|
Tìm
hiểu Thế chiến thứ Hai cùng
chiến tranh Triều Tiên, người
nghiên cứu lịch sử khâm phục
tướng Douglas MacArthur với
chiến lược “tấn công nhảy cò”
(Island hopping offences) tại
các quần đảo Thái Bình Dương và
cuộc đổ bộ tại hải cảng Inchon (Nhân
Xuyên) Triều Tiên.
Năm 1942, sau khi nhận lệnh rời
bán đảo Batan tại Philippines để
đi đến Australia, tướng
MacArthur hứa rằng sẽ trở lại
giải phóng quần đảo này khỏi tay
Nhật. Với chức vụ Tư lệnh quân
đội Đồng minh vùng tây nam Thái
Bình Dương, ông mở mặt trận phía
bắc Australia, để rồi cuối cùng
đổ bộ lên Philippines.
Cuộc trường chinh có chiều dài
hàng mấy ngàn cây số, kinh qua
rất nhiều đảo nhỏ thuộc quần đảo
New Guinea và Melanesia do quân
Nhật chiếm đóng. Nếu lần lượt
tấn công để làm chủ tất cả các
hải đảo này, quân đội Đồng Minh
phải sử dụng rất nhiều quân,
chấp nhận nhiều tổn thất và mất
nhiều thời gian.
Để tránh những khó khăn nêu trên,
tướng MacArthur sử dụng lối hành
quân “nhảy cò”. Ông chủ trương
chỉ tấn công chiếm đóng các đảo
quan trọng, rồi từ các đảo này
dùng hải quân và không quân
khống chế sự họat động của địch
tại các đảo kế cận mà ông đã bỏ
qua không cần chiếm đóng. Quyết
định này rất hiệu nghiệm, vì chỉ
dùng một lực lượng nhỏ cầm chân
được lực lượng lớn của địch;
dành thành phần sinh lực tiến
nhanh lên phía bắc để giải phóng
Philippines vào năm 1944.
Trong cuộc chiến tranh Triều
Tiên vào năm 1950, ngôi sao của
tướng MacArthur lại càng sáng
chói qua cuộc điều binh đổ bộ
vào Inchon. Lúc bấy giờ quân Bắc
Triều Tiên đột ngột tấn công Nam
Triều Tiên cho đến tận thành phố
Pusan (Phú Sơn) phía nam, sắp
sửa đánh bật quân đội Liên hiệp
quốc ra khỏi bán đảo này.
Sau khi Pusan được tăng cường và
giữ vững, nếu như thường tình,
từ đó dùng bàn đạp tấn công lên
phía bắc, thì phải đổ rất nhiều
xương máu và mất rất nhiều ngày
tháng. Tướng MacArthur chọn giải
pháp khác. Ông cho đổ bộ tại
Inchon, gần thủ đô Seoul (Hán
Thành), nơi địch quân ít ngờ
nhất vì nước thủy triều nơi này
lên xuống rất nhanh, rất hạn chế
thời gian đổ bộ. Cuộc đổ bộ đạt
được yếu tố bất ngờ, thành công
nhiều mà ít tổn thấtr. Lực lượng
tấn công “chẹn họng ” cắt ngang
nước Triều Tiên và tái chiếm thủ
đô Seoul. Quân Bắc Triều Tiên
với số lượng rất lớn kẹt giữa
Seoul và Pusan, hầu như không
đánh mà tan.
Tại nước ta, trong quá trình giữ
nước và mở mang bờ cõi, các danh
tướng có tầm nhìn chiến lược cỡ
Đại tướng MacArthur, không phải
là không có. Chiến lược “nhảy
cóc” tại Thái Bình Dương và
“chẹn họng” gần thủ đô Seoul mà
vị tướng này đã dùng; thì riêng
tại nước ta trước đây gần 600
năm, vua Lê Lợi đã từng sử dụng
chiến lược tương tự, tạm gọi là
“nhảy cóc và chẹn đường tiếp
viện”.
I. Chiến lược
1. Nhảy cóc
Sau khi bao vây thành Nghệ An,
vào cuối năm Ất Tỵ [1425] vua Lê
Lợi nhận thấy quân tinh nhuệ của
giặc đều đóng tại nơi này, lực
lượng địch tại miền Bắc nhất
định suy yếu. Ngài quyết định để
một phần nghĩa quân cầm chân
giặc tại Nghệ An, mang đại quân
ra bắc tấn công vùng biên giới
và uy hiếp thành Đông Quan [Hà
Nội]. Nếu như một người tầm
thường, lần lượt cho quét sạch
quân địch trên đường tiến quân,
thì mất không biết bao nhiêu
ngày tháng; hơn nữa số quân địch
bị tổn thất, sẽ có quân tiếp
viện vượt biên giới sang tăng
cường, thì chiến tranh còn lâu
mới chấm dứt được. Bởi vậy trên
đường tiến quân ra Bắc, nhà vua
quyết định chỉ uy hiếp giặc co
cụm lại trong thành, dùng lực
lượng địa phương khống chế; rồi
mang đại quân ra chẹn đường tiếp
viện tại vùng gần biên giới.
Quyết định này rất hữu hiệu,
phần lớn các đồn nhỏ của giặc
không được tiếp tế khiến tinh
thần quân lính suy sụp, lần lượt
ra hàng. Riêng thành lớn như
Nghệ An do Đô đốc Thái Phúc chỉ
huy, cuối cùng cũng phải bỏ.
Trong một văn bản của triều đình
nhà Minh kết tội viên tướng này,
tiết lộ rằng y rút quân từ thành
Nghệ An đến sông Phú Lương [Hồng
Hà], rồi bị đánh phải xin hàng,
cuối cùng y hợp tác với nghĩa
quân, đi chiêu hàng quân nhà
Minh tại các thành.
Ngày 20 tháng 5 năm Tuyên Đức
thứ 3 [2/7/1428]
… Chu An từ Chỉ huy Thiêm sự vệ
Chấn Vũ được điều đi đánh giặc
họ Lê, cải nhiệm tiền vệ Giao
Chỉ, trấn thủ Nghệ An. Gặp lúc
giặc Lê Lợi lộng hành, Đô đốc
Thái Phúc triệu các tướng đến
bàn:
“Nay tại đây thiếu lương thực,
khó khăn, nên không thể giữ được,
hãy thu thập về Đông Quan.”
Tất cả đều đồng ý. Riêng Thiên
hộ Bảo Tuyên lĩnh binh hơn 100
tên chạy đến trại giặc. An đốc
suất kẻ dưới quyền, cùng quân
dân vệ Diễn Châu trở về thành
Đông Quan. Đi đến sông Phú Lương
gặp giặc; vì binh ít, yếu nên bị
giặc bắt. Phúc bị giặc bức bách,
lệnh đến các thành dụ các chỉ
huy thành ra hàng… [1]
Ngay tại thành Thanh Hóa, các
viên chỉ huy gan lỳ như La Thông,
Đả Trung cũng đành thụ động, lo
phòng thủ trong thành mà thôi:
Ngày 5 tháng 12 năm Tuyên Đức
thứ nhất [2/1/1427]
Ngày hôm nay giặc họ Lê đánh
châu Thanh Hóa không hạ được,
bèn rút đi.
Trước đó, từ khi thất bại tại
Ninh Kiều Thành Sơn hầu Vương
Thông không còn vững lòng như
trước, tự tiện cho Lê Lợi cai
quản từ Thanh Hóa trở vào nam,
truyền hịch cho quan quân tại
nơi này rút về thành Đông Quan.
Riêng châu Thanh Hóa không chịu
nghe lệnh. Trước kia Lê Lợi đánh
Thanh Hóa, Tri châu La Thông,
Chỉ huy Đả Trung suất quân dân
kiên thủ, có lúc mang quân đánh
núi đất, sát thương giặc nhiều,
thế giặc bớt căng thẳng. Lúc này
hịch tới, người trong thành kinh
sợ. Thông nói với Trung rằng,
bọn chúng ta chống cự, mấy lần
đánh bại giặc, ra khỏi thành thì
không sống được; nay tại đây
thành cao, hào sâu, lương nhiều,
dân đông; so với việc chịu trói,
chi bằng tận trung mà chết, mà
chưa chắc đã chết đâu! Bọn [Vương]
Thông bán thành cho giặc, lệnh
này không thể theo được.” Rồi
cùng với Trung tưởng lệ quân sĩ,
giữ thành vững thêm; giặc đánh
không hạ được, bèn bỏ đi. Khi
Vương Thông bỏ Giao Chỉ, bọn
[La] Thông cũng trở về kinh đô.
2. Chặn đường tiếp viện
Con đường tiếp viện chính của
quân Minh lúc bấy giờ về phía
Vân Nam theo hướng thượng lưu
sông Hồng, sông Lô; về phía
Quảng Đông, Quảng Tây theo hướng
Lạng Sơn, Bắc Giang. Toàn thư
ghi lại những nỗ lực của nghĩa
quân ngăn chặn đường tiếp viện
tại các vùng này như sau:
“Mùa thu tháng 8, vua cho là
quân tinh nhuệ của giặc đều ở
Nghệ An cả, các xứ Đông Đô của
chúng nhất định suy yếu, bèn
tăng thêm binh tượng, sai bọn
Khu mật đại sứ Phạm Văn Xảo,
Thái úy Lê Triện, Thái giám Lê
Khả, Á hầu Lê Như Huân, Lê Bí
đem hơn 3.000 quân, 1 thớt voi
đi tuần tại các xứ Thiên Quan [Ninh
Bình], Quảng Oai, Quốc Oai [Hà
Tây], Gia Hưng [Sơn La], Quy Hóa
[Lào Cai], Đà Giang, Tam Đái [Vĩnh
Phúc], Tuyên Quang để cắt đứt
đường viện binh của quân giặc từ
Vân Nam sang. Bọn Thiếu úy Lê Bí,
Thái giám Lê Khuyển đem 2.000
quân và 1 thớt voi đánh các xứ
Khoái Châu, Bắc Giang, Lạng
Giang để chặn viện binh từ Lưỡng
Quảng tới.” [2]
Riêng Minh Thực lục ghi lại
những cuộc giao tranh lớn tại
vùng này như sau:
Văn bản ngày 12/11/1426 về cuộc
giao tranh tại vùng Quảng oai [Hà
Tây], Đô chỉ huy Tố Lượng bị bắt.
14/1/1427 nghĩa quân tấn công Ải
Lưu Lạng Sơn, giết Bách hộ Hoàng
Bưu.
7/4/1427 nghĩa quân vây Khâu Ôn,
Lạng Sơn.
28/4/1427 nghĩa quân đánh tan
đại đồn Xương Giang.
29/9/1427 nghĩa quân đánh tan
đạo quân tiếp viện của Liễu
Thăng tại Chi Lăng.
Với chiến thắng Xương Giang, rồi
tiếp đến Chi Lăng đã dập tắt mọi
nỗ lực chống cự của quân Minh.
Cuối cùng thì Vương Thông thế
cùng lực kiệt, không kịp đợi
lệnh vua nhà Minh, tự tiện hội
thề với vua Lê Lợi để xin rút
quân về; chiến lược “nhảy cóc,
và chặn đường tiếp viện” đã gặt
hái thành công mỹ mãn.
II. Chiến thuật
Nếu chiến lược là kế sách lớn
chỉ đạo toàn cuộc chiến, thì
chiến thuật giúp đạt những mục
tiêu, từng bước hỗ trợ cho chiến
lược; bởi vậy thiên tài quân sự
cần giỏi cả hai: chiến lược lẫn
chiến thuật. Sau đây xin nêu lên
những chiến thuật căn bản, được
thi triển trong cuộc kháng chiến
chống quân Minh:
1. Xua cọp ra khỏi núi
Hãy dùng bản đồ tỉnh Nghệ An, Hà
Tĩnh. Lưu ý đến ngã ba sông Lam
và sông La, cách Vinh khoảng
trên 10 km; có một núi thấp mà
người địa phương gọi là Rú Thành;
đó là thành Nghệ An xưa, thời
nhà Minh đóng quân tại đó. Thành
này vây bọc bởi hai sông Lam,
La; thành cao, hào sâu, ở vị thế
cao khống chế các vùng xung
quanh; không dễ gì tấn công được.
Quân Minh đóng trong thành này,
có lợi thế như cọp sống trong
rừng.
Ngược theo dòng sông Lam khoảng
hơn một trăm cây số là huyện
Tương Dương, thuộc tỉnh Nghệ An;
nơi này thời thuộc Minh gọi là
châu Trà Long [Lân], do viên Thổ
quan trung thành với nhà Minh là
Cầm Bành đóng quân. Áp dụng
chiến thuật “xua cọp ra khỏi núi“,
nghĩa quân bao vây và tấn công
Trà Long trong thời gian dài,
quân Minh như cọp trong thành
Nghệ An, buộc phải đi tiếp cứu,
hoặc tìm cách chiếm lại sau khi
thành mất. Nhìn trên bản đồ, con
đường tiếp cứu của quân Minh ắt
phải đi dọc theo sông Lam; hoặc
muốn tránh né thì đi ngược dòng
sông Phố, theo ngã Hương Sơn, Hà
Tĩnh; rồi băng qua các huyện
Thanh Chương, đến huyện Tương
Dương. Lịch sử ghi nhận rằng
quân Minh đã đi qua những chiến
trường do vua Lê Lợi chọn lựa,
chúng như con cọp ra khỏi rừng,
nên bị thảm bại nhiều lần trên
các tuyến đường này.
Sử nước ta, Toàn thư, lần lượt
chép những chiến thắng như sau:
Tháng 9 năm Giáp Thìn [1424],
nghĩa quân phục kích gần thành
Trà Long, chém Đô ty Trần Trung
và hơn 2.000 tên giặc. Ngày hôm
sau đánh quân của Sư Hựu, chém
hơn 1.000 tên.
Tháng 12 cùng năm, nghĩa quân
chặn giặc tại Đỗ Gia [huyện
Hương Sơn].
Tháng 12 cùng năm, nghĩa quân
phục kích tại Khả Lưu [huyện Anh
Sơn]; quân Minh bị chém hoặc
chết trôi hàng vạn tên. Hôm sau
lại tiếp tục phục kích tại Bồ Ải
[huyện Anh Sơn], giết hàng ngàn
giặc, rồi tiếp tục xua đuổi đến
tận thành Nghê An.
Để tránh thiên kiến, chúng tôi
xin tham khảo thêm Minh Thực lục.
Trong một chiếu dụ trách phạt
bọn Trần Trí, Phương Chính, Sơn
Thọ về việc thất bại tại Trà
Long, vua Tuyên Đức nhà Minh đã
có lời lẽ nghiêm khắc như sau:
Ngày 5 tháng 3 năm Tuyên Đức thứ
nhất [12/4/1426]
Quan Tổng binh Giao Chỉ Vinh
Xương bá Trần Trí, Đô đốc Phương
Chính đánh dẹp bọn giặc Lê Lợi;
tiến quân đến châu Trà Long, bị
thua. Nguyên nhân Chính dõng,
Trí khiếp nhược, vốn không hòa
thuận với nhau; Nội quan Sơn Thọ
lại chủ trương chiêu dụ nên đóng
binh một chỗ không cứu, đến nỗi
bị bại. Thượng thư Trần Hiệp tâu
cho biết; Thiên tử nghiêm thiết
trách Trí và Chính rằng:
“Giặc Lê Lợi vốn chỉ là tên nhãi
con, nếu sớm tận tâm đánh bắt,
thì dễ như nhặt một cọng lá; rồi
các ngươi ngồi yên không lo tính,
dưỡng giặc nên trở thành mối
hoạn. Nay nghe tin mang binh tới
ải Khả Lưu và châu Trà Lung
[Long], cả hai nơi đều nhục vì
tổn thất. Do bọn ngươi ngày
thường dựa vào ý riêng tranh hơn
thua, không ai chịu nhường; lúc
đụng việc thì kẻ dõng tiến quân
một mình nhưng vô mưu; người
khiếp nhược thì sợ co lại không
cứu; như vậy thì làm sao thành
công được? Luận tội há có thể
tha được ư! Nay tạm khoan dung,
các ngươi ngày đêm hãy đồng tâm
hiệp lực, luyện tập sĩ tốt tinh
nhuệ, lo diệt giặc này để chuộc
lỗi trước.”… [3]
Có thể bạn đọc nêu ý kiến rằng:
nếu biết con đường tiến quân tới
Trà Long gay go như vậy, thì
đừng tiến! Xin thưa rằng đó là
lệnh vua nhà Minh; bậc tướng
giỏi như vua Lê Lợi đã tiên liệu
sẵn ý định của đối phương, nên
chọn sẵn chiến trường dành cho
họ.
Ngày 16 tháng 7 nhuần năm Hồng
Hy thứ nhất [29/8/1425]
Tuần án, Giám sát, Ngự sử Giao
Chỉ tâu đầu đảng giặc Lê Lợi tại
phủ Thanh Hóa tụ dân làm loạn
vây châu Trà Lung [4] . Viên Thổ
quan coi châu Tri phủ Cầm Bành
chống giữ trong vòng 7 tháng,
lương gần hết, quân gặp nguy
khốn, xin mang binh cứu viện.
Thiên tử xem tờ tâu bùi ngùi sắc
dụ Vinh xương bá Trần Trí cùng
ba ty [5] tại Giao Chỉ rằng:
“Triều đình mệnh các ngươi trấn
thủ Giao Chỉ là để yên ổn một
phương; nay được biết bọn đầu
đảng Lê Lợi cướp phá châu huyện,
ngăn cắt đường sá. Các ngươi mới
đây tâu rằng đã chiêu dụ Lê Lợi
xin đợi mùa thu mát đến Thanh
Hóa nhậm chức. Nay đã mùa thu
rồi, thực sự Lợi đã đến nhậm
chức chưa? Trẫm ước tính tên
giặc này ngụy trá, không có lòng
qui thuận; chỉ dùng lời lẽ để
hoãn binh để bọn chúng được
thung dung tụ tập, tương lai tất
gây hậu hoạn, các ngươi không
suy nghĩ đến hay sao? Về việc
Thổ quan Tri phủ Cầm Bành tại
châu Trà Lung bị Lợi đánh vây 7
tháng nay rồi, lương thảo sắp
hết, quân chết đến một phần ba,
Bành vẫn kiên thủ cự địch, Giao
Chỉ có được người như vậy cũng
không dễ kiếm! Các ngươi từng
chứng kiến lòng trung thành của
con người này, sao không điều
binh cứu viện?
Khi sắc dụ đến nơi, như thấy Lê
Lợi không có bụng quy thuận hãy
tìm cánh đánh bắt. Gấp phát binh
tiếp viện Cầm Bành, vỗ về hậu hỹ,
để bồi dưỡng lòng kiên cường
trung thuận. Các ngươi đều là
đại thần của triều đình, cần
đồng tâm hiệp lực làm tròn ủy
nhiệm, đừng lo việc ban thưởng
phong tước không được công bằng!”
[6]
Những chiến thắng trên con đường
huyết mạch từ thành Nghệ An đến
châu Trà Long ngoài giá trị về
phương diện quân sự, riêng về
mặt nhân tâm cũng có tác động
rất mạnh. Người dân vốn ghét
quân Minh, nhưng vì sự bạo tàn
của chúng, trước đó còn e dè.
Nay thấy trước mắt thành quả
chiến thắng, người người đều
phấn khởi ủng hộ. Toàn thư chép
việc dân huyện Thổ Du [huyện
Thanh Chương, Nam Đàn ngày nay]
mang trâu rượu đến khao quân,
Thổ quan Cầm Quý mang quân đến
giúp như sau:
“Mùa xuân tháng giêng, vua đem
quân đến hương Đa Lôi, huyện Thổ
Du, trấn Nghệ An. Già trẻ tranh
nhau đem trâu rượu đến đón và
khao quân. Mọi người đều nói:
“Không ngờ ngày nay lại được
trông thấy uy nghi của nước cũ.”
Tri phủ châu Ngọc Ma là Cầm Quý
đem hơn 8.000 quân và hơn 10 con
voi đến giúp.” [7]
Có thể nói quân của Bình định
vương Lê Lợi như cậu bé Phù Đổng,
thực sự vươn vai lớn mạnh, ngay
tại vùng đất Nghệ An.
2. Dùng quân mai phục
“Bình Ngô đại cáo” xác nhận
nghĩa quân thường dùng quân mai
phục:
“Lấy yếu chống mạnh, thường đánh
bất ngờ,
Lấy ít địch nhiều, hay dùng mai
phục.”
Hầu như tất cả những trận đánh
nổi tiếng của nghĩa quân đều là
những trận mai phục. Sau đây xin
trích sử nhà Minh chép về trận
phục kích nổi danh tại ải Chi
Lăng, trận này đưa đến việc kết
thúc cuộc chiến:
Ngày 9 tháng 9 năm Tuyên Đức thứ
2 [29/9/ 1427]
Ngày hôm nay quân của quan Tổng
binh An Viễn hầu Liễu Thăng đến
Ải Lưu quan; Lê Lợi cùng các đầu
mục lớn nhỏ sai người đến cửa
quân dâng thư xin bãi binh để
yên dân và lập con cháu họ Trần
làm chủ đất này. Bọn Thăng nhận
thư, không mở ra xem, sai người
tâu về kinh. Lúc này những chỗ
quan quân đi qua, giặc làm trại
để thủ, quan quân liên tiếp công
phá, đến ngay ải Trấn Di như vào
chỗ không người. Ý Thăng xem
thường; Thăng là người võ dõng
nhưng ít mưu. Bấy giờ Tả Phó
Tổng binh Bảo Định bá Lương Minh,
Tham tán quân sự Thượng thư Lý
Khánh đều bệnh; Lang trung bộ Lễ
Sử An, Chủ sự Trần Dung nói với
Khánh rằng:
“Xem lời lẽ, sắc mặt của chủ
tướng, có vẻ kiêu; kiêu là điều
tối kỵ của nhà binh. Vả lại bọn
giặc ngụy trá, hoặc có thể làm
ra vẻ yếu để dụ chúng ta; huống
tỷ thư dụ rõ ràng là phải phòng
ngừa giặc đặt phục binh. Đây là
phút an nguy, Ngài nên nói gấp.”
Khánh rán ngồi dậy gặp Thăng,
hết sức can gián. Thăng ừ ào,
nhưng vẫn không nghiêm chỉnh
phòng bị. Đến Đảo Mã pha, cùng
với hơn trăm quân kỵ qua cầu;
nửa chừng cầu bị sập, quân đằng
sau không tiến được. Thăng rơi
xuống vũng lầy, phục binh giặc
nổi lên bốn phía, Thăng bị đâm
chết bằng giáo; đám quân theo
Thăng cũng bị giết sạch. Lúc này
Hữu Tham tướng Đô đốc Thôi Tụ
thu thập quan quân, chỉnh đốn
đội ngũ. Cũng ngày hôm đó Lương
Minh bệnh chết, lại ngày hôm sau
Lý Khánh cũng chết. Rồi đến ngày
hôm sau nữa, Thôi Tụ điều quan
quân tiến; đến Xương Giang gặp
giặc, quan quân ít giặc thì đông,
cố gắng đánh, nhưng giặc xua voi
vào trợ chiến, nên quân loạn,
Thôi Tụ bị bắt sống. Giặc hô lớn:
“Kẻ hàng không bị giết.”
Quan quân hoặc tử trận, hoặc
chạy về biên giới, không một ai
hàng… [8]
3. Đánh thành
Đánh thành là điều bất đắc dĩ,
vì phải dùng lực lượng lớn hơn
đối phương gấp bội và chấp nhận
tổn thất cao. Bởi vậy mấy ngàn
năm về trước, Tôn Tử, chiến lược
gia số một của Trung Quốc đã
cảnh cáo như sau:
Công thành chi pháp vi bất đắc
dĩ. (Tôn Tử binh pháp, Mưu công
đệ tam)
Gọi là bất đắc dĩ hàm ý chấp
nhận có những trường hợp ngoại
lệ. Đó là trường hợp đánh thành
Xương Giang; thành này nằm trên
con đường huyết mạch từ cửa ải
Pha Lũy đến Đông Đô, là đường ra
vào tiếp viện của quân Minh.
Khác với việc đánh các đồn nhỏ,
các tài liệu về chiến thuật
thường chủ trương dùng pháo binh
tấn công trước, kế đó bộ binh
xung phong tiêu diệt sau (tiền
pháo tập trung, hậu xung tứ diện);
nhưng trường hợp đây là một đại
đồn, nằm trên một vị thế chiến
lược, nên cuộc tấn công cam go
và phức tạp hơn nhiều.
Quyết đánh cho bằng được, Minh
Thực lục đã ghi lại những nỗ lực
sau đây của nghĩa quân:
Xây núi đất (thổ sơn), tức công
sự chiến đấu bằng đất xung quanh
thành. Thử hình dung cảnh lợi
dụng màn đêm, nghĩa quân xây
những núi đất xung quanh thành,
mỗi núi phải sử dụng đến hàng
trăm tấn đất. Công trình nặng nề,
gian nguy; gương can đảm biết là
nhường nào!
Nghĩa quân đào địa đạo vào thành,
khiến quân phòng thủ trong thành
phải đào hào để chặn địa đạo.
Dùng thang mây tức vân thê. Đây
là loại thang đặc biệt, thường
đặt trên bệ có sáu bánh xe, nên
thang này có thể di chuyển được.
Không cần điểm tựa, thang được
kéo lên, quân leo trên thang có
thể quan sát và bắn vào thành.
Mặc dù Minh Thực lục đã cố tình
nói bớt quân số trong thành,
nhưng không dấu được gương anh
dũng, lòng cương quyết, và sáng
kiến của nghĩa quân trong chiến
thuật đánh thành:
Ngày 2 tháng 4 năm Tuyên đức thứ
2 [28/4/1427]
Ngày hôm nay giặc Giao Chỉ Lê
Lợi công hãm thành Xương Giang.
Lợi cho rằng Xương Giang là nơi
quan trọng, [trên đường] đại
quân ra vô; bèn dùng hơn 8 vạn
quân đánh. Quan giữ thành Đô Chỉ
huy Lý Nhiệm,Chỉ huy Cố Phúc ra
lệnh già, trẻ, phụ nữ đều lên
mặt thành, dương cờ hò hét, ngày
đêm chống cự; Bọn Nhiệm bất ngờ
mang quân tinh nhuệ ra công kích,
đốt phá dụng cụ đánh thành. Bốn
phía giặc đều xây núi đất, dùng
phi minh bắn vào thành; Nhiệm
sai quân cảm tử ban đêm mở cửa
thành ra đánh, giết giặc giữ núi
đất. Mưu tập kích doanh trại,
giặc đào địa đạo vào thành,
Nhiệm sai đào hào ngang chặn địa
đạo, rồi ném đá xuống, khiến
giặc chết nhiều.
Giặc nghe tin đại binh của Chinh
di Tướng quân sắp tới, sợ sẽ
dùng thành này làm chỗ dựa, bèn
tăng cường thêm quân và voi tấn
công. Tên đá bắn vào như mưa.
Nhiệm dùng trăm cách để chống cự,
trải qua 9 tháng trời, giao
tranh hơn 30 trận; khởi đầu
trong thành có hơn 2.000 tướng
sĩ, lúc này chết và tật bệnh đến
một nửa, nhưng giặc vẫn quyết
vây đánh, dùng thang mây leo lên
thành, rồi đoạt cửa, Nhiệm điều
lính quyết tử ba lần đánh lui,
nhưng giặc lại xua voi và lính
vào. Bọn Nhiệm kiệt sức, đánh
không xuể, Nhiệm và Phúc đều tự
tử; quan trong thành là Phùng
Trí khóc ròng, hướng về phía bắc
bái tạ, rồi cùng Chỉ huy Lưu
Thuận, Tri phủ Lưu Tử Phụ thắt
cổ chết. Trong thành các quan
quân, cùng trai gái chết rất
đông; giặc phóng hỏa đốt, cướp
phá đến sạch không. [9]
4. Tâm thuật
Đọc Chinh phụ ngâm, bí quyết về
thuật dùng người, thấy được
trong hai câu thơ:
Trượng phu thiên lý chí mã cách,
Thái Sơn nhất trịch khinh hồng
mao.
(Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao)
Tâm lý con người chuyển biến
không ngừng; lúc nghĩ đến bản
thân, vợ con, thường xem sinh
mệnh to lớn như núi Thái Sơn;
ngược lại lúc hăng hái liều chết
thì coi tính mệnh nhẹ tựa lông
hồng. Nhắm nêu bằng chứng về
thuật trị tâm, xin đơn cử một
con người thực được các “tay tổ”
về tâm thuật lần lượt uốn nắn;
đó là Đô đốc Thái Phúc, cấp bực
tương đương với Trung tướng,
Thượng tướng ngày nay.
Một trong các “tay tổ” về môn
này, phải kể đến vua Minh Thái
Tông. Trước khi tấn công thành
Đa Bang, lệnh vua được ban
truyền trong quân “…đại trượng
phu báo đền quốc gia, công danh
chính tại nơi này…”. Kích thích
bởi lệnh này, Thái Phúc hăng hái
dẫn đầu, trèo lên trước, chém
giết loạn xạ:
Ngày 11 tháng 12 năm Vĩnh Lạc
thứ 4 [19/1/1407]
…Sau khi đã hoàn tất dụng cụ
đánh thành, bèn hạ lệnh trong
quân rằng:
“Giặc chỉ dựa vào thành này mà
thôi; đại trượng phu báo đền
quốc gia, công danh chính tại
nơi này, ai leo lên trước không
kể cấp bực cao thấp, lập tức
được thăng thưởng.”
Do đó quân sĩ đều hăng hái liều
mình. Ngày này bọn Trương Phụ
hội ý phân công tại bãi cát, Phụ
đánh thành phía tây nam, Thạnh
đánh thành phía đông nam. Sau
khi phân công xong, sai một số
tướng sĩ nhắm cách mục tiêu định
đánh khoảng 1 dặm, chuẩn bị dụng
cụ để công thành gấp. Tối hôm đó
dập tắt lửa, hẹn quân sĩ đến giờ
trèo thành, mới nổi lửa thổi tù
và làm hiệu lệnh. Vào canh tư,
Phụ sai Đô đốc Thiêm sự Hoàng
Trung âm thầm mang công cụ vượt
hào đến tây nam thành, dùng
thang mây dựa vào thành. Đô Chỉ
huy Thái Phúc leo lên trước,
dùng dao chém loạn xạ, bọn giặc
kinh hoảng la báo động, trên
thành lửa sáng rực, tiếng kèn,
tù và huyên náo. Dưới thành quân
sĩ hăng hái liều mình leo tiếp,
bọn giặc kinh hoàng không kịp
trở tay, gạch đá tên đạn không
tung ra được, vội nhảy xuống
thành bỏ chạy… [10]
Sau khi cuộc chiến hoàn tất,
Phúc trở thành anh hùng quân đội
nhà Minh, được thăng một lượt 3
bực, từ Đô chỉ huy lên đến hàng
Đô đốc:
Ngày 7 tháng 7 năm Vĩnh Lạc thứ
6 [29/7/1408]
…Những kẻ đầu tiên trèo lên
thành Đa Bang gồm 19 người không
kể cấp bực đều được thăng thưởng:
Đô Chỉ huy Thái Phúc thăng Đô
đốc Đồng Tri, thưởng bạch kim
150 lượng, tiền giấy 400 nén,
lụa nõn trong ngoài 20 tấm… [11]
Hãy tiếp tục theo dõi sự nghiệp
của Thái Phúc, qua sử liệu được
đề cập ở phần trên cho biết Đô
đốc Thái Phúc coi giữ thành Nghệ
An, tinh thần suy sụp, mang quân
rút lui khỏi thành để trở về
Đông Đô, đám tàn quân bị đánh
tan tại sông Phú Lương [sông
Hồng], nên phải đầu hàng. Tính
mạng Thái Phúc lúc bấy giờ vào
tay nghĩa quân của vua Lê; tại
đây cũng có những “tay tổ” về
tâm thuật, lại biết cách biến
người hùng Thái Phúc từng coi
tính mệnh như “lông hồng”, trở
về với bản chất nguyên thủy của
y, sinh mệnh tựa núi “Thái sơn”.
Kết quả, Thái Phúc lập công hợp
tác với nghĩa quân, như việc báo
cáo một âm mưu tù binh nổi dậy,
giúp chế dụng cụ đánh thành,
cùng chiêu dụ quân nhà Minh tại
các thành ra hàng. Khi chiến
tranh chấm dứt, y được đưa trở
về nước; bị quần thần nhà Minh
đàn hạch, lãnh án tử hình phơi
thây giữa chợ với tội trạng như
sau:
Ngày 30 tháng 5 năm Tuyên Đức
thứ 3 12/7/1428
Thái Trung, Chu Quảng, Tiết Tụ,
Chu Tán, Lỗ Quý, Lý Trung bị xử
tử. Phúc là Đô đốc; Quảng, Tụ,
Tán đều giữ chức Đô chỉ huy, Quý
là Chỉ huy, Trung là Thiên hộ.
Bọn Phúc trước đây tại Giao Chỉ
trấn thủ Nghệ An, bị giặc vây,
Phúc không đánh, lại đem bọn
Quảng hàng giặc, chỉ cho giặc
tạo chiến cụ để đánh thành Đông
Quan. Lúc bấy giờ hơn 9.000 quân
định đốt trại giặc, bọn Phúc
lệnh Bách hộ Mưu Anh tố cáo;
giặc giết sạch 9.500 người, rồi
đánh các thành như Xương Giang.
Phúc đi thuyết dụ những người
trong các thành ra hàng; đến
Thanh Hóa phi ngựa đến dưới
thành, kêu to rằng:
“Thủ thành lợi dụng cơ hội đầu
hàng có thể bảo tồn mạng sống,
không nghe thì gan não phơi mặt
đất.”
Bị bọn Tri châu La Thông chửi
mắng nên bỏ đi.
Nay bọn Lợi đưa bọn Phúc đến
kinh sư. Mệnh Công, Hầu, Bá, 5
phủ, 6 bộ, Đô sát viện, cùng các
quan 3 bốn lần hặc tội… Đều phúc
tấu tội trạng, mệnh hành quyết
phơi thây ngoài chợ và tịch thu
gia sản. [12]
5. Chia rẽ hàng ngũ giặc
Thông thường khi lâm vào cuộc
chiến, nội bộ thường có hai phe:
chủ hòa và chủ chiến. Vua Lê Lợi
và đám bầy tôi tham mưu, biết
lợi dụng tình hình địch, đào sâu
sự chia rẽ giữa hai phe này. Qua
thư từ gửi cho các quan chức nhà
Minh trong Quân trung từ mệnh
tập, người đọc thấy được dụng ý
chia rẽ của tác giả Nguyễn Trãi,
khéo dùng ngòi bút phân biệt đối
xử. Đối với tên tướng hiếu sát
như Đô đốc Phương Chính, thì mở
đầu thư, thường là một câu chửi:
Thị nhĩ ngược tặc Phương Chính (Bảo
cho mày biết, tên ngược tặc
Phương Chính)
Nhưng đối với Sơn Thọ thì dùng
lời lẽ mềm dẻo hơn. Thuật xử thế
và ngoại giao đã chinh phục được
Sơn Thọ, khiến y dám đứng trước
mặt vua Nhân Tông bảo lãnh cho
vua Lê Lợi:
Ngày 4 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ
22 22 [26/9/1424]
Sai trấn thủ Giao Chỉ Trung quan
Sơn Thọ mang sắc dụ Đầu mục Giao
Chỉ Lê Lợi. Sắc rằng:
“Ngươi vốn là kẻ lương thiện, từ
lâu có lòng thành qui phụ. Nhưng
quan ty cai trị không đúng cách,
sinh ra nghi sợ; rồi ẩn trốn nơi
núi rừng, không toại chí nguyện.
Nay sau khi đại xá, bỏ hết sai
lầm quá khứ, hàm chứa sự canh
tân. Đặc cách sai người mang sắc
dụ ban cho ngươi chức Tri phủ
Thanh Hóa, cai trị dân một quận.
Hãy đến nhận chức ngay, để đáp
lại sự cứu xét đến lòng thành và
bao dung đãi người của Trẫm.”
Sở dĩ có sắc dụ này, vì Thọ tâu
trước mặt Thiên tử rằng Lê Lợi
và y hợp ý nhau, nay đến dụ sẽ
trở về. Thiên tử nói:
“Bọn giặc gian trá, ngươi không
biết được; nếu bị lừa, đây là
dịp giúp cho thế giặc ngày một
lớn, khó mà chế ngự.”
Thọ khấu đầu tâu rằng:
“Nếu như thần dụ mà nó không
quay về, thì tội thần đáng vạn
lần chết.”
Bèn giáng sắc này. [13]
Việc ban sắc phong cho Lê Lợi
làm Tri phủ Thanh Hóa, khiến
quân Minh tham chiến đâm ra
lưỡng lự giữa hai con đường
chiến và hòa. Phe Sơn Thọ thì
ngồi chờ sẵn tại thành Nghệ An
để đợi Lê Lợi nhậm chức, trong
khi đó chỉ huy quân như Trần Trí,
Phương Chính thì chần chừ, cãi
cọ không thống nhất trong việc
tiến quân. Càng chia rẽ, chần
chừ, càng giúp nghĩa quân đạt
nhiều chiến thắng, mau lớn mạnh.
Sự thực được tóm tắt qua chiếu
dụ của vua Tuyên Đức ngày
12/4/1426 đã dẫn ở phần trên.
Bàn về chiến lược và chiến thuật
có muôn màu muôn vẻ; huống hồ
người đời nay luận về việc làm
của người xưa nên không khỏi có
những chỗ võ đoán, như thầy bói
mù sờ voi. Tuy nhiên căn cứ sử
sách còn lưu lại, người viết cố
gắng phác họa những nét đại
cương, mong được sự đóng góp
thêm của các nhà nghiên cứu lịch
sử và quân sự.
© 2008 talawas
-----------------------------------------------------------------------
[1]Minh Thực lục v. 18, tr.
1057-1062.
[2]Đại việt sử ký toàn thư, NXB
Khoa học Xã hội, tập 2, tr.
256-257.
[3]Minh Thực lục q. 15, tr.
0395-396.
[4]Trà Lung: sử nước ta gọi là
Trà Lân, hay Trà Long.
[5]Tam ty: tức Đô ty, Bố chánh
ty, Án sát ty.
[6]Minh Thực lục v. 16,
tr.148-149; Tuyên Tông q. 6, tr.
1b.
[7]sđd, tr. 253.
[8]Minh Thực lục q. 31, tr.
0797-0801.
[9]Minh Thực lục q. 27, tr.
0701-702.
[10]Minh Thực lục v. 11, tr.
893-894; Thái Tông q. 62, tr.
3a-3b.
[11]Minh Thực lục v. 11,
tr.1080-1088; Thái Tông q. 81,
tr. 2b-6b.
[12]Minh Thực lục v. 18, tr.
1075-1076; Tuyên Tông q. 43, tr.
17a-17b.
[13]Minh Thực lục v. 15, tr.
0057-058; Nhân Tông, tập Trung,
q. 2, tr.5a-6b. |