|
Bát Nhã Ba La Mật ÐaTâm Kinh
| |
Bộ kinh Đại Bát Nhã gồm 600
quyển, chiếm tới ba tập khổ lớn
trong Đại Tạng Kinh Đại Chính
Tân Tu, mỗi tập trên dưới 1.000
trang, mỗi trang độ 1.500 chữ,
tổng cộng khoảng 4.500.000 chữ (Hán);
thường được gọi là Đại Bát Nhã (Đại
Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí
Nghiêm).
Bản trong những nghi thức tụng
niệm gồm 260 chữ bằng tiếng Hán
Việt:
Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm
Bát nhã Ba la mật đa thời,
chiếu kiến ngũ uẩn giai
không, độ nhứt thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử, sắc bất dị không,
không bất dị sắc, sắc tức
thị không, không tức thị sắc,
thọ tưởng hành thức diệc
phục như thị.
Xá Lợi Tử, thị chư pháp
không tướng, bất sanh bất
diệt, bất cấu bất tịnh, bất
tăng bất giảm.
Thị cố không trung vô sắc,
vô thọ tưởng hành thức.
Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý,
vô sắc thanh hương vị xúc
pháp, vô nhãn giới nãi chí
vô ý thức giới.
Vô vô minh, diệc vô vô minh
tận, nãi chí vô lão tử, diệc
vô lão tử tận.
Vô khổ, tập, diệt, đạo.
Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở
đắc cố.
Bồ đề tát đõa y Bát nhã Ba
la mật đa cố, tâm vô quái
ngại, vô quái ngại cố, vô
hữu khủng bố, viễn ly điên
đảo mộng tưởng, cứu cánh
Niết bàn.
Tam thế chư Phật, y Bát nhã
Ba la mật đa cố, đắc A nậu
đa la Tam miệu Tam bồ đề.
Cố tri Bát nhã Ba la mật đa,
thị đại thần chú, thị đại
minh chú, thị vô thượng chú,
thị vô đẳng đẳng chú, năng
trừ nhất thiết khổ, chân
thật bất hư.
Cố thuyết Bát nhã Ba la mật
đa chú, tức thuyết chú viết:
Yết đế yết đế, ba la yết đế,
ba la tăng yết đế, bồ đề tát
bà ha.
|
|
|
|
Bát Nhã Ba La Mật ÐaTâm Kinh
Theo Bình Anson
Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm
Kinh (Prajnaparamitahridaya
Sutra) là một trong các kinh
căn bản và phổ thông của
Phật Giáo Ðại Thừa. Bài kinh
nầy là một trong các bài
kinh của bộ Bát Nhã kết tập
tại Ấn Ðộ qua bảy thế kỷ, từ
năm 100 T.C.N. đến 600 C.N.
Khi được truyền sang Trung
Hoa, Tâm Kinh đã được nhiều
vị cao tăng chuyển dịch từ
tiếng Phạn sang tiếng Hán:
ngài Cưu Ma La Thập dịch vào
khoảng năm 402-412 C.N.,
ngài Huyền Trang dịch năm
649 C.N., ngài Nghĩa Huyền
(700 C.N.), ngài Pháp Nguyệt
(732 C.N.), ngài Bát Nhã và
Lợi Ngôn (790 C.N.), ngài
Trí Tuệ Luận (850 C.N.),
ngài Pháp Thành (856 C.N.)
và ngài Thi Hộ (980 C.N.).
Trong các bản dịch nầy, bản
dịch của ngài Huyền Trang là
phổ thông nhất.
--------------
Bản tụng Hán Việt:
Quán Tự Tại Bồ Tát hành
thâm Bát nhã Ba la mật đa
thời, chiếu kiến ngũ uẩn
giai không, độ nhứt thiết
khổ ách.
Xá Lợi Tử, sắc bất dị
không, không bất dị sắc,
sắc tức thị không, không
tức thị sắc, thọ tưởng
hành thức diệc phục như
thị.
Xá Lợi Tử, thị chư pháp
không tướng, bất sanh bất
diệt, bất cấu bất tịnh,
bất tăng bất giảm.
Thị cố không trung vô sắc,
vô thọ tưởng hành thức.
Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân
ý, vô sắc thanh hương vị
xúc pháp, vô nhãn giới nãi
chí vô ý thức giới.
Vô vô minh, diệc vô vô
minh tận, nãi chí vô lão
tử, diệc vô lão tử tận.
Vô khổ, tập, diệt, đạo.
Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô
sở đắc cố.
Bồ đề tát đõa y Bát nhã Ba
la mật đa cố, tâm vô quái
ngại, vô quái ngại cố, vô
hữu khủng bố, viễn ly điên
đảo mộng tưởng, cứu cánh
Niết bàn.
Tam thế chư Phật, y Bát
nhã Ba la mật đa cố, đắc A
nậu đa la Tam miệu Tam bồ
đề.
Cố tri Bát nhã Ba la mật
đa, thị đại thần chú, thị
đại minh chú, thị vô
thượng chú, thị vô đẳng
đẳng chú, năng trừ nhất
thiết khổ, chân thật bất
hư.
Cố thuyết Bát nhã Ba la
mật đa chú, tức thuyết chú
viết:
Yết đế yết đế, ba la yết
đế, ba la tăng yết đế, bồ
đề tát bà ha.
-ooOoo-
Bản dịch nghĩa:
Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại
khi thực hành thâm sâu về
trí tuệ Bát Nhã Ba la mật,
thì soi thấy năm uẩn đều
là không, do đó vượt qua
mọi khổ đau ách nạn.
Nầy Xá Lợi Tử, sắc chẳng
khác gì không, không chẳng
khác gì sắc, sắc chính là
không, không chính là sắc,
thọ tưởng hành thức cũng
đều như thế.
Nầy Xá Lợi Tử, tướng không
của các pháp ấy chẳng sinh
chẳng diệt, chẳng nhơ
chẳng sạch, chẳng thêm
chẳng bớt.
Cho nên trong cái không đó,
nó không có sắc, không thọ
tưởng hành thức.
Không có mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân ý. Không có sắc,
thanh, hương vị, xúc pháp.
Không có nhãn giới cho đến
không có ý thức giới.
Không có vô minh,mà cũng
không có hết vô minh.
Không có già chết, mà cũng
không có hết già chết.
Không có khổ, tập, diệt,
đạo.
Không có trí cũng không có
đắc, vì không có sở đắc.
Khi vị Bồ Tát nương tựa
vào trí tuệ Bát Nhã nầy
thì tâm không còn chướng
ngại, vì tâm không chướng
ngại nên không còn sợ hãi,
xa lìa được cái điên đảo
mộng tưởng, đạt cứu cánh
Niết Bàn.
Các vị Phật ba đời vì
nương theo trí tuệ Bát Nhã
nầy mà đắc quả vô thượng,
chánh đẳng chánh giác.
Cho nên phải biết rằng Bát
nhã Ba la mật đa là đại
thần chú, là đại minh chú,
là chú vô thượng, là chú
cao cấp nhất, luôn trừ các
khổ não, chân thật không
hư dối.
Cho nên khi nói đến Bát
nhã Ba la mật đa, tức là
phải nói câu chú:
Yết đế yết đế, ba la yết
đế, ba la tăng yết đế, bồ
đề tát bà ha.
(Qua rồi qua rồi, qua bên
kia rồi, tất cả qua bên
kia rồi, giác ngộ rồi đó!)
-ooOoo-
Bản dịch Việt:
(Thích Tâm
Thiện, Sài Gòn, 1998)
Kinh Trái Tim
Tuệ Giác Vô Thượng
1. Khi tiến sâu vào
nguồn mạch của Tuệ giác
vô thượng (1), Người
Tỉnh Thức Bình Yên (2)
soi sáng như thật rằng
tự tịnh của năm hợp thể
(3) đều là Không (4),
liền thoát ly mọi khổ
ách.
2. Này người con dòng
Sari (5), hình thể chẳng
khác chân không, chân
không chẳng khác hình
thể. Hình thể là chân
không, chân không là
hình thể. Cảm xúc (6),
niệm tự (7) và tư duy
(8) và ý thức (9) đều là
như vậy.
3. Này người con dòng
Sari, tất cả hiện hữu
được biểu thị là Không,
nó không sanh, không
diệt, không nhơ, không
sạch, không tăng, không
giảm.
4. Vì thế, này người con
dòng Sari, trong Không
không có hình thể, không
có cảm xúc, không có
niệm lự, không có tư duy,
không có ý thức (10);
không có mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân và ý; không
có hình thể, âm thanh,
hương khí, mùi vị, xúc
chạm (11) và hiện hữu
(12). Không có đối đượng
của mắt, cho đến không
có đối tượng của ý thức;
không có minh, không có
vô minh (13), không có
sự chấm dứt của minh,
cũng không có sự chấm
dứt của vô minh; cho đến,
không có tuổi già và sự
chết, cũng không có sự
chấm dứt của tuổi già và
sự chết; không có khổ
đau, không có nguyên
nhân của khổ đau, không
có sự chấm dứt khổ đau
và không có con đuuờng
đưa đến sự chấm dứt khổ
đau (14); không có tri
giác (15) cũng không có
sự thành tựu tri giác,
vì chăng có quả vị của
tri giác nào để thành
tựu.
5. Người Tỉnh Thức Bình
Yên, do sống an lành
trong Tuệ giác vô thượng
mà thoát ly tất cả
chướng ngại. Và rằng, vì
không có những chướng
ngại trong tâm nên không
có sợ hãi và xa rời
những cuồng si mộng
tưởng, cứu cánh Niết bàn.
6. Tất cả chư Phật trong
ba đời (16) đều nương
tựa vào Tuệ giác vô
thượng mà thành tựu (17)
chánh giác.
7. Vì thế, nên biết rằng
Tuệ giác vô thượng là
sức thần (18) kỳ vĩ, là
sức thần của trí tuệ vĩ
đại, là sức thần cao
tuyệt, là sức thần tối
hậu, vô song, có thể trừ
diệt tất cả khổ đau. Sức
thần thoắt sinh từ Tuệ
giác vô thượng này là sự
thật, là chân lý. Sức
thần có năng lực tối
thượng đó được tuyên nói
trong kinh Trái Tim Tuệ
Giác Vô Thượng rằng:
"Ði qua, đi qua
Ði qua bờ bên kia,
Ðã đi qua đến bờ bên
kia, reo vui!"
Chú thích:
(1) Trí tuệ Bát nhã (Prajnàpàramità).
(2) Dịch từ "Quán Tự Tại"
theo cách chiết tự.
(3) Năm tổ hợp hay năm
uẩn (skandhas).
(4) Vô tự tính hay bản
tính Không (Sunyata).
(5) Mẹ của Sariputa là
người rất thông minh nên
có hiệu là Sari. Trung
Hoa dịch chữ Sariputa là
Xá Lợi tử, nghĩa là, đứa
con dòng Xá Lợi (Sari).
Do đó, tác giả dịch là
Người con dòng Sari, lối
dịch này đã được sử dụng
trong bản dịch "Kinh
Ruột Tuệ Giác Siêu Việt"
của Thi Vũ, do HT. Trí
Quang giới thiệu, xuất
bản năm 1973, tại Paris.
(6) Thọ uẩn
(7) Tưởng uẩn
(8) Hành uẩn
(9) Thức uẩn
Bốn uẩn (hợp thể) này
thuộc về tâm lý, sắc uẩn
(hợp thể vật chất) thuộc
về vật lý.
(10) Sắc, thọ, tưởng,
hành, thức (5 uẩn).
(11) Xúc (trong sắc,
thanh, hương, vị, xúc,
pháp).
(12) Hiện hữu đọc được
dùng đồng nghĩa với pháp
(dharma).
(13) Vô minh
(ignorance), nguồn gốc
của sự khổ đau.
(14) Tứ đế (Khổ đế, Tập
đế, Diệt đế, Ðạo đế).
(15) Tri giác (dịch từ
Vô tri diệc vô đắc).
(16) Ba đời: quá lhứ,
hiện tại, vị lai.
(17) Thành tựu ở đây có
nghĩa là đã giải thoát
khỏi thế giới nhị nguyên,
không còn phân biệt, đối
đãi nhân-pháp, hữu-vô
v.v...
(18) Còn được dịch là
linh ngữ hay thần chú
(mantra).
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|