 |
|
Tiến
sĩ Võ Đình Tuấn và
một cuốn sách về công nghệ nano
do ông biên soạn (Ảnh: ornl.gov)
|
|
|
|
Creator
Synectics, một công ty tư vấn kinh
doanh toàn cầu trụ sở tại Anh,
vừa công bố danh sách "100
thiên tài đương thời thế giới".
Trong danh sách có một nhà khoa học
gốc Việt là tiến sĩ Võ Đình
Tuấn, xếp hạng 43. Hiện ông là
viện trưởng Viện Vật lý lượng
tử Fitzpatrick của Đại học Duke (Bắc Carolina,
Mỹ).
Từ
đồ chơi tự chế...
Tiến sĩ Võ Đình Tuấn sinh ở Việt
Nam. Giống như nhiều nhà bác học
nổi tiếng khác, khi còn nhỏ ông
tự tạo ra những đồ chơi cho mình.
Niềm say mê chế tạo không những là
sở thích mà còn như một bản năng,
luôn thúc đẩy ông học tập và vươn
tới những chân trời khám phá.
Năm 17 tuổi, từ Sài Gòn ông đi
Thụy Sĩ du học. Ông tốt nghiệp
cử nhân vật lý tại Trường Bách
khoa liên bang Lausanne (1971), và bốn năm
sau ông được trao bằng tiến sĩ hóa
lý sinh (biophysical chemistry) tại
Viện Kỹ thuật liên bang Zurich,
Thụy Sĩ. Sau khi nhận bằng tiến sĩ,
ông sang định cư tại Hoa Kỳ.
Trang web của Cơ quan Thương hiệu và
phát minh Hoa Kỳ (USPTO, trực thuộc
Chính phủ Mỹ) cho biết bằng phát
minh đầu tiên của Võ Đình Tuấn
trao cho sáng chế "Băng dán
cứu sinh" (1987) là một
loại băng rất nhỏ và dễ
sản xuất hàng loạt, dùng để gắn
vào áo của công nhân khi họ làm
việc trong những môi trường có nguy
cơ cao, nhằm ghi lại các thông số
của loại chất độc hại mà họ
bị mắc phải trong quá trình lao động.
Chỉ cần 11 giây người ta đã biết
mình bị ngộ độc ở mức độ nào
và chữa chạy ngay mà không cần
phải đưa vào bệnh viện, rồi
phải tốn thì giờ lấy máu, nước
tiểu để xét nghiệm.
Trong lĩnh vực y khoa, tiến sĩ Tuấn
đã tìm ra sự biến đổi gen trong cơ
thể người và nhờ đó phát minh ra
những hệ thống chẩn đoán sử
dụng việc khám phá các ADN gây
bệnh tiểu đường và ung thư. Tất
cả hệ thống của ông đều dựa trên
phương pháp "Tia sáng đồng hành"
(SL: synchronous luminesence) dễ ứng
dụng, do các dữ kiện được ghi
lại hiển thị và được đọc cùng
lúc bằng tia laser và sợi quang. Nhờ
vậy mà bệnh tật có thể được điều
chỉnh kịp thời mà không cần phải
uống thuốc... Phương pháp của ông
cũng được các công ty dược và
tổ chức môi trường chấp nhận.
Tới
giảm nỗi đau con người
|
 |
|
Albert
Hoffman,
nhà phát minh LCD - (Ảnh:
Mistakesweremade.com)
|
Creator
Synetics
- chuyên tư vấn hỗ trợ cho các
công ty, tổ chức liên quan đến
phát minh, sáng tạo và các tư tưởng
đột phá - đã tính điểm các
ứng viên theo năm tiêu chuẩn:
tạo ra những thay đổi lớn,
được nhiều người biết đến,
quyền lực của tri thức, thành
tựu và tầm quan trọng về văn
hóa. Công ty đã gửi email đến
4.000 người Anh hiểu biết hè
vừa qua và yêu cầu họ đề
cử mười người họ cho là thiên
tài hiện còn sống. Kết quả,
Synetics nhận được các đề
cử tới 1.100 nhân vật, nhưng
chỉ 60% trong số này còn sống.
Synetics đã lập ra một hội đồng
gồm các chuyên gia trong lĩnh
vực phát minh, sáng tạo để
cho điểm (tới mười trên các
tiêu chí đã nêu) để lọc ra
"100 thiên tài đương đại".
|
Các viện nghiên cứu lớn đã sử
dụng kỹ thuật của ông như Viện
Ung thư quốc gia Hoa Kỳ và hầu như
tất cả bệnh viện của Mỹ đều
áp dụng phương pháp và thiết bị
chẩn đoán của ông. Đến nay ông có
hơn 30 bằng sáng chế. Tiến sĩ
Tuấn cho rằng những nghiên cứu
của ông chỉ có mục đích đơn
giản là góp phần làm giảm những
nỗi đau của con người. "Cái
khó nhất đối với bệnh nan y như
ung thư hay AIDS chính là phát hiện ra
nó”.
Năm 2003, USPTO đã tôn vinh bốn nhà
khoa học Mỹ, gốc Á trong đó có nhà
bác học Võ Đình Tuấn. Bản thông cáo
chính thức USPTO cho biết: "Các
nhà khoa học này đã có những đóng
góp to lớn vào thành tựu của khoa
học và y khoa, nhất là những phát
minh của họ đã giúp bệnh nhân
chống lại nỗi đau tuyệt vọng
của con người".
Vào ngày 9-5-2002, nhân kỷ niệm tháng
truyền thống của các dân tộc
thiểu số châu Á tại Mỹ, bà J. C.
Hayward - người phát ngôn của USTPO -
cho rằng những phát minh của tiến sĩ
Võ Đình Tuấn cùng các nhà khoa học
khác đã góp phần làm cho nước Mỹ
trở thành nước có nền khoa học
kỹ thuật tiên tiến nhất trên thế
giới. Điều đáng nói là Võ Đình
Tuấn đều có tên trong cả hai danh sách
được vinh danh năm 2002.
Trong năm 2002, các trường tiểu học
và trung học của Mỹ đều chiếu
cuốn video về những nhà khoa học,
trong đó có tiến sĩ Tuấn, cho các
học sinh xem như một chương trình
ngoại khóa. Bà Hayward nói: "Chủ
yếu để thế hệ trẻ Hoa Kỳ nhớ
đến những nhà bác học của các dân
tộc và màu da khác nhau đã có
những đóng góp to lớn không những
cho xứ sở Hoa Kỳ mà còn cho toàn
thế giới".
Tiến sĩ Võ Đình Tuấn còn là viện
sĩ Viện Hóa học Mỹ và là biên
tập viên cũng như cố vấn của
nhiều tạp chí quốc tế chuyên ngành.
Ông đã đoạt năm giải thưởng nghiên
cứu & phát triển (R&D) vào các
năm 1981, 1987, 1992, 1994 và 1996; tác
giả của hơn 300 công trình được
in ấn trên các tạp chí khoa học.
Ông cũng nhận được rất nhiều
giải thưởng quốc tế khác. Hiện
nay, nhà khoa học tài năng này đang
nghiên cứu cải tiến những công
nghệ mới để sản xuất những
thiết bị y khoa hiện đại, có kích
thước nhỏ và giá thành thấp nhằm
góp phần nâng cao tính hiệu quả và
tiết kiệm trong chẩn đoán và điều
trị bệnh.
Và
những "thiên tài đương đại"
khác
Đứng đầu danh sách mà Creator
Synetics công bố ngày 29-10 là nhà hóa
học Thụy Sĩ Albert Hoffman (đã 101
tuổi, nổi tiếng thế giới như người
phát minh ra LCD) và thiên tài máy tính
người Anh Tim Berners - Lee (một trong
những người sáng tạo ra mạng
Internet). Ba người còn lại trong nhóm
năm người đầu tiên là nhà đầu tư
George Soros (Mỹ), Matt Groening (nhà làm
phim hoạt hình châm biếm, Mỹ) và chính
khách, cựu tổng thống Nam Phi Nelson
Mandela.
 |
 |
|
Sách
về quang phổ học của tiến
sĩ Võ Đình Tuấn - Ảnh:
http://webh01.ua.ac.be/
|
Một
quyển sách về công nghệ nano
do tiến sĩ Võ Đình Tuấn biên
soạn (Ảnh:
Oroteomicsresearch.org)
|
Ngoài ra, danh sách cũng có những đại
diện của Nga (nhà toán học Grigory
Perelman đứng thứ 10 hay nhà chế
tạo súng tự động nổi tiếng
nhất thế giới Mikhail Kalashnikov ở
vị trí 83), Brazil, Trung Quốc, Iran,
Nhật Bản (nhà sáng chế robot Hiroshi
Ishiguro), Ireland, Ba Lan, Đức, Canada,
Philippines, Tây Ban Nha, Hà Lan, Ấn Độ,
New Zealand, Áo và Na Uy.
Chỉ có 15 phụ nữ trong nhóm 100 thiên
tài còn sống này, trong đó có Joan
Rowling - tác giả cuốn Harry Potter
(Anh) và nữ diễn viên Meryl Streep (Mỹ).
Nhiều người trong danh sách là
những nhân vật nổi tiếng trong lĩnh
vực văn hóa cộng đồng, ví dụ như
ca sĩ Paul McCartney (Mỹ) và nhạc sĩ
David Bowie (Anh), đạo diễn Quentin
Tarantino (Mỹ), nhà văn Stephen King (Mỹ).
Theo danh sách này, Mỹ là nước có
nhiều thiên tài đương đại nhất
(43), tiếp đó là Anh (23), 13 nhân
vật đến từ châu Âu và 11 từ châu
Á, trong đó chỉ có một người châu
Phi. Các báo Anh (Telegraph, Daily
Mail) đưa tin này đã tự hào vương
quốc Anh là nước có nhiều thiên tài
đương đại tính theo bình quân đầu
người nhất: cứ 2,5 triệu người
Anh lại có một thiên tài đang còn
sống. Mỹ xếp thứ hai với một thiên
tài còn sống trên 6,9 triệu dân.
TRẦN
ĐỨC THÀNH - DUY VĂN
tổng hợp - Theo Tuổi trẻ
|
"Giáo
dục đi cùng con đến cuối
cuộc đời"
Trong
một trả lời phỏng vấn đăng
trên trang web của Trung tâm Lượng
tử ánh sáng y sinh học của
Viện Thí nghiệm quốc gia Oak
Ridge (ORNL) ở bang Tennessee, khi
được hỏi: "Từ khi nào
ông quyết định trở thành nhà
khoa học?", tiến sĩ Võ
Đình Tuấn đáp: "Chính
cha mẹ đã truyền cho tôi giá
trị của giáo dục và niềm
say mê khoa học. Cha thường nói
với tôi rằng không giống
của cải vật chất có thể
mất bất cứ khi nào, giáo
dục sẽ đi cùng con tới
cuối cuộc đời, ngay tại trường
đại học tôi đã cân nhắc
nghiêm túc việc nghiên cứu".
Theo
lời ông, đó là vào đầu
thập niên 1970, ngay sau cuộc
"cách mạng sinh viên"
năm 1968 tại Pháp và sau đó
lan truyền khắp châu Âu.
"Khi đó, sinh viên chúng tôi
quan tâm tới rất nhiều đề
tài, và chúng tôi thường đặt
câu hỏi về ý nghĩa của
cuộc sống cũng như chủ đích
của sự tồn tại. Trong lớp,
chúng tôi đọc sách vật lý và
hóa học, nhưng ra khỏi lớp
chúng tôi bị nhận chìm trong
sách của Albert Camus, Jean-Paul
Sartre (các nhà văn, triết gia
Pháp, được coi là ủng hộ
chủ nghĩa hiện sinh), Carl Jung
(nhà tâm lý học Thụy Sĩ, nhà
sáng lập tâm lý học phân tích),
và Jiddu Krishnamurti (nhà văn,
nhà hùng biện Ấn Độ).
Hầu
như ai trong chúng tôi cũng suy
nghĩ và mộng mơ, thường
rất ngây thơ và trong sáng,
rằng ai đó trong chúng tôi
sẽ "tái tạo thế
giới". Trong một khía
cạnh, "giai đoạn
hiện sinh" trong đời
sinh viên đó của tôi tiếp
tục tác động tới suy nghĩ
của tôi về nghiên cứu khoa
học. Tôi tin là khoa học, đôi
lúc cũng cần đặt câu hỏi
về ý nghĩa của nó và phải
cải tạo chính nó để làm
mới nó từ những tín điều
và khuôn mẫu cũ”. http://www.ornl.gov/info/ornlreview/v37_3_04/article13.shtml.
|
|