|
Việc
vua Quang Trung nước ta chuẩn bị
đánh nhà Thanh không còn nằm
trong huyền thoại; chính vua Gia
Khánh đã có những bằng cớ như:
giấy tờ, ấn triện do vua Quang
Trung cấp cho bọn giặc Tàu Ô.
Ngoài ra cung từ của các tù nhân
đều khai rằng lực lượng này có
đến 12 viên Tổng binh và hơn 100
hiệu thuyền:
Ngày 9 tháng Giêng năm Gia Khánh
thứ 2 [5/2/1797]
Dụ các Quân Cơ Đại thần. Bọn Cát
Khánh dâng tấu triệp về việc
thẩm tra tù phạm cướp biển, nội
dung như sau:
“Điều tra về vùng đất Giang Bình;
hiện nay có bọn giặc gốc Phúc
Kiến, Quảng Đông, An Nam tụ tập
tại đó. Nếu muốn báo cho An Nam
biết, thì lúc này nên thông báo
cho họ v.v…”
Suy nghĩ kỹ việc này rất khó.
Nếu như viên Quốc vương không
biết về vụ giặc cướp, thì nên
thông báo để hợp đồng cùng bắt.
Nay điều tra bọn giặc La Á, cả
ba bọn chúng đều cung xưng Tổng
binh Tàu Ô An Nam có 12 người,
hơn 100 hiệu thuyền; lại căn cứ
vào giấy tờ bắt được có ấn triện,
thì bọn cướp Tàu Ô đều do viên
Quốc vương phong tước, việc ra
biển cướp bóc viên Quốc vương
không thể không biết. Vậy nếu
bảo phối hợp bắt giặc cướp, làm
sao bọn họ chịu nghe lời! Vả lại
dân nội địa [Trung Quốc] ra
ngoài biển làm giặc, quan không
cấm được, huống hồ là dân ngoại
di! Nếu An Nam dùng lý do đó để
bào chữa, thì lấy gì để biện
luận? Hoặc đáng vì việc này mà
gây hấn, rồi mang quân đánh nước
họ ư!
Bọn Cát Khánh chỉ nên thông sức
thuộc hạ tầm nã tại mặt biển 3
tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông,
Chiết Giang; nếu tàu thuyền của
di địch xâm phạm vào, thì không
luận quan chức nào của An Nam
cũng đều nghiêm trị.
Tái bút: Từ nay trở về sau bắt
được giặc cướp An Nam, thẩm tra
minh bạch rồi lập tức cho chính
pháp [xử tử]; không cần phải
giải về kinh, để bớt được sự
phiền phức trạm dịch phải giải
tống. Nay đem dụ truyền để hay
biết. [1]
Sau khi viên Tổng binh Tàu Ô
Trần Thiêm Bảo đầu thú, nạp cả
sắc do vua Quang Trung ban cho.
Đọc sắc phong này, vua Gia Khánh
phẫn nộ, dùng những lời nặng nề
miệt thị vua Quang Trung:
Ngày 14 tháng Một năm Gia Khánh
năm thứ 6 [19/12/1801]
Dụ
các Quân Cơ Đại thần: Bọn Cát
Khánh tâu “Cướp biển Trần Thiêm
Bảo mang cả gia quyến đầu thú,
lại trình nạp sắc ấn của An Nam
cấp cho.” Tấu triệp xưng “Trần
Thiêm Bảo nhân đánh cá gặp bão,
vào năm Càn Long thứ 48 [1783 ]
bị Nguyễn Quang Bình bắt, phong
chức Tổng binh v.v…”; có thể
thấy trong nhiều năm hải tặc
quấy phá đều do An Nam chứa chấp
gây ra. Lúc Nguyễn Quang Bình
còn sống, bắt người của nội địa,
gia phong ngụy tước hiệu, rồi
tung ra biển cướp phá. Nguyễn
Quang Bình đích thân chịu ơn
nặng của Hoàng khảo [2] , làm
việc táng tận lương tâm, thực
không đáng là con người. Nay
duyệt lại tờ ngụy chiếu của viên
Quốc vương này có câu “Thị thiên
hạ như nhất gia, tứ hải như nhất
nhân
視
天
下
如
一
家,
四
海
如
一
人.”
[Coi thiên hạ như một nhà, bốn
biển như một người]; thật thuộc
vào loại ếch ngồi đáy giếng,
giống như nước Dạ Lang ngu dốt
tự cho mình là to lớn! [Dạ Lang
tự đại] [3] . Nghĩ về sự cuồng
vọng này, đáng mang quân hài tội
thảo phạt; hiềm nước này hiện
đang giao tranh với Nông Nại [4]
; nên không thừa lúc nguy cấp
sát phạt thêm. Xét về lẽ trời,
nước này sẽ mất trong sớm tối;
nên không cần dùng văn để bắt
hối lỗi, cũng không cần thông
báo cho biết; những ấn sắc của
bọn chúng cấp, lệnh cho thiêu
hủy. Viên Tổng đốc nên nghiêm
lệnh tướng biền, tuần tiễu ngoài
biển, gặp bọn hải tặc An Nam,
lập tức truy nã trừng trị. Bọn
đầu thú Trần Thiêm Bảo, cùng
quyến thuộc bọn giặc, y theo lời
xin của viên Tổng đốc, an sáp
tại phủ Nam Hùng nơi xa vùng
biển. Thỉnh thoảng bất ngờ kiểm
tra, không để chúng trở lại biển
gây sự. Đem dụ này truyền đi để
hay biết. [5]
Bốn chữ “Dạ Lang tự đại ” Gia
Khánh gán cho nước ta, ý khinh
bỉ một nước nhỏ bé dám ôm mộng
xâm lăng Thiên triều! Người mình
cũng có những kẻ ngầm đồng ý
theo lời khinh thị đó; họ mang
sẵn mặc cảm tự ty, cho rằng bất
luận cái gì người Tàu cũng hơn
ta: về thuốc không cần để ý đến
môn thuốc gì, trị bệnh nào, hễ
thuốc Bắc thì hay hơn thuốc Nam;
về thơ, không thèm để ý đến tác
giả, tác phẩm nào, hễ thơ Tàu
tất hay hơn thơ Việt; theo họ
nước ta đánh Tàu chẳng khác gì
trứng chọi với đá !
Khác với thiểu số nêu trên,
những người tự tin, nhẫn nại thu
thập sự kiện, cố gắng phân tích
so sánh một cách có khoa học, để
tìm ra kết luận đúng đắn. Nhưng
chúng ta đều biết vua Quang
Trung mất sớm, không có dịp thi
thố tài năng; vậy dựa vào cơ sở
nào nghiên cứu, để tìm kết luận
cho một trường hợp chưa xảy ra?
Đọc sử Trung Quốc, được biết
cuộc nổi dậy của Thái bình Thiên
quốc tuy xa cách thời vua Quang
Trung hàng nửa thế kỷ, nhưng
cùng chia sẻ những nét đặc trưng
về bối cảnh lịch sử. Thái bình
Thiên quốc đưa ra những khẩu
hiệu như Thiên yếm Mãn Thanh [trời
ghét Mãn Thanh] Quan bức dân
biến [quan áp bức bóc lột, dân
nổi dậy]; thì cũng là trọng bệnh
của nhà Thanh trong giai đoạn
vua Quang Trung chuẩn bị sang
đánh. Bởi vậy chúng tôi làm công
việc so sánh hai cuộc chiến đấu,
để mong tìm một kết luận về dự
định của vua Quang Trung.
Trước hết xin nêu lên một vài
nét sơ lược về Thái bình Thiên
quốc (1851-1864). Người cầm đầu
Thái bình Thiên quốc, Hồng Tú
Toàn, là một thầy đồ theo đạo
Thiên chúa; dựa vào một vài kiến
thức về đạo này, lập Thượng đế
Giáo. Nhân mất mùa đói kém, hô
hào dân nổi dậy tại Quảng Tây.
Cuộc nổi dậy được nông dân ủng
hộ, trong vòng vài năm chiếm
được gần 16 tỉnh, 600 thị trấn.
Cuối cùng bị đạo quân do nhà Nho
Tăng Quốc Phiên chỉ huy đánh bại,
Hồng Tú Toàn phải tự tử vào năm
1864.
Thực hiện công việc so sánh giữa
Thái bình Thiên quốc và dự định
đánh nhà Thanh của vua Quang
Trung, chúng tôi xin lần lượt
nêu lên 3 yếu tố Thời, Thế, Cơ
để dễ bề nghiên cứu:
A. Thời
Tuy xa cách nhau trên 50 năm,
Thái bình Thiên quốc và dự định
đánh nhà Thanh của vua Quang
Trung chia sẽ chung một chữ “thời”.
Cái khẩu hiệu Thiên yếm Mãn
Thanh được Thái bình Thiên quốc
dùng để hô hào; nếu bảo lòng dân
là ý trời, thì người dân Hoa đều
mang nặng lòng căm ghét suốt cả
10 triều đại nhà Thanh, không
phải đợi đến đời Hàm Phong, lúc
Thái bình Thiên quốc nổi dậy mới
xẩy ra.
Khẩu hiệu thứ hai Thái bình
Thiên quốc nêu lên là Quan bức
dân biến [quan lại áp bức, dân
nổi dậy]; xét trong thời vua
Quang Trung, sự áp bức bóc lột
của quan lại nhà Thanh đã xẩy ra
ngay trước mắt phái đoàn Quang
Trung giả, nhân dịp phái đoàn
này sang dự lễ mừng thọ vua
Thanh. Lợi dụng việc vua Càn
Long vui mừng được phái đoàn
nước ta sang chúc thọ để rửa mối
nhục thua trận, tập đoàn tham
nhũng tại nước này thừa dịp bốc
hốt, bằng cách đưa ra số tiền dự
chi để tiếp đón phái đoàn ta một
ngày lên đến 4.000 lạng bạc!
Chính vua Càn Long, qua văn bản
dưới đây đã nêu lên những chi
tiết sau đây:
Tiền phí tổn đón tiếp phái đoàn,
đủ dùng để tiêu phí cho cuộc
hành quân sang đánh An Nam!
Số tiền này không nằm trong quỹ
nhà nước, mà do quỹ địa phương,
thiếu thì bắt dân đóng.
Báo động việc bóc lột này khiến
lòng dân căm giận!
Ngày 10 tháng 6 năm Càn Long thứ
55 [21/7/1790]
Lại dụ; hôm qua viên Tuần phủ
đạo Nhiệt Hà đến bẩm với Quân Cơ
Đại thần rằng:
“Nhận được truyền đơn gửi đi từ
dọc đường, cho biết việc cung
ứng phái đoàn Nguyễn Quang Bình
một ngày ăn ở tốn khoảng 4.000
lạng bạc; vậy sau khi Nguyễn
Quang Bình đến Nhiệt Hà, mọi sự
chi tiêu cung phụng có hoặc
không nên theo cách tiếp đãi dọc
đường?”
Quân Cơ Đại thần cho rằng Phiên
vương họ Nguyễn đến chiêm cận,
đã phụng chỉ sai thiện phòng [6]
cung cấp ăn uống, cần phải ngon
và đầy đủ; nếu dọc đường cho ăn
đặc biệt thịnh sọan hơn, thì tại
đây không thể làm đơn giản, lại
khó gia tăng thêm, bèn diện tấu
để xin chỉ dụ.
Nguyễn Quang Bình là ngoại phiên
mới qui phụ, xin đích thân đến
chiêm cận, lời lẽ và tấm lòng
đều thành khẩn, nên đã chuẩn
theo lời xin; cùng ra lệnh cho
các tỉnh thành địa phương có
phái đoàn họ đi qua, cho ban
thêm yến tiệc, vừa phong phú vừa
tiết kiệm thích nghi, để bày tỏ
lòng thể tuất. Thế mà sau khi
đến Giang Tây, mỗi ngày cung ứng
việc ăn ở nhu dụng đến 4.000
lượng bạc! Như vậy ngoài việc
yến ẩm, thuyền, xe, phu, ngựa
v.v… sự phung phí không dừng.
Theo lời tâu thì phái đoàn
Nguyễn Quang Bình từ châu Ninh
Minh tỉnh Quảng Tây đáp thuyền
đi; cấp cho gạo thịt, các vật
dụng v.v… lệnh cho họ tự nấu lấy;
nếu đi theo đường bộ, mỗi ngày
cung ứng thịt rau v.v… thì làm
sao cần đến 4.000 lượng? Cho dù
đi qua các tỉnh thành, tổ chức
yến tiệc cũng không phí tổn đến
như vậy. Như mỗi năm Trẫm ban
yến cho các Vương, Công, Đại
thần Mông Cổ, cùng Sứ thần các
nước; mỗi thứ cần đến trên dưới
100 bàn, dùng tiền cũng chỉ
trong vòng ngàn lượng. Phúc
Khang An từng giữ chức Đại thần
Nội Vụ phủ, từ lâu ở trong nội
đình ắt đã biết rõ điều đó. Yến
tiệc chiêu đãi Phiên vương họ
Nguyễn, đã chắc rằng lớn hơn yến
tiệc trong triều!
Đây là do những tên Tổng đốc,
Tuần phủ không biết việc, nghe
lời thuộc viên xui dục, làm lớn
chuyện bày vẽ ra để quan lại địa
phương bốc hốt, rồi không kê
khai thanh toán được, bèn lấy
ngân quỹ tỉnh bồi vào, còn tự
mình không chịu trách nhiệm.
Trẫm suy nghĩ việc này, đều do
Phúc Khang An trù liệu lúc đầu
không có sự châm chước, lại
trong lòng có sự cao hứng về
việc ngoại phiên đích thân đến
kinh đô chiêm cận trong sử sách
ít thấy, nên có ý phô trương;
đến nỗi Đốc Phủ tỉnh Giang Tây
nghe hơi đón ý, bèn lần lượt gia
tăng; cho tu sửa đường, sơn phết
cầu cống nhà cửa; thậm chí cây
khô hai bên đường đều chặt tận
gốc, để ngoại phiên đến chiêm
cận thấy hai bên đường cây cỏ
đẹp như gấm; nhưng nào đâu đã
hết được những người dân đói khổ
dọc đường, như vậy càng làm cho
ngoại phiên chê cười. Huống nơi
kinh thành người người tụ tập,
vốn là nơi phồn thịnh; nhưng qua
đạo lộ dài, thì cũng có nơi quê
mùa hoang vu, làm sao có thể tu
bổ hết được; nếu để cho họ khám
phá sự giả dối, lại làm trò cười
cho ngoại di. Phúc Khang An vốn
được coi là người hiểu việc, lại
thấy không được chổ này sao! Vả
lại nếu nội địa phá cách ưu
đãi,vựơt quá sự phồn hoa, thì
dường như muốn mong đợi gì ở
Nguyễn Quang Bình chăng! Nên
không tiếc công khố, hết sức
chiêu đãi tôn sùng, đối với thể
chế có sự quan hệ lớn. Há lại
đường đường Thiên triều, khoe
khoang với một hai phiên thần
nơi cùng tịch, bằng cách cung
ứng xa xỉ hay sao?
Sau khi Nguyễn Quang Bình đến
kinh khuyết, đến kỳ chiêm cận
hàng năm, sứ thần liên tiếp đến,
nếu cứ tiêu phí quá nhiều như
vậy thì đời cực thịnh cũng khó
có thể tiếp tục mãi. Kinh phí
của quốc gia có mức, y là người
gì mà mỗi ngày phải tiêu đến
4.000 lạng bạc, đi lại hơn 200
ngày thì tiền phí tổn tất cả
phải đến 80 vạn lạng [4.000 x
200= 800.000]! Bất nhược dùng số
tiền này làm tiền phí tổn hưng
sư, để cử binh phục thù cho Hứa
Thế Hanh! Trẫm không dụng binh
tại An Nam nữa, chỉ vì tiếc tiền
và thương dân mà ra; Phúc Khang
An sao lại không biết để thể
theo lòng Trẫm.
Nếu sự phí phạm xẩy ra bắt đầu
từ tỉnh Quảng Tây thì sự sai lầm
do Phúc Khang An, nếu khởi đầu
từ Giang Tây thì sự sai lầm bởi
Hà Dụ Thành. Cho dù không khởi
đầu từ tỉnh Quảng Tây, Phúc
Khang An thấy dọc đường xa xỉ
như vậy, cũng đáng một mặt tấu
trình một mặt hiểu dụ mật các
quan sở tại tiết giảm, có như
vậy mới không mất tư cách một
đại thần công chính và biết việc.
Lúc này chắc bọn Nguyễn Quang
Bình đã đến địa giới Lưỡng Hồ
[7] , viên Đốc coi thường không
quan sát thêm, nên chưa thấy
trình tấu. Việc xa xỉ tiền bạc
này phần lớn do quan lại địa
phương tiêu phung phí, hoặc do
quan quân hộ tống hạch sách; còn
Phúc Khang An, Nguyễn Quang Bình
thực ra chẳng hưởng gì. Huống hồ
số tiền đã dùng không thể ghi
vào tiền tiêu ngoại lệ, tất phải
khấu trừ từ số tiền dưỡng liêm
của các quan lại, rồi quan lại
địa phương trở nên kiệt quệ, ắt
phải bóc lột từ xóm làng; vậy
càng không thể không phòng lòng
dân oán hận tiệm tiến chồng chất,
đều qui tội cho Phúc Khang An
vậy. Lệnh cho Phúc Khang An phải
tra rõ sự xa xỉ tiêu phí khởi
đầu từ đâu rồi tâu rõ, không
được bao che; Phúc Khang An chịu
ơn nặng, đừng để mảy may che
giấu. [8]
Người cầm đầu hệ thống tham
nhũng thời bấy giờ là Hòa Khôn,
một cận thần được vua Càn Long
đặc biệt che chở và sủng ái. Y
là kẻ tham nhũng giàu nhất đời
Thanh, có tài sản 800 triệu
(800.000.000) lượng bạc. Nhân lễ
khánh thọ, vua Càn Long cùng
phái đoàn vua Quang Trung giả
ngự thuyền rồng du ngoạn hồ Côn
Minh, chính Hòa Khôn đứng bên
cạnh đích thân giới thiệu các
thắng cảnh như núi Vạn Thọ, núi
Ngọc Tuyền v.v..:
Ngày mồng 1 tháng 8, Thiên tử
ngự tại vườn Đồng Lạc, nằm trong
vườn Viên Minh; cùng dự yến với
Vương, Công, Đại thần; Quốc
vương nước An Nam; Sứ thần các
nướcTriều Tiên, Miến Điện, Nam
Chướng. Xem diễn “Thăng Bình
Ngọc Phiệt” [9] Đại Khánh kịch.
Ngày mồng 2 đến ngày mồng 6 lại
thiết yến, diễn kịch; ban cho
Quốc vương nước An Nam, cùng Sứ
thần ngoại quốc du lịch Phúc Hải.
Ngày mồng 9 vua Càn Long thăm
núi Vạn Thọ, lên thuyền rồng sơn
màu đỏ du ngọan hồ Côn Minh.
Tháp tùng có bọn A Quế, Hòa Khôn,
Phúc Khang An, Phúc Trường An;
Vương, Công, Đại thần; Quốc
vương nước An Nam; cùng Sứ thần
ngoại quốc. Khi thuyền đi, các
tay chèo hai bên cất tiếng hát
“Trạo Ca”, [10] Hòa Khôn được
lệnh giới thiệu với Sứ thần
ngoại quốc các thắng cảnh xa gần,
như: núi Vạn Thọ, núi Ngọc Tuyền,
núi Hương. Sau khi đi thuyền,
được lệnh lên bộ du lãm. Ngày
hôm sau diễn kịch Đại Khánh tại
vườn Viên Minh, vườn Đồng Lạc
[11] .
B.Thế
Hiểu đơn giản thế tức thế lực,
sức mạnh. Thế có thể có sẵn;
hoặc tự tạo lấy, tạm gọi là tạo
thế.
Xét về thế sẵn có, lực lượng vua
Quang Trung hơn hẳn phe Hồng Tú
Toàn, lãnh tụ Thái bình Thiên
quốc Theo tài liệu nêu trên,
trước khi cử sự vua Quang Trung
đã chiêu tập được một lực lượng
Tàu Ô dưới quyền 12 Tổng binh,
cùng 100 hiệu thuyền. Ngoài ra
nhà vua còn có một đạo binh bách
chiến bách thắng, chính quân
Thanh đã từng nếm mùi thất trận
bởi đạo binh này.
Bàn về tạo thế thì không đơn
giản, xin phân tích những yếu tố
dưới đây:
Tôn giáo
Chiêu bài tôn giáo được sử dụng
trong các cuộc nổi dậy không mới
mẽ gì trong lịch sử Trung Quốc;
thời Hán mạt có Hoàng Cân; thời
Nguyên mạt có Minh giáo, Bạch
Liên giáo; đời Thanh trước
Thượng Đế giáo của Hồng Tú Toàn,
đã có Bát Quái giáo nổi dậy. Tôn
giáo được lợi dụng như một công
cụ tập trung thành phần bất mãn,
những nông dân đói khổ vì mất
mùa, nhưng không phải là yếu tố
quyết định để đạt được mục đich
dành chính quyền. Với thuyết
Thiên phụ, Địa Mẫu của tôn giáo
này thì cũng chẳng khác mấy quan
niệm Thiên phú, địa tái [trời
che, đất chở] trong niềm tin dân
gian. Duy việc Thái bình Thiên
quốc cấm thờ cúng ông bà, cấm
thờ Khổng, Lão, Phật, chối bỏ
nền văn hóa truyền thống Trung
Quốc; nên đã bị những thành phần
trí thức như Tăng Quốc Phiên, Lý
Hồng Chương lãnh đạo dân chúng
chống lại.
Coi người trong thiên hạ như một
nhà
Trong sắc phong của vua Quang
Trung cho các Tổng binh Tàu Ô,
có 11 chữ vua Gia Khánh nhà
Thanh giận nhất, và đã ghi lại
nguyên văn trong đạo dụ nêu trên
“coi thiên hạ như một nhà, bốn
biển như một người”. Qua mấy chữ
vắn tắt này, khiến ta tự hỏi
“một nhà ” tức nhà nào? Xét về
lịch sử thấy được rằng nước Việt
Nam ta và các tỉnh Quảng Đông,
Quảng Tây có chung một ngôi nhà
Nam Việt, tức lãnh thổ nước ta
thời nhà Triệu. Điều này không
phải chỉ riêng ta công nhận, vua
Gia Khánh khi đáp lại lời xin
sắc phong quốc hiệu của vua Gia
Long nước ta, đã từng nói như
vậy:
Ngày 20 tháng Chạp năm Gia Khánh
thứ 7 [13/1/1803]
Dụ các Quân Cơ Đại Thần: Hôm qua
Tôn Ngọc Đình tấu dâng biểu văn
thỉnh phong của Nguyễn Phúc Ánh,
Trẫm đã duyệt đọc kỹ, việc xin
phong tên nước hai chữ “Nam Việt”
không thể chấp nhận được. Địa
danh “Nam Việt” bao hàm rất lớn,
khảo sử xưa hai tỉnh Quảng Đông,
Quảng Tây đều nằm ở trong đó.
Nguyễn Phúc Ánh là tiểu Di nơi
biên giới, tuy hiện nay có được
toàn đất An Nam, bất quá lãnh
thổ bằng đất Giao Chỉ xưa là
cùng, làm sao lại được xưng là
“Nam Việt. Biết đâu đây không
phải là ý muốn khoe khoang tự
thị của ngoại Di, xin thay đổi
quốc hiệu, để thử bụng [Thiên
triều] trước, đương nhiên đáng
bác đi… [12]
Vậy việc mang quân giúp cho vùng
đất cũ của Nam Việt đánh đuổi
được bọn ngoại xâm Mãn Thanh, là
bổn phận của anh em trong nhà.
Sách lược tạo thế của vua Quang
Trung đã biến từ khách sang chủ!
Đây là một chính sách mới, thêm
bạn bớt thù, khác với việc phạt
Tống của Lý Thường Kiệt trước
kia.
Lấy của nhà giàu cho nhà nghèo,
cùng tập trung tư liệu sản xuất.
Không bàn đến vấn đề đạo đức,
việc lấy của nhà giàu chia cho
nhà nghèo, trong bước đầu đã làm
phấn khởi nông dân theo phe nổi
dậy. Cả nhà Tây Sơn và Thái bình
Thiên quốc đều làm việc đó. Về
nhà Tây Sơn, Đại Nam chính biên
liệt truyện chép:
“Giặc lúc đầu nổi lên thì lấy
của nhà giàu chu cấp cho người
nghèo, dối trá thi ân nhỏ để mua
chuộc lòng người” [13]
Nhờ
sự ủng hộ của nông dân, trong
bước đầu lực lượng Tây Sơn phát
triển mau chóng. Nhưng cái hay
của anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn
Huệ là biết dừng lại đúng lúc,
nên sau đó mọi việc đều ổn định,
đúng như sách Đại Học dạy “知
止
而
后
有
定
Tri chỉ nhi hậu hữu định.”
Riêng Thái bình Thiên quốc cũng
nhờ việc lấy của nhà giàu cho
người nghèo mà được sự ủng hộ
nhiệt liệt của nông dân trong
bước đầu, nên sau hai năm nổi
dậy, từ một làng nhỏ tại tỉnh
Quảng Tây làm cuộc trường chinh
lên phía bắc, chiếm được Nam
Kinh. Tuy nhiên Thái bình Thiên
quốc không biết dừng, chủ trương
thi hành triệt để theo con đường
tập trung tư liệu sản xuất:
Có ruộng cùng cày, có cơm cùng
ăn, có áo cùng mặc, có tiền cùng
tiêu, không có điều gì là không
công bằng. [14]
Lịch sử từng chứng kiến việc Mao
Trạch Đông thi hành “Bước nhảy
vọt lớn” trong năm 1958-1959
thất bại như thế nào, thì chủ
trương tập trung tư liệu sản
xuất của Thái bình Thiên quốc
cũng thất bại tương tự. Sau một
thời gian ngắn thử thách, nông
dân chán nản, phần đông gia nhập
vào tổ chức dân binh, được gọi
là “Đoàn luyện“ của Tăng Quốc
Phiên để chống lại Thái bình
Thiên quốc.
Lưu khấu
Một trong những thủ đoạn của
Thái bình Thiên quốc là “lưu
khấu” tức vĩnh viễn làm giặc lưu
động. Theo lời của Trung vương
Lý Tú Thành, một trong những vị
vương của Thái bình Thiên quốc
cung khai như sau:
“Những gia đình thờ “Thượng đế”,
nhà cửa phòng ốc được hủy đốt,
đói lạnh không có ăn, nên đành
đi theo. Người nhà quê, đi xa
không biết đường, đi được khoảng
trên 100 dặm, không quay trở về
được nữa, nên cuối cùng phải
theo quân.” [15]
Thông thường những năm đói kém
mất mùa, nông dân có thể nổi dậy;
nhưng đến mùa thu hoạch no đủ,
thi họ lại trở về làm ăn như cũ.
Đằng này, hô hào đốt nhà cửa,
bắt dân theo vĩnh viễn, làm một
cuộc trường chinh không có ngày
về, thủ đoạn của Thái bình Thiên
quốc muốn duy trì một đạo quân
trung thành thường trực.
Tuy nhiên quân ắt phải có lương,
một khi không dành được của kẻ
địch, thi họ quay lại cướp của
dân, đó là con dao hai lưỡi!
Sử dụng trí thức
Lúc Thái bình Thiên quốc nổi lên
như một ngọn lửa bừng, quan quân
nhà Thanh tuy đông nhưng đành
bất lực, lực lượng này chiếm Nam
Kinh, vượt sông Trường Giang v.v...
Tuy nhiên chính sách của Thái
bình Thiên quốc cấm thờ cúng tổ
tiên, cấm các tư tưởng Nho, Lão,
Phật… thực sự chối bỏ nên văn
hóa cổ truyền đông phương, nên
bị những người đọc sách phản đối.
Các nhà Nho đương thời như Tăng
Quốc Phiên, Lý Hồng Chương đã
tập hợp dân chúng với tổ chức
“đoàn luyện” để chống lại một
cách hiệu quả.
Riêng vua Quang Trung tuy xuất
thân từ áo vải, nhưng biết dùng
những trí thức như La Sơn Phu Tử,
Ngô Thời Nhiệm v.v… Điều này
thấy rõ nhãn quan chính trị của
vua Quang Trung cao hơn Hông Tú
Toàn một bậc.
C. Cơ
Lịch sử ghi nhận Hồng Tú Toàn có
cơ hội, chiếm được 16 tỉnh của
Trung Quốc, nhưng vì sử dụng tập
thể hóa tư liệu sản xuất, cùng
chối bỏ nền văn hóa truyền thống,
nên tự rước lấy thất bại. Sự
thất bại này, tương tự như thất
bại của Tần Thủy Hoàng được vạch
ra trong bài phú nổi danh A
Phòng cung phú của Đỗ Mục “diệt
nhà Tần không phải là công của
thiên hạ, mà chính Tần tự diệt.”
[16]
Riêng vua Quang Trung, mất trước
khi khởi sự, hoàn toàn không có
cơ hội! Tuy nhiên qua sự phân
tích so sánh tại các mục Thời,
Thế nêu trên; thấy có nhiều yếu
tố hơn hẳn Hồng Tú Toàn. Với tài
sức như vậy, há lại không đủ khả
năng để khôi phục được phần đất
cũ của Nam Việt ư! Tuy nhiên
“Thành bại là cơ”; người đời sau
đành phải an ủi bằng hai câu thơ
của Nguyễn Du trong Văn tế thập
loại chúng sinh:
Cho hay thành bại là cơ,
Mà u hồn biết bao giờ cho tan!
@Talawas-----------------------------------------------------------
[1]Hồ Bạch Thảo, Cao Tông Thực
lục q. hạ, văn bản số 200, tr.
237.
[2]Hoàng khảo: Vua cha, chỉ vua
Càn Long.
[3]Dạ Lang tự đại: Đời nhà Hán
có nước Dạ Lang nhỏ bé [vùng Quí
Châu hiện nay] làm Vương một
châu, không biết nhà Hán to lớn;
Vương nước đó hỏi Sứ giả nhà Hán
rằng “Hán và nước ta ai lớn hơn”.
Do câu nói đó, người đời gọi kẻ
ngông cuồng không lượng sức là
Dạ Lang tự đại. (Hán Thư, Tây
Nam Di truyện)
[4]Tức Đồng Nai; chỉ quân Nguyễn
Ánh lúc bấy giờ đóng tại Đồng
Nai.
[5]Hồ Bạch Thảo, Cao Tông Thực
lục q. hạ, văn bản số 204, tr.
245.
[6]Thiện phòng; phòng phụ trách
nấu cho vua ăn
[7]Lưỡng Hồ: Hồ Bắc, Hồ Nam
[8]Cao Tông Thực lục q. 1356,
tr. 173-174
[9]Thăng bình ngọc phiệt: Bè
ngọc, cứu vớt người trầm luân
đến cảnh thăng bình
[10]Trạo ca: Điệu hát chèo
thuyền
[11]Thanh Thông Giám, q. 14, tr.
1601-1602
[12]Hồ Bạch Thảo, Cao Tông Thực
lục tập hạ, văn bản số 206, tr.
251
[13]Đại Nam chính biên liệt
truyện, Ngụy Tây; Tạ Quang Phát
dịch, tr. 11
[14]有
田
同
耕,
有
飯
同
食,
有
衣
同
穿,
有
錢
同
使,
無
處
不
均
勻
Hữu điền đồng canh, hữu phạn
đồng thực, hữu y đồng xuyên, hữu
tiền đồng sử, vô xứ bất quân
quân. Tiền Mục, Quốc Sử Đại
cương, tr. 876.
[15]Tiền Mục, Quốc sử đại cương,
tr. 874
[16]族
秦
者,
秦
也,
非
天
下
也
Tộc Tần giả, Tần dã; phi thiên
hạ dã. Cổ Văn Quan Chỉ, q. 8,
tr. 309. |