|
Hệ
số thông minh IQ không phải là
tất cả. Trí thông minh không nằm
trong một con số và có thể mang
nhiều dạng bất ngờ nhất. Đó là
điều đã được các nhà nghiên cứu
khám phá ra.
Cảm xúc làm trào dâng nước mắt,
co thắt dạ dày, khiến người ta
tái mặt hay ửng hồng đôi má. Đôi
khi nó khiến người ta tròn xoe
mắt hay mỉm một nụ cười. Đôi khi
nó gây ra những phản ứng dữ dội
hay giận dữ. Nó phát sinh từ sâu
xa trong não bộ mà chỉ giờ đây
người ta mới bắt đầu nhận thức
được vai trò cơ bản của nó đối
với trí thông minh.
Vâng, các cảm xúc chỉ đạo cho
trí thông minh, có lẽ còn hơn cả
những khả năng lôgic toán học mà
chúng ta thường ca ngợi từ nhiều
thập niên qua. Vâng, thật khó mà
kiểm soát được chúng, bởi vì
chúng là các di chứng mạnh mẽ
cho sự tiến hóa của loài người.
Đó là cách giải thich của Daniel
Goleman, tiến sĩ tâm thần học ở
Đại học Harvard. Trong quyển “
Trí thông minh cảm xúc” dày 420
trang, Goleman đưa chúng ta tham
quan thế giới của cảm xúc và
tổng hợp các nghiên cứu liên kết
những tính chất nội tại đó của
con người với trí thông minh và
khả năng quản lý tốt cuộc đời.
Tất nhiên từ thuở bình minh của
lịch sử, nhiều triết gia và nhà
tư tưởng đã từng quan tâm đến
cảm xúc, mà người ta ngỡ là
chúng phát xuất từ con tim, và
hơn nữa dường như là độc quyền
của các thi sĩ. “Nhưng chỉ trong
thời gian gần đây, các nhà
nghiên cứu đã định vị được những
trung tâm cảm xúc trong não bộ
và đã hiểu vì sao người ta khó
kiềm chế được chúng. Các nhà
nghiên cứu về sự tổ chức trí
thông minh cũng bắt đầu thừa
nhận vai trò của cảm xúc” -
Goleman giải thích.
Vào năm 1992, nhà thần kinh học
Joseph Ledoux đã chứng minh rằng
cảm xúc phát sinh từ các hạch
amygdale. Chinh chúng sẽ khởi
phát những phản ứng tức thời gần
như phản xạ ngay trước khi phần
não bộ về suy nghĩ (néocortex)
được thông báo.
Gần như cùng giai đoạn ấy, giáo
sư Antonio Damasio chỉ ra vai
trò cơ bản của phần néocortex.
Những bệnh nhân bị tổn thương
vùng não bộ này đều không thể
cảm nhận và chế ngự các cảm xúc.
Kết quả là dù có vẻ hoàn toàn
bình thường nhưng họ lý luận
ngược ngạo và có những quyết
định trái với quyền lợi của họ.
Kết luận của ông là lý trí không
có ở dạng thuần túy mà được nuôi
dưỡng bởi cảm xúc, và chính phần
néocortex là nhạc trưởng. Nó chỉ
đạo, phối hợp, kiểm soát các cảm
xúc đột ngột nhất và gán cho
chúng một ý nghĩa.
“Trong đa số trường hợp, vị thế
của 1 người trong xã hội được
xác định bằng các yếu tố khác
hơn là hệ số IQ” - giáo sư
Howard Gardner cho biết. Để
chứng minh cho điều ấy, nhiều
cuộc nghiên cứu đã cho thấy rằng
những người có hệ sô IQ cao và
đỗ cao trong các kỳ thi vẫn
không thành đạt hơn những người
có vẻ thấp kém. Nhiều nhà khoa
học khẳng định rằng hệ số IQ chỉ
tham gia 20% vào sự thành đạt cá
nhân. Số còn lại là do môi
trường xã hội, do may mắn, nhưng
nhất là do phần thông minh mà
các trắc nghiệm tiêu chuẩn không
chú ý đến. Năm 1990, lần đầu
tiên nhà tâm thần học Peter
Salovey đưa ra thuật ngữ “trí
thông minh cảm xúc” vốn rất cần
thiết cho sự phát triển và thành
đạt của chúng ta. Ông định nghĩa
nó bằng 5 điểm :
* Hoàn toàn thấu hiểu về những
cảm xúc của chính mình, khả năng
chủ yếu cho sự tự hiểu và cho
trực giác tâm thần.
* Khả năng điều hướng các cảm
xúc để tập trung.
* Khả năng chế ngự cảm xúc để
thích ứng với từng hoàn cảnh.
* Sự nhận thức tình cảm của
người khác, trái ngược với ác
cảm.
* Làm chủ các mối liên hệ con
người, dễ dàng tiếp xúc với
người khác, tức khả năng đặc
biệt để quản lý các cảm xúc.
Một thí nghiệm của nhà tâm thần
học Walter Mischel đã cho thấy
rằng Salovey có lý. Trong một
trường mẫu giáo, Mischel phát
kẹo cho các em bé 4 tuổi. “Nếu
em nào lấy ngay thì được 1 viên
kẹo, nhưng nếu chờ khi tôi quay
trở lại trong chốc lát nữa thì
sẽ được 2 viên”. Khoảng 1/3 số
các em đã lấy kẹo ngay. Số còn
lại, tự chủ hơn, đã biết chờ đợi.
Mười hai năm sau, Mischel gặp
lại những em đó. Sự khác biệt về
tinh thần giữa 2 nhóm thât rõ
rệt : các em ở nhóm đầu thì
bướng bỉnh, khép kín, đa nghi,
ganh tị, khó tiếp xúc. Các em
thuộc nhóm thứ nhì có vẻ tự tin,
nhiều sáng kiến và tươi tắn hơn.
Một số cảm xúc của chúng ta bắt
nguồn từ rất lâu, thậm chí từ
lúc chưa có loài người. Lấy ví
dụ nỗi sợ hãi : nó đã có trong
đa số loài vật, ăn sâu trong sản
nghiệp di truyền của chúng. Ngày
nay người ta đã biết một số cảm
xúc tác động như thế nào đến cơ
chế sinh học của chúng ta và có
lợi cho sự sinh tồn của giống
loài ra sao.
• Sự giận dữ : nó thúc đẩy sự
tiết ra các hormone như
adrénaline, kich thích chúng ta
hành động hăng hái hơn. Nó đưa
máu đến 2 bàn tay để chúng ta
khéo léo hơn trong việc cầm nắm.
• Nỗi sợ hãi : nó gia tăng lượng
máu đến các cơ bắp, chẳng hạn
như đôi chân để sẵn sàng chạy
trốn. Mặt khác, não bộ tiềt ra
rất nhiều hormone để cơ thể ở
trong tư thế sẵn sàng, các giác
quan cảnh giác và tập trung sự
chú ý.
• Sự kinh ngạc : nó khiến chúng
ta nhướng mày, mắt mở to hơn và
thị lực chính xác hơn.
• Nỗi chán chường : gương mặt
nhăn lại, mũi khép bớt, dường
như đây là một động tác sơ khai
để ngăn chặn không cho những mùi
khó chịu thâm nhập nhanh vào mũi.
• Nỗi buồn phiền : nó đi kèm với
sự giảm chậm chuyển hóa, do đó
ta có cảm tưởng yếu đuối. Có thể
điều này đã giúp cho những con
người đầu tiên được an toàn khi
không muốn đi xa khỏi nơi trú
ngụ.
“Não bộ của chúng ta dễ thẩm
thấu, nhất là trong 3 năm đầu
của cuộc đời. Nhưng một số vùng
chủ yếu của cảm xúc lại lâu đạt
đến tình trạng “trưởng thành”
hơn. Các thùy trán, trung khu
chế ngự cảm xúc, vẫn tiếp tục
phát triển trễ trong thời niên
thiếu, đôi khi đến 16 hay 18
tuổi” - Daniel Goleman cho biết.
Do vậy chúng ta nên lợi dụng để
học cách sử dụng tốt phần thông
minh chủ yếu này của hạnh phúc.
MINH LUÂN
(theo Figaro Magazine)
|