắc dân Bách
Việt nầy mà Trung quốc rộng lớn
có đủ tư cách thay thế xung lực
phát triển nông nghiệp Đông Nam
Á vào khoảng năm 1500 tr TC. Như
vậy chứng tỏ chính dân Trung hoa
Bách Việt khai hóa về nông
nghiệp cho Tàu Hán tộc Mông Cổ
chứ không phải ngược lại như
Trần Trọng Kim và Đào Duy Anh đã
viết trong các quyển sách Chính
sử giáo khoa cho con dânViệt Nam
học bao lâu nay.
Chúng ta phải xúc động trước
những lập luận rất vô tư, công
bằng và rất khoa-học của W. G.
Solheim II, cng như rất xúc động
trước nắm gạo bị cháy dở hóa
thạch đã tìm thấy ở Đồng-Đậu
Vỉnh-Phú có niên đại 5.500 năm
tr.TC tức cách đây 7.500 năm,
nắm gạo nầy đã đươc thữ nghiệm
bằng carbone 14 (Hình nắm gạo
cháy). Nắm gạo cháy dở của thời
phát trịển trồng lúa nước nầy
cũng chứng minh cho chúng ta
rằng lúa nước đã được trồng từ
rất lâu không ai biết được,
trước lúc nắm gạo bị cháy tức là
trước 7500 năm +- 300 năm lúa
nước đã được trồng qui mô, như
ông Sauer đã cho rằng lúa nước
đi đôi với nghề đánh cá có lưới.
Những sự kiện trên đây đã được
công bố lên thế giới từ lâu với
C.O.Sauer chẳng hạn, trong quyển
"Agricultural Orgins and
Dispersals, New-York- 1952 ",
với Wilhelm G. Solheim trong
quyển "Southeast Asia and the
West. Science vol. 157, 1967,
p.899 " và còn với nhiều tác giả
khác mà kẻ viết bài nầy chỉ nghe
mà chưa hân hạnh có sách.
Ít nhất là 3 năm trước thời gian
mà ông Trần Văn Tốt xuất bản
quyển " Introduction à l'art
ancien du Việt-Nam " bằng tiếng
Pháp năm 1969. Với ông Gs. Bs.
Mai Kim Ngọc, thì ông ta đã tự
nhận dân VN là dân vô văn hóa;
có văn hóa chăng chỉ có cái «
búi tó » của ông nội Gs. Bs. Mai
Kim Ngọc. Vì vậy khi đọc bài của
Gs. Bs. Mai Kim Ngọc tôi thấy
không có gì phải nói với người
tự xưng là vô văn hóa, tuy bài
của tôi đã được viết để trã lời
nhưng tôi đã tự nghĩ khó được
báo của Mai Kim Ngọc cho đăng.
Tôi có gởi bài nầy tới ông bà
chủ nhiệm chủ bút báo Văn Lang,
nhưng được bà chủ bút Nguyên
Hương trã lời rằng tôi đã quá
hãnh diện với văn hoá tiền sử
Việt Nam, bà ta không tin nên
không đăng. Với ông Nguyễn Văn
Tốt thì chúng tôi chỉ còn nói
ngay với ông rằng, một trong các
văn-hoá tiền sữ Việt Nam, văn
hóa Hòa-Bình của Việt Nam, không
phải là đứa con nuôi, con vay
mượn, con thlên di, con hoang,
hay con mồ côi, nó chính là con
đẻ của văn-hóa Sơn-vi kéo dài từ
rất xa xưa, có thể lên đến
500.000 năm đến 15.000 năm tr
TC. Thường người ta lấy một niên
đại tượng trưng gần nhầt là
30.000 năm làm mốc trung gian.
Và để tiếp tục cuộc đời, văn hóa
Hòa Bình đã dẩn đưa nhanh chóng
đến một nền văn-hóa nổi danh thế
giới của Việt Nam là văn-hóa
Bắc-Sơn. Và từ văn hóa Bắc Sơn
đến các nền văn hóa Quỳnh Văn,
Bầu Tró, Hoa Lạc, Phùng Nguyên,
Gò Mun, Đồng Đậu vv. và cuối
cùng là Đông-Sơn.
Sự liên tục của các nền văn hóa
luôn được duy trì bằng những
chứng minh cụ thể. Thật vậy các
nền văn-hóa Việt-Nam cổ ngày
càng được tìm thấy là có những
liên hệ chặt chẻ, những bước
tiến mạnh mẽ, những nét phát
triển huy-hoàng. Mãi cho đến
thời Bắc-thuộc lần thứ nhất thì,
văn hóa Đông Sơn nước ta, bắt
nguồn từ thời tiền sữ, bị ngưng
hẳn. Chính Mông-Cổ là những
người đã xâm lăng các nền văn
hóa tiền sữ và sơ sữ Việt cổ từ
trên đất Trung Nguyên cho đến
Việt Nam. Họ lấy hết cả, vừa đất
đai, vừa công trình, vừa sãn
phẩm, vừa công cụ, vừa con
người, những người thợ tài giỏi,
gái đẹp Việt cổ đem về Tàu để
phát triển nên nền văn hoá
siêu-việt của Trung-Hoa sau này.
Đồng thời cướp lấy, họ phá hoại,
họ cấm cản mọi sự phát triển văn
hóa địa phương của kẻ bị trị
trong suốt trên 1000 năm đô hộ
khủng khiếp. Họ đã cố tâm cướp
đoạt, hủy hoại, cấm đoán, dìm
dập và dấu diếm tất cả mọi vết
tích, mọi hình thức phát triển
của văn-hóa lịch-sữ Việt-Nam.
Lòng đất đã được phơi bày mọi sự
thât. Chính sách vở và các học
giả Trung Hoa hiên-đại cũng đã
nhìn nhận những sự thật văn hoá
tiền sử trên. Văn-hóa Việt-Nam
bị tê liệt, bị biến mất do xâm
lăng và cướp giựt của
Trung-quốc. 1000 năm quá dài,
con cháu không được truyền đạt,
nên dần dà người Việt-nam tự cho
là mình đã được người Tàu khai
hóa như các sữ gia Trần Trọng
Kim và Đào duy Anh nói trên,
thật là hổ thẹn với tiền nhân
thay !!.
Từ rất sớm, năm 1932, tại Đại
Hội Nghị Quốc tế của các nhà
khảo cổ tiền sử học Viển đông,
vấn đề văn hóa Hòa-Bình nước ta
đã được xác nhận một cách khẳng
định. Vấn đề thực tiển là nền
văn hóa Hòa Bình có mặt trên
toàn thế giới. Nhưng điều quan
trọng ở đây là nền văn hóa nầy
đã được tìm thấy ở Việt Nam sớm
hơn đâu cả, nghĩa là có trước
những nơi khác trên thế giới và
tìm thấy ở Hòa-Bình, một làng
nhỏ Việt Nam, ở vào một thời
gian xa xưa nhất, cách đây trên
6.000, đối với các nơi khác trên
thế-giới. Điều nầy có nghĩa là
người Việt cổ tại Hòa-Bình Việt
Nam đã làm nên nền văn hóa Hòa
Bình trước nhất trong nhân loại.
Nói một cách khác, người Hòa
Bình trên đất Việt Nam đã có một
thời văn minh xưa nhất thế-giới,
đó là sự thật mà khoa khảo cổ
học thế giới minh chứng và xác
quyết. Thế nên khảo cổ học thế
giới đã lấy tên của một làng quê
Hoà-Bình Bắc-Việt đặt tên cho
nền văn hóa nầy gọi là văn hóa
Hòa Bình cho toàn thế giới (xem
Encyclopédie d'Archéologie).
Thế là Hòa Bình tại Việt-nam đã
được coi là trung tâm văn minh
tiền sử đầu tiên của nhân loại
về nông nghiệp lúa nước và về
công nghiệp đá. Chẳng những nền
văn minh tiền sữ nầy ngang hàng
với Trung Mỹ và miền Lưỡng Hà về
phương diện kỷ thuật, mà còn đi
trước hai nơi nói trên về thời
gian đến trên 3000 năm. Đó là
điểm rất đáng hảnh diện : Hòa
Bình đã được thế gới xác nhận là
trung tâm phát minh nông nghiệp
và sãn xuất nông nghiệp cùng
chăn nuôi gia súc đầu tiên trên
thế giới.
Trung tâm nông nghiêp cùng chăn
nuôi đầu tiên trên thế giới tại
Hoà Bình Việt Nam đã có trước
vùng Lưỡng Hà đến 3000 năm. Như
vậy thì còn điểm nào nghi ngờ
rằng nơi nào "nhập cảng" nơi
nào!. Hòa-Bình, trung tâm
văn-minh nông nghiệp đầu tiên
của nhân loại trên thế-giới, để
rồi từ đó nền văn-minh trên được
lan tràn khắp vùng Đông-Nam-Á:
Trung-Quốc, Nhựt-Bản, Mả-Lai,
Thái-Lan, Ấn-Độ v v và đi xa dần
trong hàng nghìn năm. Mà ở
Hòa-Bình là nơi sầm uất, giàu
thinh hơn đâu hết và đã có vị
vua Viêm Đế (vua nóng tượng
trưng cho mùa trồng trọt) tức là
Thần-nông, người đã nghiên cứu
dạy nghề nông và được tôn sùng
như một vị vua, và bà Nữ-Oa là
người đã nghiên cứu thời tiết
nắng mưa, cùng các ngày lể, ngày
Tết phù hợp với mùa màng và sự
nghỉ ngơi của người nông dân sau
khi mùa đã thâu hoạch. Bà Nữ Oa
đã nghiên cứu thời tiết lúc
gieo, lúc cấy, lúc gặt, mà dạy
dân làm ruộng không thất mùa,
đầy đủ mưa và nắng đúng lúc đúng
thời. Vì thế dân gian coi bà
Nữ-Oa như một vị thần linh có
khả năng " lấy đá vá trời ".
Văn hóa tiền sữ nước ta đã thu
hút thế giới vào văn hóa Hòa
Bình. Một trung tâm kinh tế sản
xuất lúa nước đầu tiên trên thế
giới. Một trung tâm kỹ nghệ đá
đầu tiên của nhân loại, trước
rất xa văn hóa Lưỡng-Hà và
Trung-Mỷ (Mexico hiện tại) đến
cả 3 thiên niên kỷ. Bước tiến
này nhảy vọt mạnh với văn hóa
Hòa Bình, có lẻ một phần cũng
nhờ ở biến cố thiên-nhiên là
trận Đại Hồng Thủy thế giới đã
xẩy ra thời văn hóa Hòa Bình.
Nói chung đó chỉ là một suy
luận, nhưng thực chất là đã có
sự phát triển liên tục và rõ
ràng từ văn hóa Sơn Vi đến Hòa
Bình.
Tiềm lực của văn hóa Hòa Bình là
càng ngày càng đưa con người
thích nghi nhu cầu sự sống với
một cố gắng như là một cuộc cách
mạng. Đó là cuộc cách mạng sinh
sống bằng kỹ nghệ sản xuất công
cụ để bán đi khắp nơi cho thợ
đá. Và dụng cụ nông nghiệp đá
cho người dùng. Với nhu cầu sãn
xuất nông nghiệp mới nầy, tất
nhiên kỷ nghệ đồ đá phải phát
triển. Văn hóa Hòa Bình là văn
hóa đá giữa, nên nó có một ảnh
hưởng sâu rộng về nghệ thuật đá
mới. Vì chính nơi đây, Hòa Bình,
trên đất nước Việt cổ, là điểm
phát xuất ra nhũng nền văn hoá
thuộc nền cách mạng đá mới của
các nước Trung quốc, Nhật Bản,
Philippine, Indonêsia, Mã đảo và
cả miền Địa Trung Hải vv. Chính
vì vậy, Việt Nam cổ chính là
trung tâm cách mạng sản xuất
công cụ đá mới cho thợ đó khắp
nơi đã được thế giới khẳng định.
Có rất nhiều tầng văn hóa của
các nước trên thế giới thuộc văn
hóa Hòa-bình nhưng trẻ trung
hơn, tức ra đời sau hơn nhiều,
so với Hòa Bình, đã được nghiên
cứu đến và đều được qui về văn
hóa Hòa Bình. Thế giới đã khẵng
định rằng trong những nền văn
hóa ấy không hề có nghệ thuật
chế tạo đá sỏi như ở Việt Nam.
Đá sỏi hay đá cuội là lỏi đá rất
cứng. Với đá nầy công việc chế
tạo, đẻo gọt rất khó. Nhưng
không có công cụ làm bằng đá
sỏi, thợ đá không làm nghề đục
dẻo gọt dủa mài các loại đá khác
như đá tảng, mềm hơn nó đươc.
Vậy nên chỉ có thợ bậc sư mới
làm nên những công cụ bằng đá
sỏi, sãn xuất ra đồ nghề bán cho
thợ đá. Như thế thợ đá mới có
công cụ chế tạo ra dụng cụ đá
cho nông dân hay tiều phu, hay
bất cứ ai.
Thời gian, mưa gió và ánh nắng
mặt trời đã làm tan vở đá tãng
ra, rồi bào mòn và tẩy sạch
những tãng đá lớn. Hạt nhân đá
còn lại có độ cứng rất cao gọi
là đá sỏi hay đá cuội. Chế tạo
những hòn đá cứng nầy rất khó
khăn. Nhưng người ta cần những
rìu đá, búa đá, dao đá bằng đá
sỏi mới có thể sãn xuất ra những
rìu, búa, dao, cày đá vv... bằng
đá tãng mềm hơn cho người nông
dân. Đẻo gọt trên đá sỏi cứng
rất khó khăn nhưng vô cùng cần
thiết. Người cổ Việt đã nghiên
cứu dụng cụ và kỷ thuật đẻo gọt
đá sỏi như thế nào, đó là cả
những bí quyết nhà nghề không
phải ai cũng có thể học và làm
được. Và như vậy việc sãn xuất
công cụ nông nghiệp ở Hoà Bình
trở nên quan trọng cho khắp các
miền nông nghiệp. Vì phải có
những công cụ bằng đá sỏi cứng
mới có thể chế tạo ra các dụng
cụ đá tảng một cách dễ dàng. Chỉ
ở Hòa Bình mới có nghệ thuật chế
tác đá sỏi cứng, với số lượng
rất cao, dùng để bán đi khắp nơi
cho thợ đá chế tạo những dụng cụ
bằng đá. Thợ đá dùng công cụ đá
sỏi cứng của Hoà Bình mà chế tác
các dụng cụ nông nghiệp đá tảng
mềm hơn đá sỏi. Khắp nơi trên
địa cầu có rất nhiều học trò về
chế tạo đá của các bậc thầy đá
Hoà Bình Việt Nam. Như vậy rõ
ràng là chỉ trong nền văn hóa
Hòa bình tại Việt-nam mới có
việc sãn xuất công cụ đá cứng
cho người thợ đá xữ dụng như là
dụng cụ chế tạo đá xưa nhất thế
giới.
Vậy còn ai hoài nghi Hoà Bình
không phải là trung-tâm đẻ ra
nghiệp vụ đá cho nhiều quốc gia
trên thế giới. Văn hóa Hòa Bình
là một nền Văn hóa cách mạng ra
đời trước văn hóa Bắc Sơn, và
như trên đã nói, lẻ dỉ nhiên
trước Đông Sơn rất lâu, ít nhất
đến cả từ 8.000 đến 13.000 năm.
Và chính Hòa Bình là mẹ đẻ ra
nền văn hóa nổi danh Bắc Sơn và
sau nầy là văn hóa Đông Sơn rực
rở huy hoàng. Văn hóa Đông Sơn
kéo dài cho tới khi Tàu qua
chiếm nước ta lần đầu tiên thì
ngừng hẳn. Điều nầy chứng minh
rõ ràng Tàu đã đến cướp mất, phá
hoại, cấm chỉ sự phát triển văn
hóa của nước Việt cổ. Rõ ràng
cũng nhờ cướp bóc lỏi cốt văn
hoá Bách Việt cộng với sự giàu
mạnh của cải và nhân lực mà văn
hóa Trung Hoa tiến nhanh sau
nầy.
Thật vậy, nhờ vào khảo cổ học mà
mọi bí ẩn của tiền sử đã được
làm sáng tỏ. Và thế giới đã công
nhận Việt Nam, tiêu biểu là văn
hóa Hoà Bình (và Bắc Sơn) mà tên
tuổi đã được "thế-giới-hóa"
(Encyclopédie d'Archéologie), đã
được thế giới xác nhận là nơi có
một nền nông nghiệp lúa nước và
công nghiệp đá xưa nhất thế
giới. Có thể vì văn hóa Hòa Bình
nằm vào thời điểm của trận
Đại-hồng-thủy cách đây từ 17.000
năm đến 6.000 tr.TC. Cuộc Đại
Hồng Thủy nầy bao gồm cả thế
giới, theo đó chắc nó ăn khớp và
trùng hợp với cuộc Đại Hồng Thủy
đã được diễn tả trong Cựu Kinh
Ước của đạo Do Thái và Đạo Công
Giáo. Vì vậy theo khoa học, rỏ
ràng trước và sau Đại Hồng Thủy
loài người đã có mặt thậm lâu
trên miền Đông Nam Á, mà quan
trọng là tại Việt Nam cổ.
Sau vụ đại hồng thủy nầy, nơi
trên thế giới nguy hại nhiều
nhất là Lục Địa Đông Nam Á nói
chung và có lẻ còn là Việt Nam
nói riêng, cho nên mảnh đất chữ
S của tổ quốc Việt Nam ngày nay
thật là ốm o, mảnh dẻ quá sức.
Vì một phần đất lớn của miền nầy
đã sụp xuống biễn, mở rộng thêm
Thái-bình-dương. Xét theo thềm
lục địa Đông Nam Á, các nhà khảo
cổ nhận thấy Đại Hồng Thủy lên
và lui rất chậm chạp, vì thế
không xẩy ra tai nạn chết người
tập thể. Như vậy số người đã
sống trên bình nguyên Đông Nam Á
cổ mà nay là biển đã di tản
nguyên vẹn ra khắp các lục địa
Đông Nam Á, và Úc Châu. Có lẻ đó
là lý do chính của sự hổn hợp
nhiều chủng tộc trên miền Đông
Nam Á. Phần đất còn sót lại sau
Đại-hồng-thủy trở nên quá ít đối
với số dân sống bằng hái lượm
trước kia. Do đó vấn đề cần
thiết cho sự sinh sống của người
Đông Nam Á mà trong đó người
Bách Việt cổ là căn bản, là đi
tìm thức ăn mới. Người Bách Việt
cổ đã di tản lên chốn cao nguyên
tức là lục địa Bách Việt cổ mà
nay là Trung Hoa và đồng bằng
Bắc Việt và thẵng đến miền duyên
hải Trung Việt (vùng Quãng Trị
Quãng-Hóa tức là Thừa-Thiên ).
Người Việt cổ bắt buộc phải nghỉ
đến cách làm tăng số lượng thực
phẩm cần thiết để sinh sống mà
trước đây họ chỉ cần tìm thấy dễ
dàng trong thiên-nhiên. Đây có
lẻ là nguyên nhân phát triển
nghề nông của các chủng Bách
Việt di tản đến Đông Nam Á mà
chủ yếu là Việt Nam cổ.
ĐOẠN KẾT :
Trên đây tôi đã dẩn những cứ
liệu lịch sử về văn hóa Hòa Bình
với mục đích xóa tan những luận
điệu và nhận xét sai lạc của
thực dân Tây, Tàu và những người
Việt phản văn hoá; đồng thời
cũng để trình bày một cách tương
đối sơ lượt, một khía cạnh nào
đó sự nghiệp lớn lao của tổ tiên
chúng ta. Hiện tại thế giới đã
công nhận rằng nước Việt Nam
chúng ta đã có một nền nông
nghiệp lúa nước và một nền công
nghiệp đá đã từng phát triển rực
rở và xưa nhất thế giới.
Vậy mà bao nhiêu trăm năm nay
đất nước chúng ta phải trãi qua
biết bao gian truân, đói khó,
xâm lăng, huynh đệ tương tàn.
Đến nổi con cháu mờ mịt cả mắt
mủi không còn thấy gì về tiền
nhân, không còn biết gì đến công
lao sự nghiệp của tổ tiên. Đồng
thời con cháu cũng đã để ngoại
bang hiểu lầm về sự nghiệp của
các Vị Tiền Bối. Hiện tại dân
Việt phải đói khổ, nghèo nàn,
đau thương, chậm tiến một cách
man rợ. Thật là một điều vô cùng
phi lý và tủi hổ cho thân phận
con người Việt Nam ngày nay, tất
cả cùng chỉ vì xâm lăng Tàu đặc
biệt là từ sau thời Vua Trưng.
Thôi thì, tục ngữ ta vốn có câu
"Mấy ai giàu ba họ, mấy ai khó
ba đời". Ngày xưa Việt Nam vượt
hẳn các nước Đông Nam Á và nhiều
nước khác trên thế giới, vinh
thật là vinh. Ngày nay chúng ta
trở lại thua kém tất cả thì nổi
nhục ấy quả nhiên thật là nhục.
Chung quy cũng vì bị đô hộ và
chiến tranh quá nhiều và cũng do
lòng người tham ô nhũng nhiễu
trãi qua mọi thời đại và gần đây
là từ thời Việt Nam Cộng Hòa cho
đến ngày nay.
Vậy, chúng ta chỉ còn cầu mong
hết nhục và ắc sẽ có ngày vinh
quang. Chúng ta hãy đầy lòng tin
tưỡng cho ngày mai. Sau cơn sáng
trời lại mưa, thì ắc sau cơn mưa
trời lại sáng. Chúng ta phải tin
tưỡng như vậy. Chúng ta sẽ không
tự mãn, tự hả hê trước những
thành tựu về tiền tài, học hành
thi cử hay nghề nghiệp của chúng
ta và của con em trên đất khách.
Vì đó chỉ là chuyện đương nhiên,
mà trái lại chúng ta phải tự
kiểm điểm những thiếu sót, những
mất mát lớn lao của chúng ta và
của các thế hệ trẻ về phương
diện văn hóa dân tộc. Chúng ta
phải có bổn phận vun trồng mầm
móng văn hóa Bách Việt nước nhà
lên trong lòng chúng ta và trong
lòng non con cháu chúng ta ở hãi
ngoại. Đó tất nhiên phải là điều
khó khăn, chúng ta có thể bỏ
công lao mồ hôi nước mắt, nghị
lực thời gian làm việc hữu ích
cho hậu duệ chúng ta; hơn là
ngày đêm ganh tương, tị hiềm,
kình địch, châm biến, chia rẽ,
giành giựt chức tước, địa vị ảo,
đua nhau bịa đặt, bôi nhọ, vu
khống, chửi bới nhau, chia rẽ
nhau lan tràn khắp nơi. Những
hành động đó chẵng những đã biến
dần dân lưu vong thành một sắc
dân mất gốc, vô văn hóa, vô cuội
nguồn. Chúng còn biến một số
người Việt lưu vong đông đúc,
tuy có nhiều tiền bạc, khoa
bảng, bằng cấp, nhiều chức tước,
địa vị cao nhưng vô văn hóa,
thiếu nhân phẩm, thành « man di
mọi rợ » đúng như danh nghĩa mà
người Trung-Hoa đặt cho dân tộc
ta trước đây vậy.
Nhà triết gia Nhật đã nói : «
Mổi người Việt là mổi viên ngọc
quí, nhưng nhiều người Việt hợp
lại thì thành bùn thối. Mổi
người Nhật chỉ là một hột cát,
nhưng nhiều người Nhật hợp lại
thì trở nên thành quách kiên cố.
» Thật là xấu hổ cho người Việt.
Các dân tộc khác như Trung-hoa,
Nhật-bãn, Do-Thái... họ có tình
đoàn kết dân tộc, bỏ qua dễ dàng
hận thù cá nhân, tập thể, để bảo
tồn và xây dựng văn hóa dân tộc.
Họ ra sức đi tiền phong trong
tinh thần đoàn kết dân tộc,
trong tinh thần vì quyền lợi
chung, trong hy sinh nhẩn nhục
cá nhân vô cùng khó khăn vất vả
trong mọi trạng huống cho kỳ đạt
mục đích : ví dụ dân Nhật Bản
sau chiến tranh khủng khiếp với
2 trái bom nguyên tử ; ví dụ dân
tộc Do Thái. Và họ đã thành
công. Các dân tộc ấy là những
tấm gương sáng giúp chúng ta
trong mọi nổ lực đoàn kết, đại
đoàn kết trong công bằng nhân
ái, trong lòng tôn trọng quyền
làm người tự do. Biết sống có
tình có nghĩa có lý, biết coi
thường danh lợi vật chất riêng
tư, biết làm phát triển văn minh
tinh thần, tức văn hóa truyền
thống dân tộc.
Mới đây, sau 100 năm bị đô hộ,
sau nửa thế kỷ nội chiến, người
Việt trong cũng như ngoài nước,
hầu như quên đường lối sống
vương đạo của tiền nhân, lao
mình vào nhiều thoái hoá đạo
đức, những thú tánh khiến cho sự
phát triển văn hoá trì trệ rất
đáng trách. Sự đoàn kết dân tộc
là một tiềm năng sức mạnh vô
biên. Một dân tộc không biết
đoàn kết, không biết sống làm
việc vì quyền lợi chung là một
dân tộc tự hoại. Đoàn kết là sức
mạnh cho tất cả, sức mạnh làm
cho ngoại xâm khiếp sợ, kính nể,
làm cho đất nước phát triển,
toàn dân phát triển, mổi một
người cho tất cả, tất cả vì mổi
người. Đoàn kết là kho tàng tài
sãn tinh thần và vật chất vô
cùng quí báu mà mà không tốn
tiền, không hao tổn tài nguyên.
Đoàn kết là không gieo trồng mà
chỉ có gặt hái. Nguyện cầu Tổ
Tiên dân tộc Việt Nam, những vị
đã biết đoàn kết để làm nên sự
nghiệp cao cả cho đất nước, giúp
cho con cháu biết giá trị của sự
đoàn kết và biết đoàn kết lại.
Như một phép mầu, chính Tổ Tiên
Việt Nam đã soi sáng cho trí tuệ
chúng ta nhìn thấy tài sãn của
tiền nhân để lại cho con cháu
qua những sự thành tựu của họ
trong tình nghĩa, vị tha và đoàn
kết để thành công trong một nền
văn hóa ưu việt, sống động. Đó
là văn hoá tinh thần sinh vật
chất của tổ tiên. Chắc chắn Tổ
tiên đã làm rạng ngời nó trong
nhiều tâm can người Việt, đã làm
sống lại bừng bừng thật sự văn
hóa trong nhiều trái tim rướm
máu của người Việt, trong tinh
thần dân tộc biết tìm đến đoàn
kết dân tộc. Chắc chắn Tổ Tiên
Việt Nam đang và sẽ luôn chổi
dậy trong tiềm thức, trí tuệ,
trong từng tế bào của nhiều
người Việt để phát thành âm
hưỡng qua không biết bao nhiêu
hình thức xây dựng.
Niềm tin chắc chắn sẽ trở nên
hiện thực trong một ngày mai gần
gủi, cũng phải do ở những hành
động sâu ẩn trong ưu tư hoài bảo
tài sãn văn hóa dân tộc của mổi
một người trong chúng ta. Để cầu
chúc cho bước tiến văn hóa ở
tương lai gần của dân Việt,
chúng tôi xin kính hiếu chút
tình cảm lên trước bao công lao
khó nhọc của Tổ Tiên chúng ta
suốt từ thời tiền và sơ sử đến
nay qua câu nói của nhà văn hào
Jean Valery:
« Hởi tâm hồn cao cả, đã đến lúc
mà người cần được mặc
chiếc áo xinh đẹp xứng đáng với
cơ thể người »
BS. Nguyễn Thị Thanh
Montréal tháng Mười 1992