̣
1. Nhà nông đầu
tiên trên thế giới
Ngày 8.5.09 vừa qua trên BBC có một bài ngắn
đưa tin Martin Jones thuộc Đại Học Cambridge
đã cho thấy việc trồng trọt các vụ mùa riêng
biệt có thể đã bắt đầu từ vùng Viễn Đông
cách đây từ 10 ngàn năm tức là sớm hơn hai
thiên niên kỷ so với những gì mà lúc trước
người ta dự đoán. Cho tới nay, người ta
thường cho rằng nông nghiệp định cư thực sự
bắt đầu cách đây tám ngàn năm tại vùng Lưỡng
Hà cổ, nay là Iraq.
Giáo sư Jones nói rằng, kết quả khảo cổ tại
Trung quốc làm thay đổi mọi thứ. Giống lúa
cổ nhất tại Trung Quốc giờ đây đã có 12 ngàn
năm tuổi. Hạt Kê ở miền bắc nước này có tới
8 ngàn năm tuổi. tại nhiều vùng ở châu Á và
Mông Cổ, đây là loại lương thực chính mà
người ta ăn vài lần trong ngày.
Vì là một bản tin vắn, không có thêm nhiều
chi tiết, không biết Giáo Sư Jones nói Trung
Quốc là một nước, một dân tộc như hiện nay
hay lãnh thổ của dân Bách Việt trong vùng
Hoàng Hà Dương Tử mà dân Bách Việt đã định
cư truớc khi có Trung Quốc của Hán Tộc được
làm nên do người Mông Cổ du mục xâm chiếm
vùng Hoàng Hà Dương Tử, hoà huyết với dân
Bách Việt thành ra người Hán mà lãnh thổ của
họ thời đó còn bé tí ti, chỉ như một quận
huyện ngày nay. Gọi là Trung Quốc là nước ở
giữa, có nghĩa là chung quanh còn có nhiều
nuớc khác chứ không là toàn lãnh thổ Trung
Quốc như ta thấy ngày nay.
Trong tác phẩm “Việt Nam Suối Nguồn Văn Minh
Phương Đông” tác giả Du Miên Lê Thanh Hoa đã
trưng dẫn bản đồ của tạp chí National
Geographic (Hoa Kỳ) ấn hành, ghi rõ Việt
(Yue) sống đời định cư 5,000 năm trước tây
lịch và là giống dân đầu tiên trồng lúa gạo
trên thế giới. Cuốn “An Historical Atlas of
China” của Albert Herrmann, Giáo Sư Đại Học
Berlin cũng cho biết như vậy.
Cuốn BÁCH VIỆT TIÊN HIỀN CHÍ của Thuận Đức,
Âu Đại Nhậm, Trịnh Bá soạn, là cuốn cổ sử về
giống Việt, viết ra từ 500 năm trước tại
Trung Quốc, cất trong kho trữ sách trung
ương, chỉ dành cho một số người tra cứu sử
liệu được đọc mà thôi. Ngay cả Sử Quán của
triều Nguyễn Việt Nam cũng cố công tìm nhưng
không tìm thấy. Vào năm 2006, trung tâm
nghiên cứu văn hoá Việt Nam tại Hoa Kỳ đã
cho in, phổ biến bản dịch của Giáo Sư Trần
Lam Giang. Ấn bản này có cả phụ lục nguyên
bản của sử gia thời nhà Minh, Âu Đại Nhậm,
để đói chiếu.
Giai đoạn lịch sử mà “Bách Việt Tiên Hiền
Chí” đề cập là triều Hán, triều đại chủ
trương đánh chiếm và sáp nhập toàn bộ đất
Việt vào lãnh thổ Tàu. Cuối cùng, một dải
đất rộng bao la, nay ước chừng 1/3 toàn bản
đồ Tàu, của nước Việt đã bị đẩy mãi xuống
tận miền Nam, và Bách Việt nay chỉ còn có
Lạc Việt, chi trưởng của Bách Việt, tức Việt
Nam ngày nay.
Nhà văn Hà Văn Thuỳ trong bài viết “ Khai
sinh người Hán và sự hình thành nước Tàu”
(Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn Học,
2008) khẳng định: “Tổ tiên người Hán chỉ ra
đời khoảng 2600 năm TCN, khi người Mông Cổ
tràn xuống nam Hoàng Hà chiếm đất của người
Việt, hòa huyết với người Việt sinh ra. Vì
vậy, tất cả văn hóa vật thể và phi vật thể
có trên đất Trung Hoa trước 2600 năm TCN đều
là sản phẩm của Việt tộc.” Và bài “Truy Tìm
Gốc Tích Cây Kê” cũng trong sách trên đã xác
định rằng muốn tìm nguồn gốc cây Kê phải
giải quyết hai vấn đề: Người trồng Kê ở làng
Bonfo 5,000 năm trước là ai và trước hết ở
đâu ? Ông dẫn chứng tác phẩm “Nguồn Gốc
Phương Đông” (The Cradle of The East) của
Giáo Sư Ho Ping-Ti để đi đến kết luận là có
sự hoà huyết giữa người du mục và người nông
nghiệp, sống hoà thuận trong cộng đồng Bách
Việt. Giáo sư Zhu Naiccheng trong chuyên
luận “ A Summary of Prehistoric
Rice-cultivating Agriculture” cũng kết luận
rằng “Cả gạo lẫn cây Kê đều được gieo trồng
trong khu vực giữa sông Hoàng hà và sông
Huai (Hoài) tức “lúa gạo và cây Kê đã được
trồng xen nhau trong miền văn hoá tiền sử
Trung Hoa”
Tiến Sĩ Nguyễn Văn Tuấn, Giám Đốc Viện Garma
Úc, trong bài giới thiệu cuốn Địa Đàng
Phương Đông của Stephen Oppenheimer đã viết
“Qua những khám phá này, chúng ta có bằng
chứng để phát biểu rằng, trước khi tiếp xúc
với người Hán từ phương Bắc (Trung Hoa) đến,
tổ tiên chúng ta đã tạo dựng nên một nền văn
minh khá cao, nếu không nói là cao nhất
trong vùng Đông Nam Á … Tổ tiên chúng ta đã
phát triển và ứng dụng kỹ thuật trồng lúa
trước người Hán hay là những người thầy dạy
cho người Hán trồng lúa (chứ không phải
ngược lại) và có thể tổ tiên chúng ta cũng
chính là tổ tiên của người Trung Hoa ngày
nay. Đã đến lúc phải trả lại sự thực và danh
dự cho tổ tiên chúng ta”.
2. Chuyện nguồn gốc Kinh Dịch
Học giả Nguyễn Thiếu Dũng trong bài viết kỷ
niệm 10 năm ông công bố chứng cứ chứng minh
“Kinh Dịch là di sản sáng tạo của Việt Nam”
đăng nhiều nơi trong đó có mang
anviettoancau.net tháng 4 năm 2009 ông cho
rằng người Trung Hoa đã có hai ngàn năm để
nói Kinh Dịch là của họ với hơn mấy ngàn đầu
sách luôn luôn khẳng định điều này khiến nó
đã trở thành một sự thực hiển nhiên khó ai
cãi lại đuợc. Nhưng ngày nay đã có những
chứng cớ cho chúng ta thấy rằng nguồn gốc
Kinh Dịch không thể tìm thấy ở Trung Hoa ,
mà Việt Nam mới chính là nơi khai sinh Kinh
Dịch.
Nguyễn Thiếu Dũng đã lược qua nhiều chứng cớ
lịch sử, nhiều sử gia, nhiều tác giả từ xưa
tới nay của Trung Hoa đã đi tìm lý chứng để
giải quyết vấn nạn về nguồn gốc Kinh Dịch,
nhưng họ đành bó tay không truy vấn được.
Vậy thì người Việt nam hà cớ gì cứ đi theo
họ để xác nhận một điều họ đã phủ nhận, cứ
trân trọng mãi cái họ đã ném đi ? Vậy đâu là
những chứng cớ từ Việt Nam ?
A. Năm 1970 Giáo Sư Kim Định đã dõng dạc
tuyên bố “Kinh Dịch là của Việt Nam” trong
tác phẩm Dịch Kinh Linh Thể. Tiếp sau là Bác
Sĩ Nguy ễn Thi Thanh, Bác Sĩ Nguyễn Xuân
Quang, Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Phạm Trần Anh,
Trần Đại Sỹ, Trần Quang Bình, Hà Văn Thuỳ,
Nguyễn Quang Nhật, Nguyễn Việt Nho, Trúc Lâm
Đoàn Vũ … đã mạnh dạn đề xuất nhiều chứng cớ
khoa học.
B. Riêng Nguyễn Thiếu Dũng, trong ròng rã 10
năm không mỏi mệt, tác giả đã trình với công
luận những chứng cứ khả dĩ chứng minh được
Kinh Dịch là di sản của tổ tiên Việt nam qua
mấy điểm chính sau đây:
1) Căn cứ vào những hoa văn trên đồ gốm
Phùng Nguyên và đồ đồng Đông Sơn thì Việt
Nam đã ghi khắc những quẻ Dịch trước Trung
Quốc và sớm hơn chứng liệu của Trung Quốc
(xin xem Phát hiện Kinh Dịch thời đại Hùng
Vương-Thanhnienonline)
2) Chứng liệu của Việt Nam trực tiếp từ
tượng quẻ không phải qua suy luận từ số đến
tượng như Trung Quốc.Có đầy đủ 8 quẻ đơn và
một số quẻ kép trên đồ đồng Đông Sơn.Những
quẻ này có thể đọc thành văn bản phản ánh tư
tưởng quốc gia Văn Lang (Sứ giả Văn
lang-Anviettoancau.net)
3) Quẻ Dịch trên đồ Phùng Nguyên và Đông Sơn
chứng tỏ hào dương vạch liền và hào âm vạch
đứt của Trung Quốc là biến thể của Hào dương
vạch liền và hào âm vạch chấm chấm của Việt
nam,Trung Quốc đã nối những chấm âm lại
thành vạch đứt để vạch cho nhanh (cải biên)
(Chiếc gậy thần-dạng thức nguyên thủy của
hào âm hào dương-Thanhnienonline).
4) Các từ Dịch/Diệc, Hào, Càn, Khôn, Cấn,
Chấn, Khảm, Ly,Tốn, Đoài chỉ là từ ký âm
tiếng Việt (Bàn về tên gọi tám quẻ cơ bản
của Kinh Dịch-Dunglac.net)
5) Quan trọng nhất theo tiêu chuẩn tam tài
Trung Quốc chỉ sử dụng Tiên Thiên đồ, Hậu
Thiên Đồ mà không có Trung Thiên Đồ, một đồ
cốt yếu đã được tổ tiên Việt Nam sử dụng để
viết quái, hào từ Kinh Dịch cũng như phân bố
vị trí các quẻ. Đồ này được tổ tiên Việt nam
dấu trong truyền thuyết, trên trống đồng nên
có thể khẳng định Trung Quốc không thể nào
là người khai sinh kinh Dịch (Trung Quốc đã
công bố hơn 4000 Dịch đồ nhưng không có đồ
nào phù hợp với Trung Thiên Đồ) (Kinh Dịch
di sản sáng tạo của Việt
Nam-Thanhnienonline)
6) Truyền thuyết Việt Nam một phần là những
câu chuyện liên hệ với Kinh Dịch, như chuyện
con Rồng cháu Tiên là chuyện của Trung Thiên
Đồ, chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh là chuyện kể
lại từ những lời hào quẻ Mông, người Trung
Hoa chỉ cần thay đổi bộ thủy trong hai chữ
“chất cốc” thành bộ mộc là đổi câu chuyện
nói về lũ lụt thành chuyện dạy trẻ mông muội
là xóa được gốc tích của Kinh.Truyền thuyết
được lưu giữ chính là để bảo tồn Kinh
Dịch.(Các bài trên Anviettoancau.net- cùng
tác giả)
Trong một bài báo ngắn chúng tôi không thể
trình bày hết mọi chứng cứ nhưng thiết tưởng
bấy nhiêu đó cũng đủ để hy vọng các bậc thức
giả Việt Nam nên xét lại vấn đề, cân nhắc
phân minh trả lại sự công bằng cho Tổ Tiên.
Thái độ “mackeno” của quí vị chỉ làm tăng
thêm nỗi đắng cay chua xót của liệt tổ ở
chốn u linh. Xin hãy chung tay làm sáng tỏ
huyền án này.
Hởi ai có thấu lòng tiên tổ!
Xin giải oan cho “Giọt máu Rồng”
(@ KhoaHoc)