|
Trong văn-chương
Việt, bài thơ ‘Khóc Bạn’ của
Nguyễn Khuyến đã lột được sự
ân-cần và quí-mến bạn hết lòng
trong khi bạn còn sống. Nguyễn
Khuyến khóc Dương Khuê với
tất-cả tâm-hồn và bằng tận-cùng
của sự mến-thương luyến-tiếc:
‘Rượu ngon không có bạn hiền,/
Không mua không phải không tiền
không mua./ Câu thơ nghĩ đắn-đo
không viết,/ Viết đưa ai, ai
biết mà đưa./ Giường kia treo
những hững-hờ,/ Đàn kia gảy
những ngẩn-ngơ tiếng đàn.’
Khóc như thế mới là khóc, thương
như thế mới là thương! Khi sống
chúng ta đối-đãi với nhau
chân-tình và để ý săn-sóc nhau
hết lòng thì khi bạn chết, việc
khóc than, viếng đám ma, chia
buồn, và an-ủi của chúng ta đối
gia-đình của bạn mình mới có
ý-nghĩa.
I. Sự Đời
Ngày nay, ở hải-ngoại này, có
một số người vì bận-rộn với danh
quyền lợi, họ đã để cho tình-cảm
gia-đình và nghĩa bằng-hữu bị
nguội-lạnh phai-mờ. Khi cha mẹ,
anh em, và bạn-bè còn sống, họ
chẳng chăm-nom thăm hỏi nhau mà
còn lấy cớ này lý nọ để
bào-chữa, chẳng hạn như: ‘bố tôi
ghét tôi, mẹ tôi thiếu bổn-phận,
anh tôi hư-hỏng, em tôi không
nghe lời, bạn tôi ở xa quá, tôi
bận-rộn mà lại ở xa họ quá, v.v.
nên tôi không đến thăm họ được!’
Có những trường-hợp khi cha mẹ
già yếu, con cái đã tìm cách đưa
các cụ vào viện dưỡng-lão. Đây
cũng là việc thông-thường ở
Bắc-Mỹ này. Tuy-nhiên, trừ
trường-hợp giữ các cụ ở nhà sẽ
gây ra nguy-hiểm đến tính-mạng
cho các cụ, cho gia-đình, và cho
hàng-xóm thì không kể, nếu các
cụ vẫn tỉnh-táo hay người nhà
còn có thể trông-nom săn-sóc
được mà đưa các cụ vào sống
trong ‘nursing home’ thì thật
tội-nghiệp cho các cụ.
Đã có những trường-hợp cha mẹ vì
già yếu và bệnh-hoạn phải nằm
trong nhà thương, con cái cả
tuần mới tới thăm được một đôi
lần. Các cụ nằm ‘chết khô’ không
có người con nào ngó tới. Thế mà
khi cha mẹ qua đời, con cái
tổ-chức đám ma thật to, kẻ phúng
người điếu nhộn-nhịp, khóc than
kể-lể hết lời, mua loại hòm
(săng) cho thật sang, xây mộ cho
lớn, đắp bia cho đẹp, và làm lễ
cầu-siêu cho linh-đình tốn đến
cả mấy chục ngàn ‘đô-la.’ Có
phải đây là cách để gột rửa sự
tệ-bạc của mình đối với cha mẹ
lúc còn sinh-tiền và che mắt
thế-gian không?
Có trường-hợp, người đã chết
được cả tháng trời mới thấy bản
tin phân-ưu của bạn bè ở cùng
một địa-phương xuất-hiện trên
mặt một tuần-báo. Sự gần-gũi lui
tới thăm nhau có thắm-thiết lúc
còn sống không? Bản tin phân-ưu
này có giá-trị gì ngoài sự mua
danh lấy tiếng?
Có người khi còn sống bị ngay cả
bạn thân của họ chê là kẻ có
thủ-đoạn, thế mà khi chết, họ
cũng được bè-bạn đăng lời
phân-ưu. Vì ‘nghĩa tử là nghĩa
tận,’ người ta thường tha-thứ và
rộng-lượng với người chết nên cố
nhờ đăng vài lời phân-ưu để được
tiếng là cao-thượng. Đôi khi
người ta đăng lời phân-ưu là để
đạt một mục-đích khác nữa. Thật
là một trò hề và giả đạo-đức!
Có người khó tính và chán-chường
cho sự giả-dối của loại người
nói ở trên đã thốt ra một câu
thật chí-lý giống như lời Chúa
Jesus đã viết trên cát trong
truyện ‘Ném Đá’: ‘Bọn Giả-Dối!’
Ở Bắc-Mỹ này, tình gia-đình và
bè-bạn không được thắm-thiết như
ở Á-Đông ta nên người ta đã tự
lo cho cái chết của họ một cách
thật đầy-đủ, chẳng hạn như mua
bảo-hiểm nhân thọ (Life
Insurance) để khi chết gia-đình
có tiền sinh sống và trang-trải
ma-chay, nào đóng tiền trước cho
nhà-quàn (funeral home) để họ lo
đám ma của mình (prepaid
funeral) mà khỏi cần nhờ đến ai.
Thật là tiện-lợi hết chỗ nói.
Khi sống, người Bắc-Mỹ đã được
hưởng mọi thứ tự-do thật
xứng-đáng với nhân-phẩm con
người. Khi chết họ cũng
thoải-mái vì không phải lo cảnh
‘xẩy đàn tan nghé’ hay làm
phiền-lụy ai.
Ngoài ra, vì người dân Bắc-Mỹ có
đóng thuế và đóng tiền hưu nên
chính-phủ có trách-nhiệm lo đám
ma cho người dân. Chính vì thế,
những người dân nghèo đã có
cơ-quan xã-hội (social services)
ở địa-phương lo đầy-đủ cả lúc
sống cũng như khi chết. Khi nhà
có người nằm xuống, nếu
thân-nhân nộp đơn xin tiền
trợ-cấp để lo đám tang thì
cơ-quan xã-hội sẽ cấp cho họ một
khoản tiền đủ để chi-dụng trong
việc này.
Đối với những người có đi làm và
có đóng tiền hưu thì khi chết họ
được hưởng tiền tử-tuất, tối-đa
khoảng 3 ngàn đồng tùy theo số
năm đi làm và số tiền đóng cho
quỹ hưu-trí. Tiền tử-tuất này do
cơ-quan ‘National Health &
Welfare, Income Security
Programs’ cấp nếu thân-nhân hay
người đại-diện nhà-quàn đứng tên
xin.
Ở Bắc-Mỹ này không ai phải bó
chiếu đem chôn một cách âm-thầm
như người dân sống dưới chế độ
Cộng-Sản tại Việt Nam. Mặc-dầu
người dân được bọn Cộng-Sản
tôn-vinh là ‘nhân-dân làm chủ,’
nhưng trong thực-tế, người dân
bị bọn Việt-Cộng đối-xử rất tệ,
thậm-chí không bằng con vật ở
Bắc-Mỹ này.
II. Tại Sao Người Ta Phải
Tổ-Chức Đám-Ma Cho Linh-Đình?
Có đám ma được gọi là quốc-táng
do triều-đình hay chính-phủ đứng
ra lo. Lá cờ quốc-gia được phủ
lên quan-tài trong khi đưa đám.
Đây là nghi-lễ chôn-cất của
chính-phủ dành cho những người
chết có công đánh trận hay
tử-nạn trong khi phục-vụ
quốc-gia. Ngoài ra, lá cờ của
quốc-gia còn được kéo lên nửa
chừng cột cờ ở khắp nơi trong
nước, gọi là cờ rũ hay cờ tang.
Đây là biểu-hiệu để tang người
quá-cố đã có công đối với
dân-tộc.
Có đám ma làm theo nghi-lễ
tôn-giáo hay phong-tục cổ-truyền
để tôn-vinh người chết về
công-lao của họ đối với đạo-pháp
và dân-tộc.
Có đám ma được tổ-chức linh-đình
và trọng-thể do dân-chúng và các
đoàn-thể đứng ra tổ-chức để tỏ
lòng nhớ ơn người chết đã vì họ
mà hy-sinh, và luôn thể để
biểu-dương thế-lực phản-đối nhà
cầm quyền đương-thời đã gây ra
cái chết này.
Có những đám ma rất linh-đình do
thân-nhân, bằng-hữu, và những
người mến-mộ tổ-chức dành cho
nhà báo, kịch-sĩ, ca-sĩ, nhà
thơ, nhà văn, họa-sĩ, cầu-thủ,
võ-sĩ, và nhà giáo, v.v. Trong
đám ma này người ta đọc điếu-văn
(bài văn đọc trong đám tang để
tỏ lòng nhớ ơn và thương-tiếc
người quá-cố) phát-biểu những
kỷ-niệm đã có với người chết, và
nói lên những công-đức của người
quá-cố trong lúc còn sinh-tiền,
v.v.
Sau đám ma, người ta còn tổ-chức
các buổi cầu-nguyện và các buổi
tưởng-niệm để vinh-danh công-đức
người quá-cố cho mọi người lấy
đó làm gương.
Có những đám ma của loại người
giầu có để khoe của, khoe danh,
khoe sang vì quen biết các ông
to bà lớn, và để dễ-dàng cho con
cháu sinh sống và làm ăn sau
này.
III. Tại Sao Người Ta Hay Tỏ Ra
Quan-Tâm và Ân-Cần Đối Với Một
Người Khi Họ Sắp Chết và Sau Khi
Họ Chết Hơn Lúc Còn Sống.
Thường thì vào dịp Tết, lúc năm
cùng tháng tận, người ta hay
rộng-lượng với nhau. Họ bỏ đi
các dị-biệt (different) cùng các
xích-mích đã có để cùng nhau
tổ-chức Tết để đón mừng xuân và
hy-vọng một tương-lai tốt-đẹp
hơn trong năm mới. Cũng trong
chiều-hướng này, khi biết tin
thân-nhân và bạn-bè hấp-hối hay
đã qua đời mà trước đó có khi cả
hằng năm chẳng bao giờ họ
liên-lạc với nhau, người ta nghĩ
rằng lúc này họ nên bỏ ra chút
thì-giờ để đến thăm người
hấp-hối, nhìn mặt người chết một
lần chót, hay gửi đăng đôi lời
chia buồn trên báo-chí để chuộc
lại thái-độ lạnh-nhạt trước kia.
Đây là một cử-chỉ đẹp, biết
ăn-năn hối-cải, và độ-lượng
nhưng ý-nghĩa chẳng có bao nhiêu
vì lúc sống đã chẳng ra gì thì
còn kể chi khi đã chết.
Có trường-hợp người ta đi
phúng-điếu là để trả nợ vì trước
đây người mà nay qua đời hay bà
con của người này đã đi
phúng-điếu thân-nhân của họ.
Trong một số trường-hợp khác, có
những người cùng làm chung một
sở hay ở cùng một nơi với nhau;
khi ở cơ-quan hay hàng-xóm có
người qua-đời, bạn-bè và người
hàng-xóm rủ họ đi phúng-điếu thì
họ đi, chứ chưa chắc họ thực-sự
muốn đi. Danh-sách những người
đăng trong mục tin phân-ưu cũng
vậy; có nhiều trường-hợp, bạn-bè
hay tòa-soạn tưởng mình chơi
thân với người quá-cố nên họ
tự-động thêm tên mình vào.
Một số người đã đối-đãi tệ-hại
với bạn-bè, họ tưởng rằng nói
vài lời an-ủi với người hấp-hối
coi như chuộc lại cả một
thời-gian dài không một lần thăm
viếng hỏi-han. Họ đến phúng-điếu
và chia buồn với tang-quyến chỉ
là tỏ thiện-chí làm lành và
gột-rửa sự lạnh-nhạt hay
hiềm-khích với gia-đình người
quá-cố trước đây. Đây cũng là
một việc tốt nhưng chưa đủ.
Có nhiều trường-hợp, con cái
tệ-bạc với cha mẹ và đối với cha
mẹ không ra gì, nhưng khi cha mẹ
sắp qua đời, họ quây-quần bên
giường bệnh lúc cha mẹ hấp-hối
để tỏ ra mình lo-lắng và
thương-tiếc cha mẹ một cách
tự-nhiên phát-sinh tự đáy lòng.
Ngoài ra, họ còn quây-quần bên
giường bệnh lúc cha mẹ hấp-hối
với mục-đích để xem cha mẹ có
dặn-dò (trối) cho mình tiền của
gì không.
Những người con có hiếu thường
tổ-chức đám ma cho cha mẹ rất
linh-đình cốt để tỏ lòng
hiếu-kính một cách chân-tình.
Nhưng cũng có trường-hợp, các
con làm đám tang cho cha mẹ một
cách linh-đình để gột-rửa sự
bạc-bẽo của họ đối với cha mẹ
trước đây.
Đối với những người đến
phúng-điếu, có nhiều trường-hợp
người ta đến phúng-điếu chia
buồn với tấm-lòng thành. Thái-độ
của họ nói lên tấm-lòng sẵn-sàng
giúp-đỡ cho tang-gia bất-cứ lúc
nào và bất-cứ cái gì khi cần
đến. Đời vẫn có những người tốt
thực-sự và vô vị-lợi. Có người
đến phúng-điếu vì họ đã từng
ngưỡng-mộ và tôn-kính người
quá-cố mà không có dịp nào được
gặp tận mặt hay nói trực-tiếp
được một lời trong lúc người ấy
còn sống. Có trường-hợp, người
ta thân nhau nhưng lười liên-lạc
nên khi nghe tin nhau bị bệnh
hay qua đời họ đã cố-gắng đến
an-ủi hay chia buồn.
Một số người thân nhau, họ không
để ý đến nhau khi còn sống và
cho đây là sự bình-thường.
Trường-hợp này cũng giống như
người có tự-do sẵn rồi thì không
thấy tự-do là quan-trọng. Đến
khi mất tự-do, họ mới thấy tự-do
là quí. Đối với mười ngón tay
của ta, khi bình-thường ta không
thấy ngón nào là ngón
quan-trọng. Nếu vì lý-do gì mà
bị cụt đi một ngón, ta mới thấy
thiếu-thốn và bất-tiện như thế
nào. Chính vì lý-do này người ta
mới ân-cần thăm nhau khi bị
bệnh, hay thương-tiếc nhau
vô-cùng khi đã mất nhau.
Nói chung, đám ma có linh-đình
hay không, lễ cầu-siêu có lớn
hay không, và phần mộ có to và
đẹp-đẽ hay không, tất-cả đều
dành cho người sống và đều làm
rạng-rỡ cho người còn sống. Chết
là hết. Sau này có mâm cao cỗ
đầy hay không cũng chỉ là dành
cho người sống. Việc đối-đãi với
nhau khi còn sống mới là
quan-trong. Cần đùm-bọc
thương-yêu và săn-sóc nhau lúc
sống chứ đừng để đến khi
thân-nhân hay bằng-hữu chết mới
tỏ lòng thương-tiếc.
Nhiều người tin rằng cần
tụng-niệm Phật A-Di-Đà để cầu
xin vãng-sanh (qua kiếp
trần-gian) về cõi Tây-Phương
Cực-Lạc. Thật ra Cõi Tây-Phương
Cực-Lạc đã ở tại trong lòng
mình. Không có đất Phật ở đâu
bên ngoài. Lục Tổ Huệ-Năng đã
dạy: ‘Kẻ mê-muội thì niệm Phật
cầu vãng-sanh về cõi bên kia,
người tỉnh-ngộ chỉ làm cho tâm
mình được thanh-tịnh. Người
phàm-phu không hiểu rõ tánh Phật
của mình, chẳng biết rằng
Tịnh-Thổ hay Tịnh-Độ, tức là đất
Phật, đã có sẵn nơi tâm mình và
ngay tại nơi mình đang ở, nên cứ
lo cầu Đông nguyện Tây. Còn
người đã giác-ngộ rồi thì biết
rằng đâu đâu cũng là Tịnh-Thổ,
tức là chỗ nào cũng có Phật ở đó
cả.’ Con người khi còn sống nên
giữ tâm mình cho thanh-tịnh để
biết bổn-tâm nhận rõ bổn-tánh
thì sẽ giác-ngộ thành Phật,
chẳng cần phải cầu vãng-sanh làm
gì vì lòng ta là đất của Phật
rồi.
Hãy trân-trọng thời-gian được
sống gần nhau, hãy tu-tâm
dưỡng-tánh khi mình còn sống chứ
đừng cầu vãng-sanh về ‘cõi Tây
Phương Cực Lạc.’
IV. Quan-Niệm Của Một Số Người
Về Việc Ma-Chay
Chính vì thấy sự phiền-hà khi
thân-nhân phải tổ-chức đám ma mà
rất nhiều người khi sắp chết họ
đã trối lại là không nên làm đám
ma linh-đình, miễn phúng-điếu,
miễn thăm-viếng. Họ không muốn
làm phiền ai và chỉ yêu-cầu
thân-nhân làm đám ma thật
đơn-giản mà thôi.
Một số người thì chú-trọng vào
việc ăn-ở tốt với nhau lúc còn
sống, sẵn-sàng giúp-đỡ nhau, và
sẵn-sàng lo sống chết cho nhau
trong mọi hoàn-cảnh. Sống sao
cho tình-nghĩa vẹn-toàn để khi
không còn có nhau nữa, họ không
có gì phải hối-tiếc. Đám ma lớn
nhỏ không thành vấn-đề nữa.
Phúng-điếu hay không cũng vậy.
Họ không vì người đã chết mà làm
phiền-hà người khác hay để cho
người ta kiếm ăn trên xác chết
của mình. Một số người khác tự
lo trước cho cái chết của mình
để khi nằm xuống họ không làm
phiền người nhà.
Có những người, vì lợi-ích chung
của nhân-loại, họ đã ký giấy
hiến thân-xác mình sau khi chết
cho các cơ-quan nghiên-cứu để
làm phương-tiện cho sinh-viên
trường thuốc học-hỏi. Ma-chay
trong trường-hợp này không thành
vấn-đề nữa. Không còn phải sợ
cảnh ‘ma chê cưới trách.’ Đây là
một hành-động thật là cao-thượng
và vị-tha. Thật đáng được
thán-phục! Có những người
thực-tế hơn đã làm điếu-văn cho
cha mẹ, vợ chồng, hay bạn-bè
ngay khi những người này còn
sống (sinh-điếu). Làm
‘sinh-điếu’ kiểu này thật là có
ý-nghĩa vì khi còn sống mà được
nghe thân-nhân hay bằng-hữu khóc
mình, ta mới thấy cảm-động và
thú-vị vô-cùng. Có những nhà thơ
đã làm điếu-văn khóc vợ lúc vợ
còn đang chung sống với mình.
Sau khi nghe bài sinh-điếu, có
bà đã khóc mùi-mẫn vì
sung-sướng. Thật là cảm-động một
cách chân-thành đầy ý-nghĩa và
tuyệt-vời.
V. Kết-Luận
Nếu khi chúng ta còn sống mà
không thăm-nom và săn-sóc nhau
thì những hành-động làm ma-chay
(lễ tống-táng người chết) cho
linh-đình, phúng-điếu, và
phân-ưu dành cho nhau khi có
người qua đời, tuy có cần-thiết,
nhưng vẫn mang tính-cách lừa-dối
người và lừa-dối chính bản-thân
ta, nó không có một chút ý-nghĩa
nào cả.
Hãy thăm-nom, săn-sóc, và
giúp-đỡ nhau lúc còn sống mới
thật là có ý-nghĩa và hữu-ích.
Có như thế thì việc làm ma-chay,
phúng-điếu, và phân-ưu mới có
ý-nghĩa. Chết là hết. Ta nên nhớ
rằng tất-cả những gì người sống
làm cho thân-nhân hay bạn-bè đã
qua đời chỉ vì những người còn
sống và giúp cho những người
sống yên lòng mà thôi.
Tuy-nhiên, ta vẫn phải làm đám
tang cho người qua đời, nhưng
chỉ nên làm giản-tiện và làm
những gì cần-thiết mà thôi.
Khải-Chính Phạm Kim-Thư |