|
Tôi rất
lo lắng cho sức khoẻ của chồng
tôi. Chúng tôi kết hôn cách đây
đã hơn 10 năm. Sau khi cùng tốt
nghiệp Đại học ngân hàng, tôi về
làm việc tại ngân hàng còn anh
ấy công tác ở một kho bạc. Đến
nay chúng tôi đều đứng đầu một
bộ phận quan trọng trong cơ quan
của mình.
Kinh tế gia đình tôi khá ổn
định. Chúng tôi cũng đã có hai
cháu, một trai, một gái, đều khá
ngoan và chăm học. Chúng tôi
đang có một cuộc sống khá thoải
mái mà không phải ai cũng dễ
dàng đạt được. Chính vì vậy mà
tôi không thể hiểu nổi vì sao
chồng mình lại đam mê rượu chè
đến vậy. Hầu như ngày nào xong
việc anh ấy cũng đi nhậu nhẹt
với bạn bè. Hôm nào anh ấy về
nhà sớm nhất cũng phải 10h đêm.
Có đêm muộn thì đến tận 12h.
Nhiều lần tôi cố gắng thuyết
phục anh về sớm để gia đình có
bữa cơm tối sum họp đầm ấm. Các
con cũng cần được bố gần gũi
chăm sóc bảo ban. Anh ấy đồng ý
nhưng cứ khi anh về sớm thì bạn
bè lại không ngừng gọi điện đến
thúc giục, chèo kéo. Và cầm lòng
không được anh ấy lại dắt xe ra
đi.
Tôi biết rằng cứ kéo dài tình
trạng này không chỉ ảnh hưởng
đến sức khoẻ mà ngay cả hạnh
phúc gia đình tôi cũng bị đe
doạ. Xin hãy mách tôi cách kéo
anh ấy về lại với gia đình.
H.G
Trong khoảng 10 năm trở lại đây,
phong trào đi nhậu sau mỗi ngày
làm việc của các ông chồng rất
phổ biến. Nhiều người đi nhậu
không hẳn vì ham ăn uống mà thực
chất là thích được tụ tập với
bạn bè, thích không khí tự do
nơi quán xá. Kéo được các ông
chồng ra khỏi bàn nhậu về với
mâm cơm gia đình là điều mà bất
cứ bà vợ nào cũng mong muốn.
Cho chồng thấy anh ta còn quan
trọng
Khi cuộc sống tạm ổn định, những
nhu cầu thiết yếu về cơm áo gạo
tiền không còn thúc giục, người
đàn ông thường tự cho mình được
quyền thoải mái đôi chút và kết
quả là anh ta sẽ đến bàn nhậu
cùng đám bạn.
Những bà vợ cần biết tạo ra “hấp
lực” mạnh hơn bàn nhậu. Hãy
khuyến khích con cái gần gũi với
bố, bằng cách hỏi ý kiến, tâm sự
đòi được bố hướng dẫn tư vấn...
Để anh ấy nhận ra mình còn rất
quan trọng với các con và hơn
thế còn trách nhiệm quan tâm
nuôi dạy con cái.
Gợi mở những hướng mới
Khi sự nghiệp, tiền bạc đã đạt
được ít nhiều, người đàn ông
cũng không tránh khỏi có chút tự
mãn. Anh ta tự cho phép mình
thoải mái vui chơi. Và cũng một
phần vì anh ta không còn cảm
thấy có nhiều hứng thú để phấn
đấu trong công việc.
Hãy gợi mở cho anh ta những
nguồn cảm hứng mới như tặng
những quyển sách thuộc lĩnh vực
mà hồi trẻ anh ta ưa thích, gợi
ý để anh ấy có thể học thêm
ngoại ngữ, theo học khóa nâng
cao nghiệp vụ. Hãy cho anh ấy
thấy cuộc sống còn rất nhiều
điều thú vị ngoài việc vùi đầu
vào bàn nhậu
Đưa bàn nhậu... về nhà
Với đàn ông đã biết uống rượu
khó lòng có thể cách ly hoàn
toàn anh ta với cốc chén. Chính
vì vậy người vợ tâm lý có thể
ngâm cho chồng bình rượu ưa
thích, nấu các món ăn hợp khẩu
vị và thậm chí còn có thể mời
những người bạn thân thiết của
anh ta về nhà cùng chén chú chén
anh. Dù sao khi nhậu ở nhà bao
giờ cũng dễ kiểm soát tình hình
hơn là ngoài quán xá.
Người vợ cũng nên thể hiện rằng
mình không hoàn toàn phản đối
chuyện chồng uống rượu nhưng
điều quan trọng là phải biết
điểm dừng.
Thiên Lương
==Đọc suy:
Rita Levi Montalcini Nhà khoa
học đoạt giải Nobel thọ nhất
hành tinh
Tròn 100 tuổi nhưng nhà khoa học
người Italia từng đoạt giải
Nobel Y học Rita Levi Montalcini
vẫn còn rất nhanh nhẹn. Với dáng
vẻ rắn rỏi và sự minh mẫn lạ
thường khi bà xuất hiện trước
đám đông, bà khẳng định tuổi già
không hề bào mòn sức mạnh cống
hiến cho khoa học của bà.
Nữ tiến sĩ này cùng với nhà khoa
học người Mỹ Stanley Cohen đã
giành được giải thưởng Nobel Y
khoa năm 1986 nhờ những khám phá
về cơ chế vận hành sự phát triển
của tế bào và các cơ quan nội
tạng. Hiện bà vẫn giữ danh hiệu
thượng nghị sĩ suốt đời của
Italia.
“Đừng sợ những giây phút khó
khăn. Những điều tốt đẹp nhất
luôn sinh ra chính từ sự khó
khăn ấy”, nhà khoa học danh
tiếng của Italia tâm sự.
Bà sinh ra trong một gia đình
người Italia gốc Do Thái ở thành
phố Turin, miền Bắc Italia. Sau
khi chứng kiến gia đình của một
người bạn thân chết vì ung thư,
bà quyết định theo học Trường Y
Turin vào năm 1930 dù gia đình
phản đối. Sau khi tốt nghiệp năm
1936, bà đối mặt với bao khó
khăn khi bị buộc phải rời công
việc nghiên cứu ở trường đại học
trở về nhà do luật lệ khắt khe
của nhà độc tài Benito Mussolini
với chính sách kỳ thị chủng tộc,
chống người Do Thái.
Bà đã trải qua thời gian vô cùng
khó khăn trong Chiến tranh thế
giới thứ hai do phải di chuyển
nhiều nơi để tránh bom đạn. Tuy
nhiên, trong thời gian này, bà
đã xây dựng một phòng nghiên cứu
nhỏ với máy móc được trang bị
ngay trong phòng ngủ của mình.
Bà cũng đã tiến hành nhiều thí
nghiệm nhưng chỉ đến khi chiến
tranh kết thúc, bà chuyển đến
làm việc tại phòng thí nghiệm
của Viktor Hamburger, bà thực
hiện lại những thí nghiệm của
mình trước đây và đã có những
khám phá quan trọng về các yếu
tố tăng trưởng như yếu tố thần
kinh tăng trưởng (nerve growth
factor - NGF) và yếu tố biểu bì
tăng trưởng (epidermal growth
factor - EGF).
Những khám phá này của bà cùng
cộng sự là Stanly Cohen đã mở ra
hướng nghiên cứu mới về nhiều
lĩnh vực có tầm quan trọng lớn
đối với ngành khoa học cơ bản,
đồng thời giúp chúng ta hiểu
biết thêm về nhiều loại bệnh tật
phát sinh như: Dị tật, thoái hóa
gen ở người cao tuổi, làm chậm
quá trình lành vết thương và các
căn bệnh liên quan đến ung bướu.
Vì vậy, đặc điểm của những yếu
tố tăng trưởng được kỳ vọng
trong một tương lai gần sẽ góp
phần đưa ra tác nhân điều trị
mới và cải tiến phương pháp điều
trị nhiều bệnh truyền nhiễm.
Bà đã được nhận Giải thưởng
Nobel Y học năm 1986 cùng Stanly
Cohen cho những khám phá mới của
mình về yếu tố tăng trưởng. Bà
đã khám phá ra vai trò của NGF
trong sự phát triển của hệ thống
thần kinh cũng như trong chức
năng thần kinh của người trưởng
thành.
Năm 1952, bà đã chứng minh rằng,
khi các khối u từ chuột được
truyền sang phôi của chim đã tạo
ra hiệu lực tăng trưởng cho hệ
thống thần kinh của nó, cụ thể
là các dây thần kinh giác quan
và giao cảm. Bà kết luận khối u
đó đã tạo ra một nhân tố thúc
đẩy hệ thống thần kinh phát
triển.
Tiếp theo khám phá này, bà đã
chuyển qua nghiên cứu về hệ
thống thần kinh giao thoa mang
tính nhạy cảm hơn nhằm theo dõi
hoạt động của NGF trong nhiều
giai đoạn. NGF được chứng minh
là một dạng vật chất sinh học có
hiệu lực rất lớn. Một tế bào
thần kinh giác quan có thể phản
ứng trong vòng 30 giây đối với
số lượng các NGF. Một phần tỷ
gam NGF trên một ml hoạt hóa
trung bình được sử dụng trong
nhân tố thúc đẩy tăng tưởng. Sau
một vài phút bổ sung NGF, các
dây thần kinh bắt đầu mọc ra từ
trung tâm sau một ngày tiếp cận
NGF tương tự như một mặt trời
được bao quanh bởi các tia. Thí
nghiệm sinh học khám phá NGF này
đã mở đường cho bước tiếp theo
trong việc xác định nhân tố vật
chất tích cực thúc đẩy tăng
trưởng thần kinh.
Song song với thời gian nghiên
cứu về NGF, bà đã cùng Stanly
Cohen tiếp tục nghiên cứu về
EGF. Họ đã thực hiện tiêm hóa
chất vào tuyến nước bọt của
những chú chuột mới sinh và
nghiên cứu sự phát triển đáng
ngạc nhiên của chúng. Những con
chuột này mở mắt và mọc răng sớm
hơn bình thường.
Giải thích cho điều này chính là
hóa chất trong tuyến nước bọt
bao gồm một phần yếu tố tăng
trưởng từ EGF, nó có thể kích
thích sự sinh sôi nảy nở của
biểu mô tế bào ở da và giác mạc.
Trong những năm tiếp theo, họ
lại tiếp tục nghiên cứu và đã
tinh chế cũng như xác định được
chuỗi acid amin của EGF. Đây là
lần đầu tiên các nhà khoa học có
được một nhân tố có khả năng
thúc đẩy sự tăng trưởng tế bào
và cho phép các nghiên cứu về
tiến trình tăng trưởng. EGF tăng
cường một loạt các sự kiện bao
gồm kích thích glucose và chuyển
đổi acid amin, hoạt hóa protein
và khởi đầu chuỗi ADN tái tạo
lại tế bào.
Trong những nghiên cứu sau này,
bà chỉ ra rằng EGF kích thích sự
tăng trưởng của nhiều dạng tế
bào bao gồm nguyên bào sợi, tế
bào gan, tế bào máu cũng như tế
bào tuyến nội tiết, tuyến giáp,
buồng trứng và tuyến yên. Đến
nay cấu trúc NGF và EGF ở người
đã được chứng minh và sự tái tổ
hợp NGF và EGF của con người
được tạo ra bởi DNA. Điều đó đã
mở ra hướng cho việc dùng NGF và
EGF trong thuốc điều trị.
Sự thiếu hụt hay quá nhiều những
yếu tố tăng trưởng này có thể là
một vấn đề quan trọng trong cơ
chế bệnh sinh của dị tật và sự
sai lệch trong quá trình phát
triển, sự thoái hóa chuyển đổi
thành sự phục hồi không hoàn
chỉnh, trì hoãn sự lên da non
của vết thương và bệnh về khối
u.
Vai trò của NGF trong những bệnh
về hệ thống thần kinh trung ương
như chứng lão suy ở người cao
tuổi hay có thể sử dụng NGF sau
khi phá hủy thần kinh ngoại biên
hiện nay đã được khám phá. Sự
ứng dụng EGF đã thật sự làm nổi
bật giá trị của nó trong việc
làm da nhanh liền hơn và nó có
thể được sử dụng nhiều trong
điều trị bỏng.
GIA KHANH (Tổng hợp)
===
Tình bạn giúp chúng ta sống lâu
hơn
Với mong muốn có được cuộc sống
khỏe mạnh, nhiều người không
ngần ngại đến gặp bác sĩ, đọc
sách bí kíp sống lâu hay chi
tiền cho những món dược thảo quý
hiếm. Nhưng họ lại xem thường
một thứ vũ khí lợi hại có thể
giúp họ chiến đấu với bệnh tật
và suy nhược, phục hồi nhanh
chóng sau đau ốm, làm chậm quá
trình lão hóa và kéo dài tuổi
thọ: Những người bạn của chính
họ!
Hiện tại các nhà nghiên cứu mới
chỉ bắt đầu quan tâm tới tầm
quan trọng của tình bạn cũng như
các mối quan hệ xã hội đối với
sức khỏe nói chung. Một nghiên
cứu được tiến hành trong 10 năm
tại Australia đã chỉ ra rằng
những người già có nhiều bạn bè
xung quanh sẽ giảm được 22% nguy
cơ tử vong so với những người ít
bạn. Một nghiên cứu lớn năm 2007
cho thấy những người có nhiều
bạn bè tăng cân sẽ có nguy cơ bị
béo phì cao hơn 60% so với thông
thường. Và năm ngoái, nhóm
nghiên cứu của trường Đại học
Havard đã báo cáo rằng quan hệ
xã hội tích cực sẽ tăng cường
sức khỏe trí não khi chúng ta
đương đầu với tuổi già.
“Nhìn chung, vai trò của tình
bạn trong đời sống chưa thực sự
được đánh giá cao,” Rebecca G.
Adams, giảng viên ngành xã hội
học tại Đại học Greensboro, Bắc
Corolina, cho biết. “Người ta
quan tâm rất nhiều tới gia đình
và hôn nhân, nhưng chẳng mấy
quan tâm nghiên cứu về tình bạn.
Điều này khiến tôi khó hiểu.
Thực tế, tình bạn có tác dụng
tới sức khỏe tinh thần nhiều hơn
các mối quan hệ gia đình.”
Trong cuốn sách mới có tiêu đề
“Những cô gái đến từ Ames: Câu
chuyện về những người phụ nữ và
tình bạn 40 năm” (nhà xuất bản
Gotham), Jeffrey Zaslow kể
chuyện về 11 người bạn thời niên
thiếu cùng sống ở Iowa và sau
này chuyển tới 8 bang khác nhau.
Nhưng bất kể xa cách, tình bạn
của họ vẫn bền chặt qua thời đại
học, qua hôn nhân, ly dị và
nhiều khủng hoảng khác, kể cả
cái chết ở tuổi 20 của một người
trong nhóm.
Với việc sử dụng những cuốn vở
rời, những album ảnh và hồi ức
của chính các thành viên, Zaslow
đã ghi lại tình bạn bền chặt làm
nên cuộc sống của họ như thế nào
và tiếp tục duy trì cuộc sống ấy
ra sao. Vai trò của tình bạn đối
với sức khỏe và thể trạng của họ
đã được chứng minh qua từng
chương sách.
Hai trong số những người bạn vừa
phát hiện ra họ bị ung thư vú.
Kelly Zwagerman, hiện là một
giáo viên trung học ở
Northfield, Minn., kể rằng khi
bà nhận được chẩn đoán tháng 9
năm 2007, bác sĩ đã khuyên bà
nên vui vầy cùng những người
thân yêu. Và bà đã tìm đến những
người bạn từ thời niên thiếu,
dẫu họ sống cách xa bà.
“Người đầu tiên tôi kể cho nghe
là những người bạn cùng đến từ
Ames xưa kia,” bà nói trong một
lần phỏng vấn. “Tôi gửi email
cho họ. Và ngay lập tức, tôi
nhận được những email, cuộc gọi
và tin nhắn động viên. Ngay tức
khắc, tôi đã nhận được những
tình cảm dạt dào từ mỗi người
trong nhóm.”
Khi bà than thở rằng việc điều
trị làm họng bị đau, một người
bạn xứ Ames gửi cho bà một chiếc
máy làm bánh cùng sách hướng dẫn
cách làm. Một người khác, dù con
gái đã mất vì bệnh bạch cầu, gửi
cho bà một chiếc mũ đan tay vì
biết rằng đầu bà sẽ rất lạnh khi
không có tóc che phủ; và thêm
một người nữa gửi tới một bộ
pajama làm từ chất liệu đặc biệt
chống mồ hôi đêm.
Zwagerman nói bà thường cảm thấy
thoải mái tâm sự về bệnh tình
của mình với những người bạn hơn
là với bác sĩ. “Chúng tôi nói
chuyện lan man tới bất kì chủ đề
nào trên thế giới này,” bà nói.
Zwagerman cho rằng những người
bạn từ Ames là một yếu tố vô
cùng quan trọng trong quá trình
điều trị và phục hồi của bà, các
nghiên cứu đã chứng minh rằng
lời bà đúng. Năm 2006, một
nghiên cứu được tiến hành trên
gần 3000 y tá điều trị ung thư
vú đã chỉ ra rằng những phụ nữ
ko có bạn bè thân thiết có nguy
cơ tử vong cao gấp 4 lần so với
những phụ nữ có từ 10 người bạn
trở lên. Và đáng chú ý là, việc
những người bạn có mặt bên cạnh
hay số lần liên lạc không liên
quan tới việc kéo dài tuổi thọ.
Bệnh nhân chỉ cần có bạn, đơn
giản là vậy.
Bella DePaulo, một giảng viên
tâm lý tại trường California,
Santa Barbara, người chuyên
nghiên cứu về những người độc
thân với tình bạn, chỉ ra rằng
trong rất nhiều trường hợp, tình
bạn thậm chí có ảnh hưởng tốt
tới sức khỏe hơn cả một người
chồng/ vợ hay các thành viên
trong gia đình. Trong nghiên cứu
về ung thư vú với sự tham gia
của các y tá nói trên, việc có
một người chồng/ vợ không ảnh
hưởng gì tới khả năng sống sót.
Rất nhiền nghiên cứu về tình bạn
tập trung vào mối quan hệ sâu
sắc giữa những người bạn gái,
trong khi đó, một vài nghiên cứu
cũng chỉ ra rằng nam giới cũng
có lợi từ những tình bạn. Trong
một nghiên cứu kéo dài 6 năm
tiến hành trên 736 người đàn ông
Thụy Sĩ tuổi trung niên, việc có
một người bạn đời không làm thay
đổi nguy cơ đau tim và động mạch
vành, nhưng việc có những người
bạn chắc chắn lại có ảnh hưởng.
Hút thuốc lá và thiếu các mối
quan hệ xã hội là 2 yếu tố nguy
hiểm hàng đầu.
Thực sự vẫn chưa có câu trả lời
rõ ràng để giải thích tại sao
tinh bạn lại có những ảnh hưởng
to lớn đến vậy. Tất nhiên những
người bạn có thể làm các việc
lặt vặt và mua thuốc giúp người
ốm, nhưng ý nghĩa của những
người bạn vượt xa ra khỏi sự trợ
giúp vật chất; trên thực tế,
việc có mặt bên người ốm không
thực sự là một yếu tố hỗ trợ.
Cũng có lẽ những người có nhiều
mối quan hệ bạn bè sẽ tiếp cận
tốt hơn với việc chăm sóc và các
dịch vụ sức khỏe. Nhưng hơn thế,
tình bạn rõ ràng còn có ý nghĩa
to lớn về mặt tâm lý. Người có
tình bạn đẹp sẽ ít có nguy cơ bị
cảm lạnh, có lẽ vì họ ít bị
stress hơn.
Năm ngoái, người ta đã tiến hành
một thí nghiệm với 34 sinh viên
của trường Đại học Virginia bằng
cách đưa họ tới chân một quả đồi
dốc và đeo trên lưng họ những ba
lô nặng. Họ được yêu cầu ước
lượng độ dốc của quả đồi. Một
vài sinh viên đứng cạnh bạn mình
trong suốt thí nghiệm, những
người khác được bố trí đứng một
mình.
Những sinh viên đứng cùng bạn đã
đưa ra mức dự đoán thấp hơn về
độ dốc của quả đồi. Và những
người bạn bên cạnh càng thân
thiết bao nhiêu, thì người sinh
viên càng ước chừng quả đồi ít
dốc bấy nhiêu.
“Những người có bạn bè cảm thấy
họ có ai đó để hướng tới và
trông cậy”, Karen A. Roberto,
giám đốc một trung tâm lão khoa
tại Virginia phát biểu. “Tình
bạn là một tài nguyên bị đánh
giá thấp. Và thông điệp mạnh mẽ
của tất cả những nghiên cứu này
là:
những người bạn giúp cuộc sống
của bạn tốt đẹp hơn."
(G2V Star - Theo The New York
Times) |