Thoi-Nay - Giai Tri va Doi Song

Trang chính
Tâm tình bạn đọc

Mục lục

Hỏi đáp

Tâm tình

Tâm tình bạn đọc - Đọc & Suy nghĩ. Phụ trách TN.
5/2009.
 

Kéo chồng ra khỏi bàn nhậu

Tôi rất lo lắng cho sức khoẻ của chồng tôi. Chúng tôi kết hôn cách đây đã hơn 10 năm. Sau khi cùng tốt nghiệp Đại học ngân hàng, tôi về làm việc tại ngân hàng còn anh ấy công tác ở một kho bạc. Đến nay chúng tôi đều đứng đầu một bộ phận quan trọng trong cơ quan của mình.

Kinh tế gia đình tôi khá ổn định. Chúng tôi cũng đã có hai cháu, một trai, một gái, đều khá ngoan và chăm học. Chúng tôi đang có một cuộc sống khá thoải mái mà không phải ai cũng dễ dàng đạt được. Chính vì vậy mà tôi không thể hiểu nổi vì sao chồng mình lại đam mê rượu chè đến vậy. Hầu như ngày nào xong việc anh ấy cũng đi nhậu nhẹt với bạn bè. Hôm nào anh ấy về nhà sớm nhất cũng phải 10h đêm. Có đêm muộn thì đến tận 12h.

Nhiều lần tôi cố gắng thuyết phục anh về sớm để gia đình có bữa cơm tối sum họp đầm ấm. Các con cũng cần được bố gần gũi chăm sóc bảo ban. Anh ấy đồng ý nhưng cứ khi anh về sớm thì bạn bè lại không ngừng gọi điện đến thúc giục, chèo kéo. Và cầm lòng không được anh ấy lại dắt xe ra đi.

Tôi biết rằng cứ kéo dài tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khoẻ mà ngay cả hạnh phúc gia đình tôi cũng bị đe doạ. Xin hãy mách tôi cách kéo anh ấy về lại với gia đình.

H.G


Trong khoảng 10 năm trở lại đây, phong trào đi nhậu sau mỗi ngày làm việc của các ông chồng rất phổ biến. Nhiều người đi nhậu không hẳn vì ham ăn uống mà thực chất là thích được tụ tập với bạn bè, thích không khí tự do nơi quán xá. Kéo được các ông chồng ra khỏi bàn nhậu về với mâm cơm gia đình là điều mà bất cứ bà vợ nào cũng mong muốn.

Cho chồng thấy anh ta còn quan trọng

Khi cuộc sống tạm ổn định, những nhu cầu thiết yếu về cơm áo gạo tiền không còn thúc giục, người đàn ông thường tự cho mình được quyền thoải mái đôi chút và kết quả là anh ta sẽ đến bàn nhậu cùng đám bạn.

Những bà vợ cần biết tạo ra “hấp lực” mạnh hơn bàn nhậu. Hãy khuyến khích con cái gần gũi với bố, bằng cách hỏi ý kiến, tâm sự đòi được bố hướng dẫn tư vấn... Để anh ấy nhận ra mình còn rất quan trọng với các con và hơn thế còn trách nhiệm quan tâm nuôi dạy con cái.

Gợi mở những hướng mới

Khi sự nghiệp, tiền bạc đã đạt được ít nhiều, người đàn ông cũng không tránh khỏi có chút tự mãn. Anh ta tự cho phép mình thoải mái vui chơi. Và cũng một phần vì anh ta không còn cảm thấy có nhiều hứng thú để phấn đấu trong công việc.

Hãy gợi mở cho anh ta những nguồn cảm hứng mới như tặng những quyển sách thuộc lĩnh vực mà hồi trẻ anh ta ưa thích, gợi ý để anh ấy có thể học thêm ngoại ngữ, theo học khóa nâng cao nghiệp vụ. Hãy cho anh ấy thấy cuộc sống còn rất nhiều điều thú vị ngoài việc vùi đầu vào bàn nhậu

Đưa bàn nhậu... về nhà

Với đàn ông đã biết uống rượu khó lòng có thể cách ly hoàn toàn anh ta với cốc chén. Chính vì vậy người vợ tâm lý có thể ngâm cho chồng bình rượu ưa thích, nấu các món ăn hợp khẩu vị và thậm chí còn có thể mời những người bạn thân thiết của anh ta về nhà cùng chén chú chén anh. Dù sao khi nhậu ở nhà bao giờ cũng dễ kiểm soát tình hình hơn là ngoài quán xá.

Người vợ cũng nên thể hiện rằng mình không hoàn toàn phản đối chuyện chồng uống rượu nhưng điều quan trọng là phải biết điểm dừng.


Thiên Lương

==Đọc suy:

Rita Levi Montalcini Nhà khoa học đoạt giải Nobel thọ nhất hành tinh

Tròn 100 tuổi nhưng nhà khoa học người Italia từng đoạt giải Nobel Y học Rita Levi Montalcini vẫn còn rất nhanh nhẹn. Với dáng vẻ rắn rỏi và sự minh mẫn lạ thường khi bà xuất hiện trước đám đông, bà khẳng định tuổi già không hề bào mòn sức mạnh cống hiến cho khoa học của bà.

Nữ tiến sĩ này cùng với nhà khoa học người Mỹ Stanley Cohen đã giành được giải thưởng Nobel Y khoa năm 1986 nhờ những khám phá về cơ chế vận hành sự phát triển của tế bào và các cơ quan nội tạng. Hiện bà vẫn giữ danh hiệu thượng nghị sĩ suốt đời của Italia.

“Đừng sợ những giây phút khó khăn. Những điều tốt đẹp nhất luôn sinh ra chính từ sự khó khăn ấy”, nhà khoa học danh tiếng của Italia tâm sự.

Bà sinh ra trong một gia đình người Italia gốc Do Thái ở thành phố Turin, miền Bắc Italia. Sau khi chứng kiến gia đình của một người bạn thân chết vì ung thư, bà quyết định theo học Trường Y Turin vào năm 1930 dù gia đình phản đối. Sau khi tốt nghiệp năm 1936, bà đối mặt với bao khó khăn khi bị buộc phải rời công việc nghiên cứu ở trường đại học trở về nhà do luật lệ khắt khe của nhà độc tài Benito Mussolini với chính sách kỳ thị chủng tộc, chống người Do Thái.

Bà đã trải qua thời gian vô cùng khó khăn trong Chiến tranh thế giới thứ hai do phải di chuyển nhiều nơi để tránh bom đạn. Tuy nhiên, trong thời gian này, bà đã xây dựng một phòng nghiên cứu nhỏ với máy móc được trang bị ngay trong phòng ngủ của mình. Bà cũng đã tiến hành nhiều thí nghiệm nhưng chỉ đến khi chiến tranh kết thúc, bà chuyển đến làm việc tại phòng thí nghiệm của Viktor Hamburger, bà thực hiện lại những thí nghiệm của mình trước đây và đã có những khám phá quan trọng về các yếu tố tăng trưởng như yếu tố thần kinh tăng trưởng (nerve growth factor - NGF) và yếu tố biểu bì tăng trưởng (epidermal growth factor - EGF).

Những khám phá này của bà cùng cộng sự là Stanly Cohen đã mở ra hướng nghiên cứu mới về nhiều lĩnh vực có tầm quan trọng lớn đối với ngành khoa học cơ bản, đồng thời giúp chúng ta hiểu biết thêm về nhiều loại bệnh tật phát sinh như: Dị tật, thoái hóa gen ở người cao tuổi, làm chậm quá trình lành vết thương và các căn bệnh liên quan đến ung bướu. Vì vậy, đặc điểm của những yếu tố tăng trưởng được kỳ vọng trong một tương lai gần sẽ góp phần đưa ra tác nhân điều trị mới và cải tiến phương pháp điều trị nhiều bệnh truyền nhiễm.

Bà đã được nhận Giải thưởng Nobel Y học năm 1986 cùng Stanly Cohen cho những khám phá mới của mình về yếu tố tăng trưởng. Bà đã khám phá ra vai trò của NGF trong sự phát triển của hệ thống thần kinh cũng như trong chức năng thần kinh của người trưởng thành.

Năm 1952, bà đã chứng minh rằng, khi các khối u từ chuột được truyền sang phôi của chim đã tạo ra hiệu lực tăng trưởng cho hệ thống thần kinh của nó, cụ thể là các dây thần kinh giác quan và giao cảm. Bà kết luận khối u đó đã tạo ra một nhân tố thúc đẩy hệ thống thần kinh phát triển.

Tiếp theo khám phá này, bà đã chuyển qua nghiên cứu về hệ thống thần kinh giao thoa mang tính nhạy cảm hơn nhằm theo dõi hoạt động của NGF trong nhiều giai đoạn. NGF được chứng minh là một dạng vật chất sinh học có hiệu lực rất lớn. Một tế bào thần kinh giác quan có thể phản ứng trong vòng 30 giây đối với số lượng các NGF. Một phần tỷ gam NGF trên một ml hoạt hóa trung bình được sử dụng trong nhân tố thúc đẩy tăng tưởng. Sau một vài phút bổ sung NGF, các dây thần kinh bắt đầu mọc ra từ trung tâm sau một ngày tiếp cận NGF tương tự như một mặt trời được bao quanh bởi các tia. Thí nghiệm sinh học khám phá NGF này đã mở đường cho bước tiếp theo trong việc xác định nhân tố vật chất tích cực thúc đẩy tăng trưởng thần kinh.

Song song với thời gian nghiên cứu về NGF, bà đã cùng Stanly Cohen tiếp tục nghiên cứu về EGF. Họ đã thực hiện tiêm hóa chất vào tuyến nước bọt của những chú chuột mới sinh và nghiên cứu sự phát triển đáng ngạc nhiên của chúng. Những con chuột này mở mắt và mọc răng sớm hơn bình thường.

Giải thích cho điều này chính là hóa chất trong tuyến nước bọt bao gồm một phần yếu tố tăng trưởng từ EGF, nó có thể kích thích sự sinh sôi nảy nở của biểu mô tế bào ở da và giác mạc.

Trong những năm tiếp theo, họ lại tiếp tục nghiên cứu và đã tinh chế cũng như xác định được chuỗi acid amin của EGF. Đây là lần đầu tiên các nhà khoa học có được một nhân tố có khả năng thúc đẩy sự tăng trưởng tế bào và cho phép các nghiên cứu về tiến trình tăng trưởng. EGF tăng cường một loạt các sự kiện bao gồm kích thích glucose và chuyển đổi acid amin, hoạt hóa protein và khởi đầu chuỗi ADN tái tạo lại tế bào.

Trong những nghiên cứu sau này, bà chỉ ra rằng EGF kích thích sự tăng trưởng của nhiều dạng tế bào bao gồm nguyên bào sợi, tế bào gan, tế bào máu cũng như tế bào tuyến nội tiết, tuyến giáp, buồng trứng và tuyến yên. Đến nay cấu trúc NGF và EGF ở người đã được chứng minh và sự tái tổ hợp NGF và EGF của con người được tạo ra bởi DNA. Điều đó đã mở ra hướng cho việc dùng NGF và EGF trong thuốc điều trị.

Sự thiếu hụt hay quá nhiều những yếu tố tăng trưởng này có thể là một vấn đề quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của dị tật và sự sai lệch trong quá trình phát triển, sự thoái hóa chuyển đổi thành sự phục hồi không hoàn chỉnh, trì hoãn sự lên da non của vết thương và bệnh về khối u.

Vai trò của NGF trong những bệnh về hệ thống thần kinh trung ương như chứng lão suy ở người cao tuổi hay có thể sử dụng NGF sau khi phá hủy thần kinh ngoại biên hiện nay đã được khám phá. Sự ứng dụng EGF đã thật sự làm nổi bật giá trị của nó trong việc làm da nhanh liền hơn và nó có thể được sử dụng nhiều trong điều trị bỏng.


GIA KHANH (Tổng hợp)

===

Tình bạn giúp chúng ta sống lâu hơn


Với mong muốn có được cuộc sống khỏe mạnh, nhiều người không ngần ngại đến gặp bác sĩ, đọc sách bí kíp sống lâu hay chi tiền cho những món dược thảo quý hiếm. Nhưng họ lại xem thường một thứ vũ khí lợi hại có thể giúp họ chiến đấu với bệnh tật và suy nhược, phục hồi nhanh chóng sau đau ốm, làm chậm quá trình lão hóa và kéo dài tuổi thọ: Những người bạn của chính họ!

Hiện tại các nhà nghiên cứu mới chỉ bắt đầu quan tâm tới tầm quan trọng của tình bạn cũng như các mối quan hệ xã hội đối với sức khỏe nói chung. Một nghiên cứu được tiến hành trong 10 năm tại Australia đã chỉ ra rằng những người già có nhiều bạn bè xung quanh sẽ giảm được 22% nguy cơ tử vong so với những người ít bạn. Một nghiên cứu lớn năm 2007 cho thấy những người có nhiều bạn bè tăng cân sẽ có nguy cơ bị béo phì cao hơn 60% so với thông thường. Và năm ngoái, nhóm nghiên cứu của trường Đại học Havard đã báo cáo rằng quan hệ xã hội tích cực sẽ tăng cường sức khỏe trí não khi chúng ta đương đầu với tuổi già.

“Nhìn chung, vai trò của tình bạn trong đời sống chưa thực sự được đánh giá cao,” Rebecca G. Adams, giảng viên ngành xã hội học tại Đại học Greensboro, Bắc Corolina, cho biết. “Người ta quan tâm rất nhiều tới gia đình và hôn nhân, nhưng chẳng mấy quan tâm nghiên cứu về tình bạn. Điều này khiến tôi khó hiểu. Thực tế, tình bạn có tác dụng tới sức khỏe tinh thần nhiều hơn các mối quan hệ gia đình.”

Trong cuốn sách mới có tiêu đề “Những cô gái đến từ Ames: Câu chuyện về những người phụ nữ và tình bạn 40 năm” (nhà xuất bản Gotham), Jeffrey Zaslow kể chuyện về 11 người bạn thời niên thiếu cùng sống ở Iowa và sau này chuyển tới 8 bang khác nhau. Nhưng bất kể xa cách, tình bạn của họ vẫn bền chặt qua thời đại học, qua hôn nhân, ly dị và nhiều khủng hoảng khác, kể cả cái chết ở tuổi 20 của một người trong nhóm.



Với việc sử dụng những cuốn vở rời, những album ảnh và hồi ức của chính các thành viên, Zaslow đã ghi lại tình bạn bền chặt làm nên cuộc sống của họ như thế nào và tiếp tục duy trì cuộc sống ấy ra sao. Vai trò của tình bạn đối với sức khỏe và thể trạng của họ đã được chứng minh qua từng chương sách.

Hai trong số những người bạn vừa phát hiện ra họ bị ung thư vú. Kelly Zwagerman, hiện là một giáo viên trung học ở Northfield, Minn., kể rằng khi bà nhận được chẩn đoán tháng 9 năm 2007, bác sĩ đã khuyên bà nên vui vầy cùng những người thân yêu. Và bà đã tìm đến những người bạn từ thời niên thiếu, dẫu họ sống cách xa bà.

“Người đầu tiên tôi kể cho nghe là những người bạn cùng đến từ Ames xưa kia,” bà nói trong một lần phỏng vấn. “Tôi gửi email cho họ. Và ngay lập tức, tôi nhận được những email, cuộc gọi và tin nhắn động viên. Ngay tức khắc, tôi đã nhận được những tình cảm dạt dào từ mỗi người trong nhóm.”

Khi bà than thở rằng việc điều trị làm họng bị đau, một người bạn xứ Ames gửi cho bà một chiếc máy làm bánh cùng sách hướng dẫn cách làm. Một người khác, dù con gái đã mất vì bệnh bạch cầu, gửi cho bà một chiếc mũ đan tay vì biết rằng đầu bà sẽ rất lạnh khi không có tóc che phủ; và thêm một người nữa gửi tới một bộ pajama làm từ chất liệu đặc biệt chống mồ hôi đêm.

Zwagerman nói bà thường cảm thấy thoải mái tâm sự về bệnh tình của mình với những người bạn hơn là với bác sĩ. “Chúng tôi nói chuyện lan man tới bất kì chủ đề nào trên thế giới này,” bà nói.

Zwagerman cho rằng những người bạn từ Ames là một yếu tố vô cùng quan trọng trong quá trình điều trị và phục hồi của bà, các nghiên cứu đã chứng minh rằng lời bà đúng. Năm 2006, một nghiên cứu được tiến hành trên gần 3000 y tá điều trị ung thư vú đã chỉ ra rằng những phụ nữ ko có bạn bè thân thiết có nguy cơ tử vong cao gấp 4 lần so với những phụ nữ có từ 10 người bạn trở lên. Và đáng chú ý là, việc những người bạn có mặt bên cạnh hay số lần liên lạc không liên quan tới việc kéo dài tuổi thọ. Bệnh nhân chỉ cần có bạn, đơn giản là vậy.

Bella DePaulo, một giảng viên tâm lý tại trường California, Santa Barbara, người chuyên nghiên cứu về những người độc thân với tình bạn, chỉ ra rằng trong rất nhiều trường hợp, tình bạn thậm chí có ảnh hưởng tốt tới sức khỏe hơn cả một người chồng/ vợ hay các thành viên trong gia đình. Trong nghiên cứu về ung thư vú với sự tham gia của các y tá nói trên, việc có một người chồng/ vợ không ảnh hưởng gì tới khả năng sống sót.

Rất nhiền nghiên cứu về tình bạn tập trung vào mối quan hệ sâu sắc giữa những người bạn gái, trong khi đó, một vài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nam giới cũng có lợi từ những tình bạn. Trong một nghiên cứu kéo dài 6 năm tiến hành trên 736 người đàn ông Thụy Sĩ tuổi trung niên, việc có một người bạn đời không làm thay đổi nguy cơ đau tim và động mạch vành, nhưng việc có những người bạn chắc chắn lại có ảnh hưởng. Hút thuốc lá và thiếu các mối quan hệ xã hội là 2 yếu tố nguy hiểm hàng đầu.

Thực sự vẫn chưa có câu trả lời rõ ràng để giải thích tại sao tinh bạn lại có những ảnh hưởng to lớn đến vậy. Tất nhiên những người bạn có thể làm các việc lặt vặt và mua thuốc giúp người ốm, nhưng ý nghĩa của những người bạn vượt xa ra khỏi sự trợ giúp vật chất; trên thực tế, việc có mặt bên người ốm không thực sự là một yếu tố hỗ trợ.

Cũng có lẽ những người có nhiều mối quan hệ bạn bè sẽ tiếp cận tốt hơn với việc chăm sóc và các dịch vụ sức khỏe. Nhưng hơn thế, tình bạn rõ ràng còn có ý nghĩa to lớn về mặt tâm lý. Người có tình bạn đẹp sẽ ít có nguy cơ bị cảm lạnh, có lẽ vì họ ít bị stress hơn.

Năm ngoái, người ta đã tiến hành một thí nghiệm với 34 sinh viên của trường Đại học Virginia bằng cách đưa họ tới chân một quả đồi dốc và đeo trên lưng họ những ba lô nặng. Họ được yêu cầu ước lượng độ dốc của quả đồi. Một vài sinh viên đứng cạnh bạn mình trong suốt thí nghiệm, những người khác được bố trí đứng một mình.

Những sinh viên đứng cùng bạn đã đưa ra mức dự đoán thấp hơn về độ dốc của quả đồi. Và những người bạn bên cạnh càng thân thiết bao nhiêu, thì người sinh viên càng ước chừng quả đồi ít dốc bấy nhiêu.

“Những người có bạn bè cảm thấy họ có ai đó để hướng tới và trông cậy”, Karen A. Roberto, giám đốc một trung tâm lão khoa tại Virginia phát biểu. “Tình bạn là một tài nguyên bị đánh giá thấp. Và thông điệp mạnh mẽ của tất cả những nghiên cứu này là:
những người bạn giúp cuộc sống của bạn tốt đẹp hơn."


(G2V Star - Theo The New York Times)

 
    Thoi-Nay - Giai Tri va Doi Song

Mục lục

Phương pháp:

Đọc và Suy nghĩ:

   
 

Copyright © 2011 | TN InfoWay