|
Người làm cách mạng
trong vật lý :
Cuộc đời của Max Planck
là cuộc đời của một con người có lương
tâm, đạo đức, trách nhiệm trước xã hội,
đất nước và sự phát triển khoa học.
Vinh quang không thiếu đối với ông.
Nhưng có lẽ ít người biết đến cuộc đời
rơi nước mắt mà định mệnh đã dành
riêng cho ông vô cùng nghiệt ngã.
Hôm nay, ngày 23-4, là
ngày kỷ niệm sinh nhật thứ 150 của nhà
vật lý học vĩ đại Max Planck. Đây là
một sự kiện có ý nghĩa thế giới. Khám
phá lượng tử của ông năm 1900 đã làm
đảo lộn nhận thức của con người về vũ
trụ vi mô chưa từng có, và tác động
không ngừng vào sự thay đổi bộ mặt của
xã hội đến nay và tiếp đến. Hai chữ "lượng
tử" ngày nay đồng nghĩa với
"high-tech".
Vật lý học hiện đại tựa
trên hai cột trụ kiên cố là thuyết
lượng tử của Max Planck và thuyết
tương đối của Albert Einstein. Những
tiến bộ công nghiệp và khoa học, sự
phồn vinh xã hội mà ngày nay mọi người
trong chúng ta được thừa hưởng phần
rất lớn có nguồn gốc từ thuyết lượng
tử, và những ứng dụng của nó trong thế
kỷ 21 được chờ đợi càng mạnh mẽ hơn,
vũ bão hơn.
Đập bỏ tín điều
Tôi chào định mệnh đã
cho tôi một nền giáo dục nhân văn. Các
nhà cổ điển Hi Lạp và La Mã tôi không
bao giờ muốn đánh mất khỏi trí nhớ tôi.
Tôi tin chắc rằng trong thời đại hiện
tại, chủ yếu được định hướng theo
những lợi ích bề ngoài, thì trường
trung học nhân văn lại càng quan trọng
hơn bao giờ hết. Vì cần phải cho tuổi
trẻ biết rằng còn một loại "thưởng
thức" khác hơn là loại thưởng thức chỉ
dựa trên lĩnh vực vật chất hay tiết
kiệm thì giờ và tiền bạc
MAX PLANCK
Trong sự phát triển của
vật lý học có những khám phá vượt ra
khỏi lĩnh vực khoa học và trở thành
nhân tố quyết định cho định mệnh của
nhân loại. Không phải chỉ vì đó là sự
khám phá những hiện tượng tự nhiên hay
những lực mới để ứng dụng vào kỹ thuật
làm tăng lên sức mạnh của con người
đối với thiên nhiên, đem lại sự phồn
vinh cho nhân loại, mà còn vì tính
chất cách mạng bao trùm về ý tưởng
trong cách diễn giải thế giới tự nhiên,
tính chất triết học chứa đựng trong đó
liên quan đến thế giới quan của con
người. Lý thuyết cơ học Newton là một
thí dụ điển hình như thế.
Cuối thế kỷ 19 lối suy
nghĩ của giai cấp tư sản cũng như của
giới khoa học ở châu Âu là bảo thủ.
Sau một thời gian xây dựng vũ bão ở
thế kỷ 19, người ta tin vào sự trường
tồn của hiện trạng. Cả trật tự nhà
nước lẫn khoa học được xem như bền
vững. Thế giới quan của Planck đã hình
thành trong không khí tư duy bảo thủ
đó mà sau này ông đã phải chiến đấu
nội tâm dữ dội và một nỗ lực lớn lao
để vượt qua chính mình và xét lại
những "tín điều" đã có. Những kinh
nghiệm đau đớn đã dạy ông rằng không
phải tòa nhà khoa học lẫn tòa nhà nhà
nước hiện hữu được phép xem như bất
khả xâm phạm.
Khai sinh của thuyết
lượng tử
Trong thế kỷ 20, thuyết
lượng tử của Max Planck là một thí dụ
cho một cuộc cách mạng của tư duy vật
lý như thế. Ngày 9-10-1900, Max Planck
khám phá "định luật phát xạ nhiệt",
cắt nghĩa được hiện tượng phát xạ của
"vật thể đen" (không phải "lỗ đen") mà
thế giới đang nhức đầu vì không cắt
nghĩa được nó bằng tính toán dựa trên
những lý thuyết hiện hành mà họ cho
rằng bất di bất dịch.
Planck (trái) trao
Einstein huy chương Max Planck ngày
28-6-1929 (Ảnh:
physik.uni-frankfurt.de)
Ông khám phá rằng sự
hấp thu hay phát xạ năng lượng của một
vật thể đen (kim loại được đun nóng
lên đến một nhiệt độ nào đó) không
diễn ra liên tục như người ta nghĩ, mà
chỉ diễn ra ở dạng các gói rời rạc
(discrete packages), và các "chùm"
năng lượng này được gọi là lượng tử
(quantum). Giống như bia, không phải
được phân phối bằng một cái vòi chảy
liên tục mà là dưới dạng các lon bia,
chai bia hay thùng bia, kích cỡ khác
nhau, nghĩa là dạng "các gói rời rạc".
Nếu E là năng lượng được trao đổi đó,
thì Planck đưa ra công thức E = hv bất
tử đi vào lịch sử, trong đó h là hằng
số, sau này được gọi là hằng số
Planck, và v là tần số của ánh sáng.
Ngày 14-11-1900 Planck
trình bày kết quả của ông tại buổi họp
của Hội Vật lý Berlin, dưới cái tên "Định
luật phân bố nhiệt trong quang phổ
chuẩn" (Gesetz der Energieverteilung
im Normalsprektrum), dài chín trang
in. Nó đánh dấu chính thức sinh nhật
lịch sử của thuyết lượng tử.
Ở Đức lễ kỷ niệm bắt
đầu ngày 23-4 và kéo dài đến tháng
mười là tháng Max Planck mất, với các
hoạt động triển lãm, hội thảo, hội
nghị, đọc sách, chiếu phim... Từ tuần
rồi các đài truyền hình lớn ở Đức đã
chiếu phim tư liệu về cuộc đời của Max
Planck, và về các vấn đề khoa học,
công nghệ, đặc biệt công nghệ nano có
liên quan mật thiết với lượng tử, kéo
dài gần một tuần. Ngân hàng Đức cũng
vừa phát hành đồng tiền đặc biệt (ảnh
- làm sưu tập) để vinh danh Max Planck
năm sinh nhật 150 này.
Planck không biết rằng
công thức ε =h.v là một định luật "tuyệt
đối" mà trong vô thức Planck đã ngưỡng
mộ và tìm kiếm, là chiếc chìa khóa để
bước vào thế giới vi mô. Ông chưa hiểu
hết tầm quan trọng và cũng không tin
công thức này là một cuộc cách mạng vĩ
đại, là một thời kỳ mới trong nhận
thức thiên nhiên.
Bản thân Planck chỉ tin
rằng đó là cái "mẹo toán" nhất thời. "Nói
tóm tắt, tôi có thể gọi cả việc làm
của tôi là một hành động của sự tuyệt
vọng. Bởi vì từ bản chất, tôi là người
hiền hòa và có khuynh hướng lánh xa
các hành động mạo hiểm đáng nghi ngờ…".
Những năm tiếp theo, vẫn không có mấy
ai để ý đến. Người ta xem ý tưởng
lượng tử như một giả thuyết phụ trợ để
hoạt động, để giải quyết được bài toán
trong lĩnh vực bức xạ, nhưng còn lại
không có ý nghĩa gì mới đối với khoa
học, và người ta chờ đợi nó nhanh
chóng sẽ được thay thế bằng một cái gì
từ nền vật lý cổ điển.
Lịch sử thành công của
khái niệm lượng tử của Planck lắm gian
nan. Cần một bà mụ để vỗ lớn vị "hoàng
tử nhỏ” chưa được thừa nhận nguồn gốc
ấy. Công việc này được giao cho không
ai khác hơn là Albert Einstein.
Năm 1905, Einstein đã
chứng minh rằng quan niệm lượng tử rời
rạc của Planck là có cơ sở rộng lớn và
sâu sắc trong thiên nhiên, không phải
chỉ là cái "mẹo toán học". Nhưng
Planck cũng không tin. Einstein phải
chiến đấu một mình 20 năm liền để thay
đổi miếng đất hoang dã bảo thủ này
trong giới khoa học bấy giờ, để thuyết
phục giới khoa học rằng quan niệm
lượng tử là có thật trong thiên nhiên
cấp vĩ mô.
Vào năm 1926 khi một
loạt các nhà khoa học trẻ như
Heisenberg, Born, Jordan, Pauli, xây
dựng cơ học lượng tử với những ứng
dụng cực kỳ chính xác trong khoa học,
lúc đó người ta mới chấm dứt mọi hoài
nghi. Bohr trước đó (1913) đã đưa ra
mô hình nguyên tử dựa trên quan niệm "các
bước nhảy rời rạc" của Planck và
Einstein rất thuyết phục tuy chưa hoàn
chỉnh, và bản thân Bohr vẫn chưa tin
quan niệm photon của Einstein. Khoảng
năm 1927 có thể nói quan niệm lượng tử
của Planck với sự hỗ trợ đắc lực của
Einstein được xem như hoàn toàn chiến
thắng.
Vật lý lượng tử từ đó
phát triển như vũ bão, đã làm hai cuộc
cách mạng vĩ đại trong lịch sử với
biết bao ứng dụng làm thay đổi hẳn bộ
mặt thế giới trong công nghệ và đời
sống.
Max Planck sinh ngày
23-4-1858 tại Kiel (Bắc Đức), học vật
lý ở Munich và Berlin. Gia đình ông là
những người có tiếng tăm, đáng tin cậy,
thẳng thắn, trung thực, lý tưởng và
thanh lịch. Ông xong trung học lúc 16
tuổi, tốt nghiệp tiến sĩ năm 1879 tại
Munich lúc 21 tuổi (năm Einstein mới
ra đời), khá trẻ, và là privatdozent (giáo
sư chưa có ghế) tại đây từ 1880-1885,
sau đó là giáo sư ngoại ngạch ngành
vật lý lý thuyết tại Kiel, và từ 1889
là người kế tục chiếc ghế giáo sư của
người thầy khả kính của mình là
Kirchhoff tại Berlin.
NGUYỄN XUÂN XANH |