|
Làm
Sao Cho Người Ta Ưa Mình Liền
Hôm nọ tôi lại sở bưu điện. Khi
đợi tới lượt tôi để thư bảo đảm,
tôi để ý tới bộ mặt chán chường
của thầy thư ký. Một cuộc đời
ngày ngày cân thư, bán cò, biên
chép như vậy tất nhiên là không
thú gì hết. Tôi tự nhủ: "Rán làm
vui anh chàng này một chút, làm
cho y nở một nụ cười... Muốn vậy,
phải khen y cái gì mới được. Thử
kiếm xem y có cái gì thật đáng
khen không?" . Không phải dễ, vì
mình không quen người Ta. Nhưng
trường hợp hôm đó rất dễ thầy
thư ký ấy có bộ tóc rất đẹp.
Vậy, trong khi thầy cân thư của
tôi, tôi nói: "Tôi ước ao có
được bộ tóc như thầy!".
Thầy ấy ngửng đầu lên hơi ngạc
nhiên, nét mặt tươi cười và nhũn
nhặn trả lời: "Bây giờ nó đã kém
trước rồi". Tôi nói rằng trước
ra sao không biết, chứ bây giờ
tóc thầy còn đẹp lắm. Thầy rất
hoan hỉ. Chúng tôi nói chuyện
vui vẻ một lúc. Khi tôi ra về,
thầy ấy nói thêm: "Thưa ông, quả
đã có Nhiều người khen tóc tôi".
Tôi dám cuộc với bạn rằng bữa đó
thầy về nhà, vui như sáo, kể
chuyện cho vợ nghe và buổi tối,
khi rửa mặt ngắm bộ tóc trong
gương, tự nhủ "Kể ra tóc mình
đẹp thật".
Khi tôi kể lại chuyện đó, một
người học trò tôi hỏi: "Nhưng
ông muốn cầu người đó điều chi?"
.
Tôi muốn cầu người đó điều chi
ư? Trời cao đất dầy! Nếu chúng
ta ích kỷ một cách ti tiện đến
nỗi không phân phát được một
chút hạnh phúc cho người chung
quanh, đến nỗi hễ khen ai là
cũng để hy vọng rút của người ta
các lợi gì, nếu tim ta không lớn
hơn trái ổi rừng, thì chúng ta
có thất bại cũng là đáng kiếp.
Nhưng quả tôi có cầu anh chàng
đó cho tôi một vật vô cùng quý
báu: là sự hài lòng cao thượng
vì đã có một hành vi hoàn toàn
không vị lợi, một hành vi nhân
từ mà ta sẽ vui vẻ nhớ tới hoài.
Có một định luật quan trọng nhất
mà chúng ta phải theo khi giao
thiệp. Theo nó thì việc gì cũng
hóa dễ, trở ngại gì cũng thắng
được, ta sẽ có vô số người
thương, sẽ thành công và vui
sướng.
Nếu làm trái luật đó tức thì
những nỗi khó khăn sẽ hiện ra.
Luật đó là: "Luôn luôn phải làm
cho người cảm thấy sự quan trọng
của họ". Như trên kia tôi đã nói,
giáo sư John Dewey cho rằng thị
dục huyễn ngã là thị dục mạnh
nhất của loài người. Chính thị
dục đó làm cho người khác loài
vật.
Trong mấy chục thế kỷ, các triết
nhân tìm kiếm các định luật chi
phối sự giao thiệp giữa người
với người và tất cả những sự tìm
tòi đó đều đưa đến mỗi một quy
tắc không mới mẻ gì, một quy tắc
đã có từ hồi nhân loại mới có sử.
Ba ngàn năm trước, Zoroastre đã
dạy quy tắc đó cho dân Ba Tư thờ
thần lửa. Hai mươi bốn thế kỷ
trước, Khổng Tử đã giảng tới nó.
Lão Tử cũng đã đem ra dạy học
trò.
Năm thế kỷ trước Thiên Chúa
giáng sinh, Đức Thích Ca đã
tuyên bố nó trên bờ sông Hằng Hà,
mà quy tắc đó đã được chép trong
sách đạo Bà La Môn, 1.000 năm
trước khi Đức Thích Ca ra đời.
Sau này, Đức Ki Tô đem nó ra
giảng trên những đồi đá ở xứ
Judée. Tư tưởng đó tóm tắc trong
một câu này, có lẽ là định luật
quan trọng nhất trong thế giới:
"Con muốn được người ta cư xử
với con ra sao thì con cư xử với
người ta như vậy".
Bạn muốn những người bạn gặp gỡ
đồng ý với bạn. Bạn muốn người
ta thừa nhận tài năng của bạn.
Tự thấy mình quan trọng trong
khu vực của Bạn, bạn thấy thích.
Bạn ghét những lời tán dương giả
dối thô lỗ, Nhưng bạn cũng thèm
khát những lời khen thành thật.
Bạn muốn bạn thân giao và bạn
đồng nghiệp cực lực tán thành,
không tiếc lời ca tụng bạn. Hết
thảy chúng ta ai cũng muốn như
vậy.
Vậy chúng ta hãy tuân lời Thánh
kinh: "Muốn nhận của người ta
cái gì thì cho người ta cái đó".
Ta cần phải xử sự như vậy khi
nào? Bằng cách nào? ... Ở đâu?
... Xin đáp: Bất kỳ lúc nào và
bất kỳ ở đâu.
Một hôm, tới một sở thông tin,
tôi hỏi một thầy ký chuyên môn
tiếp khách, Chỉ cho tôi phòng
làm việc của bạn tôi, ông Henri
Souvaine. Bận một chế phục sạch
sẽ, thầy ta có vẻ tự đắc giữ
việc chỉ dẫn đó lắm. Thầy trả
lời tôi rõ ràng từng tiếng một:
"Henri Souvaine lầu 18. Phòng
1816".
Tôi sắp chạy lại thang máy.
Nhưng tôi ngừng lại và quay lại
nói: "Tôi khen thầy. Thầy đã chỉ
đường cho tôi một cách rõ ràng,
thông minh lắm. Thầy có giọng
nói của một tài tử. Cái đó hiếm
lắm".
Tươi như hoa, thầy giảng cho tôi
nghe tại sao mỗi lần thầy ngừng
lại và nói rõ ràng từng tiếng.
Những lời tôi khen làm cho thầy
cao lên được vài phân. Và trong
khi bay lên tầng lầu Thứ 8, tôi
cảm thấy rằng chiều hôm đó tôi
đã làm tăng được đôi chút cái
tổng lượng hạnh phúc của nhân
loại.
Đừng bảo phải là một vương quốc
trên ngai vàng hay là một đại sứ
của Mỹ ở Pháp mới cần thi hành
triết lý đó. Bạn có thể dùng
thuật đó mỗi ngày.
Chẳng hạn, bạn đòi món khoai Tây
chiên mà chị bồi đưa lên món
khoai tây nghiền, bạn chỉ cần
nói ngọt ngào: "Tôi ân hận vì
làm phiền chị, nhưng tôi thích
món khoai Tây chiên hơn", thì
chị đó vui vẻ trả lời ngay: "Không
sao, thưa ông, Để tôi đổi hầu
ông", và chị ấy cảm động khi
thấy được bạn kính trọng.
Những câu ngăn ngắn như: "Xin
lỗi đã làm phiền ông... xin ông
có lòng tốt... ông làm ơn..." và
sau cùng không quên hai chữ "cám
ơn" là một thứ dầu làm trơn tru
bộ máy sinh hoạt hằng ngày của
ta mà lại là dấu hiệu của một sự
giáo dục tốt nữa.
Xin bạn nghe chuyện nhà viết
tiểu thuyết Hall Caine. Ông thân
ông làm thợ rèn và hồi nhỏ ông
học ít lắm. Vậy mà khi qua đời,
ông là một nhà văn giàu nhất thế
giới.
Chuyện đời ông như vầy: Ông
thích thơ của Dante Gabriel
Rossetti lắm. Ông diễn thuyết ca
tụng tác phẩm của thi nhân đó,
rồi chép bài diễn văn gởi biếu
thi nhân. Ông này thích lắm và
chắc tự nghĩ: "Người này trẻ
tuổi mà biết trọng tài ta như
vậy, tất phải là người thông
minh". Rồi Rossetti mời người
con một anh thợ rèn đó lại làm
thư ký cho ông. Nhờ địa vị mối
đó, Caine gặp được nhiều đ àn
anh trong văn đ àn, được họ
khuyên bảo khuyến khích, bắt đầu
viết văn và sau nổi danh tới nỗi
lâu đ ài ông ở tại cù lao Man đã
trở nên nơi chiêm bái của các
nhà du lịch, Và ông để lại một
gia tài là hai triệu năm trăm
ngàn đồng. Nếu ông không viết
bài khen ông Rossetti thì biết
đâu ông đã chẳng chết trong
nghèo nàn và không một ai biết
tới.
Đó cái mãnh lực phi thường của
lời khen là như vậy, khi nó tự
đáy lòng phát ra.
Thi nhân Rossetti tự cho là một
nhân vật quan trọng. Cái đó có
chi lạ? Ai trong chúng ta mà
không tự cho là quan trọng, tối
quan trọng?
Dân tộc cũng không khác chi cá
nhân hết.
Bạn tự thấy mình hơn người Nhật
ư? Sự thật thì người Nhật tự cho
họ hơn bạn vô cùng. Một người
trong phái cổ chẳng hạn, tức
giận lắm khi thấy một người đ àn
bà Nhật khiêu vũ với một người
da trắng.
Bạn có tự cho rằng mình hơn
người Ấn Độ không? Đó là quyền
của bạn. Nhưng có tới một triệu
người Ấn Độ khinh bạn tới nỗi
không chịu mó tới thức ăn mà
bóng nhơ nhớp của bạn đã phớt
qua, vì sợ lây nhơ nhớp.
Bạn tự cho là hơn những thổ dân
miền Bắc cực nhiều lần ư? Bạn
được hoàn toàn tự do nghĩ như
vậy. Nhưng sự thật thổ dân đó
khinh bạn vô cùng. Bạn muốn biết
lòng khinh đó tới bực nào? Thì
đây: Trong bọn họ, có kẻ khốn
nạn nào đần độn đến nỗi không
làm nổi một việc chi hết thì họ
gọi là "Đồ da trắng".
Đó là lời chửi thậm tệ nhất của
họ.
Dân tộc nào cũng tự cho mình hơn
các dân tộc khác. Do đó mà có
lòng ái quốc, và chiến tranh!
Chúng ta can đảm nhận kỹ chân lý
này: Mỗi người mà chúng ta gặp
đều coi có một chỗ nào hơn ta.
Nếu bạn muốn được lòng người đó,
hãy khéo léo tỏ cho họ thấy rằng
ta thành thật nhận sự quan trọng
của họ, trọng địa vị của họ.
Xin bạn nhớ lời này của Emerson:
"Mỗi người đều có chỗ hơn tôi;
cho nên ở gần họ, tôi học họ
được".
Điều đau lòng là nhiều khi những
kẻ không có chút chi đáng tự
kiêu hết lại khoe khoang rầm rộ
để che lấp những thiếu sót của
họ, khoe khoang tới nỗi chướng
tai gai mắt người khác.
Như Shakespeare đã nói: "Người
đời! Ôi người đời kêu căng khoác
được chút uy quyền, người đó
liền diễn trước hóa công những
hài kịch lố lăng tới nỗi các vị
thiên thần phải sa lệ".
Và bây giờ, tôi xin kể ba thí dụ
mà sự áp dụng những phương pháp
trên kia đã mang lại những kết
quả rất khả quan.
Thí dụ thứ nhất: Một ông đại
tụng mà ta gọi là R... vì ông ta
muốn giấu tên. Ít lâu sau khi
bắt đầu theo lớp giảng của tôi,
ông với vợ đi xe hơi về quê bà
để thăm họ hàng. Bà mắc đi thăm
những nơi khác, Cho nên một mình
ông hầu chuyện một bà cô bên nhà
vợ. Ông quyết thực hành ngay
những lý thuyết đã học được và
kiếm chung quanh ông xem có cái
gì có thể chân thành khen được
không.
Ông hỏi bà cô:
Thưa cô, nhà cô cất năm 1890?
Phải, chính năm đó.
Ông R. tiếp:
Coi nhà này cháu nhớ lại những
nơi cháu sanh trưởng.
Nhà đẹp quá!... rộng... kiểu rất
khéo... Bây giờ người ta không
biết xây nhà đẹp như vậy nữa.
Bà già nói:
Cháu nói có lý. Thanh niên bây
giờ không biết thế nào là một
ngôi nhà đẹp. Họ chỉ muốn có một
căn phố nhỏ, một máy lạnh, rồi
lái xe hơi, đi chơi phiếm.
Bằng một giọng cảm động, bà ôn
lại những kỷ niệm êm đềm hồi xưa:
"Nhà này là kết tinh của biết
bao nhiêu năm mơ tưởng. Dượng và
cô đã âu yếm mà xây dựng nó, sau
khi đã ấp ủ nó trong lòng gần
nửa đời người. Chính dượng và cô
là kiến trúc sư đó..".
Rồi bà dắt ông R. đi thăm các
phòng, chỉ cho coi từng bảo vật
bà đã góp nhặt được trong các
cuộc du lịch và đã nâng niu suốt
đời: Khăn quàng bằng hàng
Cachemire, đồ sứ cổ, giường ghế
đóng ở Pháp, bức tranh của họa
sĩ Ý Đại Lợi và những tấm màn
bằng tơ, di tích của một lâu Đ
ài bên Pháp... Nhất nhất ông R.
đều tán thưởng.
Sau khi coi hết các phòng rồi,
bà đưa tôi đi coi nhà để xe. Tại
đó, có kê một chiếc xe hơi hiệu
Packard, gần như mới nguyên.
Bằng một giọng êm đềm bà nói:
Dượng cháu mua chiếc xe này được
ít lâu thì mất, từ hồi đó cô
chưa đi nó lần nào hết...
Cháu sành và có óc thẩm mỹ... Cô
muốn cho cháu chiếc xe đấy.
Tôi ngạc nhiên đáp:
Thưa cô, cô thương cháu quá. Cô
rộng rãi quá, cháu cảm động lắm,
nhưng thật tình cháu không thể
nào nhận được. Cháu là cháu rể
xa. Vả lại cô còn nhiều Cháu
ruột, cô để cho các anh ấy các
anh ấy sẽ mừng lắm.
Bà la lên: "Cháu ruột! Phải, cái
thứ cháu nó chỉ mong già này
chết để chiếm xe hơi của già!
Không khi nào cô để xe Packard
này về tay chúng nó đâu!".
Vậy thì có thể đem bán cho hãng
xe được.
Bà lớn tiếng: "Bán ư? Cháu tưởng
cô bán xe này sao? Chịu thấy
những người lạ ngự trong chiếc
xe này sao? Một chiếc xe dượng
cháu mua cho cô, mà đem bán nó?
Không khi nào! Cô cho cháu đấy,
vì cháu biết yêu những đồ đẹp".
Từ chối thì sợ phật ý bà cô, cho
nên ông R. phải nhận.
Bà già đó sống một mình trong
dinh cơ rộng như vậy giữa đống
khăn quàng, Đồ cổ và kỷ niệm,
nên khát khao chút tình âu yếm.
Hồi xưa bà trẻ đẹp, được nhiều
người tâng bốc. Bà cất ngôi nhà
ấy, yêu mến trang hoàng nó bằng
tất cả những bảo vật thu thập
được ở châu Âu và bây giờ trong
cảnh về già buồn tẻ cô độc, bà
khát khao chút lòng thương, Chút
ấm áp trong lòng và ít lời thán
phục mà không có kẻ nào biết làm
vừa lòng bà hết. Khi gặp được
những cái ao ước từ lâu đó, khác
nào đi giữa sa mạc mà gặp dòng
suối, bà tất nhiên cảm tấm lòng
người cháu rể lắm và cho ngay
một chiếc xe hơi lộng lẫy.
Một người học trò khác của tôi,
vẽ vườn cho một ông trưởng tòa
có danh, thấy bầy chó của ông
này đẹp, khen: "Thưa ông, bầy
chó của ông ggộ lắm, chắc ông
được nhiều giải thưởng trong các
cuộc thi chó đẹp".
Ông trưởng tòa vui lòng lắm, dắt
họa sĩ đi coi bầy chó ông nuôi
và những giải thưởng chúng đã
kiếm được, nói chuyện rất lâu về
giòng giống các con chó đó và
sau cùng hỏi:
Ông có em trai nhỏ không?
Thưa, tôi Có một cháu trai.
Chắc nó thích một con chó nhỏ?
Nói chi nữa, chắc nó mê đi.
Được! Để tôi cho cháu một con.
Rồi ông trưởng tòa chỉ cho họa
sĩ cách nuôi chó, lại cẩn thận
đánh máy lên giấy, sợ ông này
không nhớ.
Thành thử ông trưởng tòa đó cho
họa sĩ một con chó đáng một trăm
Mỹ Kim Và bỏ ra một giờ quý báu
của ông chỉ vì họa sĩ đã thành
thật khen tài nuôi chó và bầy
chó của ông.
George Eastman vua phim Kodak,
đã chế ra thứ phim trong suốt để
chiếu bóng được và kiếm được cả
100 triệu mỹ kim, nổi tiếng khắp
hoàn cầu. Mặc dầu vậy, ông ấy
cũng như bạn và tôi, cảm động
trước những lời khen tầm thường
nhất.
Hồi đó, ông Eastman xây một
trường âm nhạc và một nhà hát để
báo hiếu cho mẹ. Ông Adamson,
Giám đốc một hãng đóng ghế quan
trọng, muốn được ông Eastman mua
ghế giúp để bày trong hai ngôi
nhà đó. Ông Adamson bèn dùng
điện thoại gọi viên kiến trúc sư
của ông Eastman để xin được hầu
chuyện ông Eastman.
Khi ông Adamson tới, viên kiến
trúc sư dặn: "Ông Eastman bận
việc lắm. Ông có muốn nói gì thì
nói mau đi rồi ra. Nếu ngồi lâu
quá năm phút thì đừng hy vọng gì
thành công hết".
Viên Kiến trúc sư dắt ông
Adamson vô phòng ông Eastman,
ông này đương cặm cụi trên bàn
giấy, một hồi lâu mới ngửng đầu
lên, tiến lại gần hai ông kia,
nói: "Chào hai ông, các ông có
việc chi?" .
Viên kiến trúc sư giới thiệu ông
Adamson rồi ông này nói:
Thưa ông Eatman, trong khi đứng
đợi, tôi ngắm phòng giấy ông.
Làm việc trong một phòng như
phòng này thực là một cái thú.
Hãng tôi cũng có làm những ván
lót tường. Nhưng tôi chưa thấy
phòng làm việc nào lót ván đẹp
bằng phòng này.
Ông Eatman:
"Ông làm tôi nhớ lại một điều mà
cơ hồ tôi quên mất. Phải, phòng
này đẹp thật. Hồi mới đầu tôi
thích nó lắm. Nhưng bây giờ tôi
quen rồi; với lại bận việc nhiều
quá, có khi hàng tuần không để ý
tới những trang hoàng đó".
Adamson đi thẳng lại những tấm
ván, lấy tay sờ.
Thứ này bằng cây sồi mọc bên Anh,
phải không ông? Hơi khác thứ sồi
mọc bên Ý.
Đúng vậy, ông Eatman trả lời.
Tôi chở nó từ bên Anh về. Một
ông bạn sành về các loài danh
mộc đã lựa giùm tôi.
Rồi ông Eatman chỉ cho ông
Adamson tất cả những đồ trang
hoàng trong phòng, chính do ông
chỉ bảo, sắp đặt. Hai người lại
đứng trước cửa sổ, ông Eatman
nhũn nhặn và kín đáo như thường
lệ, lấy tay chỉ những công cuộc
ông đã gầy dựng để cứu giúp nhân
loại. Ông Adamson nhiệt liệt
khen ông đã biết dùng tiền. Một
lúc sau, ông Eatman mở một tủ
kính, lấy ra một máy chụp hình
cái máy thứ nhất của ông, do một
người Anh bán cho ông.
Ông Adamson hỏi ông về những nỗi
khó khăn buổi đầu và ông cảm
động, Kể lể về cảnh nghèo khổ
của ông hồi nhỏ: bà mẹ góa, nấu
cơm cho khách trọ, còn ông thì
làm thư ký, sao khế ước cho một
sở bảo hiểm để kiếm mỗi ngày năm
cắc. Cảnh nghèo khổ ám ảnh ông
ngày đ êm, làm ông lo sợ lắm và
nhất quyết kiếm sao cho đủ số
tiền để bà cụ khỏi cảnh vất vả
không kể chết đó.
Thấy ông Adamson chăm chú nghe,
ông hăng hái tả những đ êm thí
nghiệm các tấm kính chụp hình,
sau khi đã vất vả ngày ở phòng
giấy, chỉ chợp mắt được một chút
trong khi đợi các chất hóa học
ngấm. Thành thử có lần luôn hai
mươi bảy giờ đồng hồ, ông không
có dịp thay quần áo.
Sau cùng ông nói:
"Lần du lịch cuối cùng qua Nhật
Bản, tôi có mua về một bộ ghế
bày trong hành lang nhà Tôi.
Nhưng nắng giọi làm lở sơn, nên
chính tay tôi phải sơn lại. Ông
có muốn biết tài sơn ghế của tôi
không? Trưa nay ông lại dùng bữa
với tôi, tôi chỉ cho ông coi".
Sau bữa ăn, ông Eatman dắt khách
đi xem ghế. Ghế xấu chỉ đáng một
đồng một ghế, nhưng ông Eatman
là người đã kiếm được cả trăm
triệu bạc, vinh hạnh khoe những
chiếc ghế đó lắm, vì chính tay
ông đã sơn nó.
Rốt cuộc, cái com măng ghế chín
vạn mỹ kim đó ai được lãnh, chắc
bạn đã hiểu. Và từ đó hai người
thành cặp tri kỷ cho tới ông
Eastman mất.
Cái ảo thuật của lời khen đó có
nên dùng trong gia đình không?
Tôi tưởng không có nơi nào người
ta cần dùng nó mà cũng xao nhãng
nó bằng trong gia đình.
Bà ở nhà chắc có ít nhiều tánh
tốt, ít nhất hồi xưa ông cũng
chỉ như vậy, nếu không, sao ông
cười bà? Nhưng đã bao lâu rồi
ông chưa hề khen bà một lời? Từ
hồi nào ư?
Bà Dorothy Dix, nổi danh Về
những câu chuyện hằng ngày, nói:
Chưa học nghệ thuật khen thì xin
ông đừng lập gia đình. Trước khi
cưới bà, ông làm vui bà là một
sự lịch thiệp, sau khi cưới rồi,
nó là một sự cần thiết và một
bảo đảm cho hạnh phúc trong gia
đình. Tình vợ chồng không cần
lòng thẳng thắn bằng sự khôn
khéo ngoại giao.
Nếu ông muốn mỗi bữa ăn thường
là một bữa tiệc thì xin ông đừng
bao giờ chê bà nhà là nấu nướng
vụng, đừng bao giờ bực mình mà
so sánh những món của bà làm với
những món của cụ bà làm hồi xưa.
Trái lại, Cứ khen không ngớt tài
quản gia của bà, cứ khen thẳng
ngay rằng bà hoàn toàn, đã duyên
dáng mặn mà, đủ công ngôn dung
hạnh lại còn là một nội trợ kiểu
mẫu nữa. Cả những khi cơm khê,
canh mặn, ông cũng không nên
phàn nàn. Chỉ nên nói rằng bữa
cơm lần đó không được nhận lời
khen đó, bà sẽ chẳng quản công
trong việc bếp nước. Phải khéo
léo, đừng khen bất ngờ quá cho
bà khỏi nghi.
Nhưng chiều nay hay chiều mai,
ông nên mua ít bông về biếu bà.
Đừng nói suông: "Phải, việc đó
nên làm", rồi để đó. Phải làm
ngay đi. Và xin ông nhớ kèm thêm
một nụ cười với vài lời âu yếm.
Nếu người chồng nào cũng đối đãi
với vợ cách đó thì đâu có nhiều
vụ ly dị như vậy?.
Bạn có muốn biết làm sao cho một
người đ àn bà mê bạn không? Cái
đó mới tài! Không phải bí quyết
của tôi đâu, mà của bà Dorothy
Dix. Một lần bà phỏng vấn một
anh chàng nổi tiếng có nhiều vợ,
đã chiếm được trái tim và cả vốn
liếng nữa của hai mươi ba người
đ àn bà. Tôi phải nói rằng bà
phỏng vấn anh chàng ấy ở trong
khám. Khi bà hỏi anh ta làm sao
mà dụ dỗ được nhiều đ àn bà như
vậy thì anh ta đáp: "Thằng khờ
nào mà chẳng làm được... Thì cứ
khen họ cho họ nghe".
Thuật đó dùng đối với đ àn ông
cũng có kết quả mỹ mãn.
Disareli, một trong những nhà
chính trị khôn khéo nhất đã nắm
vận mạng cả đế quốc Anh, có lần
nói: "Gặp một người cứ nói với
họ về chính thân họ, họ sẽ nghe
bạn hằng giờ".
Vậy muốn được thiện cảm của
người khác, xin bạn theo quy tắc
thứ sáu:
Làm sao cho họ thấy cái quan
trọng của họ.
Các bạn đọc tới đây đã nhiều
rồi. Xin gấp sách lại. Gạt tàn
thuốc trong ống điếu đi. Và ngay
từ bây giờ người đầu tiên lại
gần bạn cũng đem thí nghiệm vào
học thuật khen đó đi. Bạn sẽ
thấy thật là thần hiệu.
(còn tiếp) |