|
Trước
Phật đài Tam Bảo chứng minh.
Trong bửu điện trang nghiêm
thanh tịnh. Đại Lễ Vu Lan Thắng
Hội thập phần viên mãn. Mùa Báo
Hiếu thiêng liêng lan tỏa khắp
mười phương. Chắc chắn ba ngàn
thế giới lay chuyển sáu lần rung
động. Chắc chắn mười tám tầng
địa ngục sẽ được mở toang. Bởi
công ơn Cha Mẹ là một sự hiện
hữu nhiệm mầu, tình thương Cha
Mẹ là tất cả đất trời cao rộng,
ngân hà xao xuyến, vũ trụ nao
nao, trăng sao vằng vặc. Là con
hiền cháu thảo, ai ai cũng lặng
yên, ai ai cũng trầm lắng, để
nghe trong sâu thẳm tâm hồn
tiếng nói dâng lên cho Cha, dâng
lên cho Mẹ trong giờ phút trang
trọng này đây.
Một bông hồng nào xin dâng lên
quý Thầy ! Một bông hồng nào xin
dâng lên quý Sư Cô ! Bông hồng
nào cho Bác, cho Chú, cho Thím !
Bông hồng nào cho anh, cho chị,
cho em ! Và xin hỏi, còn bông
hồng nào cho tôi ?
Chúng ta hãy đón nhận thật chân
thành, thật trọn vẹn. Hạnh phúc
thay cho những ai còn mẹ ! Diễm
phúc thay cho những ai còn cha !
Và, chữ và, xin chia sẻ với
những ai đang cài hoa trắng !
Nhìn đóa hoa màu hồng trên áo
quý vị, xin không cần nói một
lời nào, mà quý vị hãy lặng yên,
mỉm cười, sung sướng và sống
trọn vẹn đi !
Nhìn đóa hoa màu trắng, biết
chia sẻ gì đây, sẽ không có một
ngôn từ nào thấm cùng trong nỗi
lòng sâu lạnh, dù có lớn bao
nhiêu, cũng sẽ mang cho đến trọn
đời thân phận mồ côi.
Hai chữ Mẹ Cha, chúng ta không
cần nói nhiều, mà chỉ ao ước còn
tiếng Mẹ để chúng ta thưa, còn
tiếng Cha để chúng ta trân quý.
Không cao kỳ, không trau chuốt,
không phết sơn. Bởi còn cha mẹ
là còn tất cả, mất cha mẹ là mất
tất cả. Đức Phật từng dạy “Phụ
mẫu tại tiền như Phật tại thế”,
nghĩa là Cha Mẹ còn sống giống
như Đức Phật đang còn trên thế
gian này. Ca dao Việt Nam cũng
nói : “Còn cha còn mẹ là hơn,
Không cha không mẹ như đờn đứt
dây”.
Từ xưa tới nay và mãi mãi đến
mai sau, hai chữ Cha Mẹ, có lẽ
được nói nhiều nhất và được viết
nhiều nhất. Hai chữ Cha Mẹ là
cội gốc của tình thương vô tận
và suối nguồn của đạo đức bao
la, đã góp phần rất lớn trong
gia tài văn hóa văn học nhân
loại. Hai chữ Cha Mẹ, đã làm cho
sách báo, văn chương, thi phú
được chồng lên cao hơn. Vào nhà
sách, thư viện, ghé mắt vào
những tựa đề về Mẹ, về Cha, tình
mẫu tử, tình phụ tử, các nhà văn
nhà thơ đã đào sâu trong tận đáy
con tim và mọi góc cạnh khối óc,
sẽ thấy hai chữ Cha Mẹ được diễn
tả tuyệt siêu, nhưng vẫn chưa
hết và đôi khi ngượng ngập ngôn
từ. Không những thế, trong cung
bậc Tao đàn, trên sân khấu nhạc
hội, và rừng hội họa nghệ thuật
cũng diễn xuất không cùng. Thời
đại tin học hôm nay, những gì về
Cha về Mẹ cỡi trên sóng điện vi
tính thiên thần, kỳ ảo thêm,
diễm lộng thêm.
Ngôn từ Cha Mẹ còn bình dân hơn,
gần gũi hơn, đơn sơ hơn. Tiếng
võng đưa kẽo kẹt sau hè, hay nằm
trong nôi em khóc, mẹ sẽ hát sẽ
ru em ngủ, chị sẽ hát sẽ ru em
ngủ ! Chắc chắn nhiều khi, có
những hình ảnh thật tội nghiệp,
người Cha hay người anh khốn khổ
ẵm em em cũng khóc, ru em em
cũng khóc, và người cha hay
người anh nhìn em bằng ánh mắt
gần như van lơn mà vẫn bất lực,
không biết phải làm gì cho em.
Trong chúng ta, tôi dám quả
quyết ai cũng đã hơn một lần đã
làm như thế !
Em bé “Ba năm bồng ẵm cảm ơn
Cha”, đã biết nói hai tiếng Ba,
Ba đầu đời.. “Chín tháng cưu
mang nhờ đức mẹ”, trong vòng tay
bú mớm, em đã biết nói hai tiếng
Má, Má thương yêu. Đến lúc lớn
lên, trưởng thành, đi vào trường
đời, đi vào xã hội, dù có làm
ông nọ bà kia, hay phập phù giữa
bại thành cuộc thế, dù được sống
gần hay đang ở đâu xa, vẫn hỏi
thăm và thưa ba thưa mẹ. Trong
quán trọ vô thường một khi băng
qua khúc rẽ ly tan, dòng tử sinh
đôi bờ một khi gõ nhịp đành đoạn
tạ từ, ta sẽ thảng thốt kêu lên
Mẹ ơi, Ba ơi, và thế là nước mắt
ta ràng rụa, lòng ta nát tan,
trăng sao kia sẽ không đủ sáng
giữa vòm trời, vật chất phù du
kia sẽ tả tơi theo bèo bọt.
Không phải chỉ đang lúc đó, mà
kể từ ngày đó trở đi, cho đến
bây giờ, mãi mãi mai sau, mỗi
khi thương cha nhớ mẹ, ta như
con đom đóm lập lòe tìm gọi bóng
đêm, hay như kẻ lạc loài mò mẫm
giữa hư vô và cúi mặt trước lâu
đài phụ mẫu, nghe tiếng lòng
thổn thức.
Trong chánh điện này đây, trước
lễ đài này đây, giữa hội trường
này đây, dù ai cài hoa hồng vẫn
lo sợ, lo sợ gì mà “Đêm đêm thắp
ngọn đèn trời, Cầu cho cha mẹ
sống đời với con”. Còn những ai
cài hoa trắng thì, chừng như tấm
lòng quý vị trống vắng không
cùng, và chừng như hai con mắt
của quý vị nhìn thật xa xôi. Kia
kìa, thấy chưa, không phải chừng
như, mà thật sự hai con mắt quý
vị đang tròn xoe, bờ mi đã ướt
lên rồi. Một cụ già, đôi vành
khô vẫn còn đủ sức long lanh,
vài cụ lớn tuổi đôi bờ khô khốc,
nhưng nước gì đang chảy ra, gạt
lệ tay lau. Người trung niên
cũng lặng lẽ, trầm ngâm. Thế còn
anh, còn chị, còn em, sao lại
cúi xuống, đỏ hoe ! Cả Thầy nữa,
rồi Sư Cô nữa ! Xin lỗi nghe,
chúng tôi không có dám đâu, và
đâu có làm gì ?
Thưa quý vị. Hình ảnh trên đây
không phải chỉ có hôm nay, mà đã
nhiều lần, thật nhiều lần, vào
mỗi độ Trung Nguyên, mỗi Mùa
Hiếu Hạnh. Ngay cả chỉ một Mùa
Báo Hiếu thôi, trong quý vị sẽ
có người đi dự nhiều nơi, tôi đã
chứng kiến đôi mắt quý vị lại
tái lập như thế. Nếu hỏi tại sao,
thì quả thật vô tình, một câu
hỏi rất vô duyên. Nước mắt cho
cha cho mẹ mà không biết chảy ra,
không biết ngấn lệ, không biết
vo tròn, thì xin lỗi, ta còn
thua em bé và ta chưa lớn nổi
làm người ?
Trong chúng ta, ai không nằm
lòng “Công Cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn
chảy ra”, ai không từng nghe
“Lòng Mẹ bao la như biển Thái
Bình rạt rào” hay “Mẹ già như
chuối ba hương, Như xôi nếp một
như đường mía lau”.
“Bao nhiêu sách vở viết về Đức
Mẹ
Bao nhiêu chữ nghĩa viết về Công
Cha
Dù có nhiều như vũ trụ bao la
Cũng không thể diễn tả hết được
Tình Cha Nghĩa Mẹ”
“Tình thương Mẹ, biển Đông thấm
vào đâu
Công đức Cha, núi Thái làm sao
sánh
Dù đem cả hằng hà sa pháp giới
Cũng không sao đánh đổi hai chữ
Song Đường
Xin đi khắp cõi vô thường
Soi ngàn đuốc tuệ thắp đường Từ
Thân
Xin đi khắp cõi phù vân
Noi gương hiếu hạnh ân cần Mẹ
Cha”
Hãy hình dung thời Đức Phật còn
tại thế, hình như đôi mắt của
Ngài mà ta tôn xưng Phật nhãn,
vẫn lưng tròng khi Phụ Hoàng
băng hà, vẫn rưng rưng khi đứng
hầu kim quan, và trên đường di
quan vẫn từng bước chân nặng
trĩu. Lại một lần kia, khi cùng
Tăng Đoàn đi khất thực, hỏi còn
hình ảnh nào rung cảm hơn, xúc
động hơn, chính Đức Phật đã :
“Đáo bán lộ rành rành mắt thấy
Núi xương khô bỏ đấy lâu đời
Thế Tôn bèn vội đến nơi
Lạy liền ba lạy rồi rơi giọt
hồng”
Ôi, cao thượng thay Đấng Thiên
Nhơn chi Đạo Sư !
Ôi, quý hóa thay Đấng tứ sanh
chi Từ Phụ !
Phải chi Ngài điều ngự nơi đây
cho chúng con đãnh lễ tôn thờ.
Một kiếp này thôi, ân nghĩa cha
mẹ, chúng con chưa trọn vẹn, nói
chi đến quá khứ đa sanh phụ mẫu
! Một kiếp này thôi, bổn phận
con hiền cháu thảo, chúng con
mang bao nỗi đành đoạn đắng cay,
thì làm sao đền đáp công ơn cha
mẹ nhiều đời.
Phải chi Bồ Tát Mục Kiền Liên
đang ở đâu đây, chúng con xin
nương theo thần lực của Ngài để
đi tìm khắp muôn hướng ngàn
phương, đi sâu vào địa ngục dù
có vô số cửa ngõ A Tỳ, chỉ cần
nhìn thấy, Mẹ chúng con đang ở
đâu, Ba chúng con đang ở đâu,
rồi muốn làm gì chúng con xin
nguyện tận lực hành trì.
Đâu cần nói chi xa phải không
thưa quý vị ? Trong cuộc đời,
bao nhiêu người được sống nơi
chốn quê nhà, nhưng biết bao
nhiêu người phải sống tha phương
bởi duyên nghiệp hay hoàn cảnh
khác nhau. Chỉ mong sao được về
thăm nơi chôn nhau cắt rốn, được
nhìn lại bàn thờ từ đường, ấp ủ
dưới mái nhà tranh, bếp lửa hồng
êm vợn khói, thoang thoảng hương
cau, thơm thơm gạo mới. Và kia,
dòng sông Quê Ngoại, bến cũ Quê
Nội, đường đất bên làng, lối ngõ
đầu thôn, rẽ ngang xóm nhỏ ,
ruộng lúa ngô đồng, “Làng quê
nghèo cuối phương trời biền biệt,
Bóng thời gian không đủ sức
nguôi ngoai, Vẫn đong đầy và
sống mãi trong tôi, Lỡ nhắm mắt
ôm khối sầu muôn thuở”.
Và kia, ai sống thị thành, phố
phường đô hội, “Những lối đi
chạy ngang qua đất đỏ, Những lối
về chạy dọc dưới trời xanh,
Những mạch máu của trái tim
thành phố, Những đốt xương của
thân thể châu thành, Những con
đường chúng mang hồn dân tộc,
Qua không gian không thay đổi
danh từ, Lối cỏ mới đề huề reo
ánh sáng, Khách đi về cảm thấy
khác tâm tư”. Rồi được đến thăm
nấm mồ của Mẹ của Ba, bên Ông Bà
Nội Ngoại Tổ Tiên, lục thân
quyến thuộc quá vãng, để quỳ, để
khóc, để thương, để nhớ, để được
thắp một nén hương, mà kiếp sống
xa nhà, dù đã 10 năm, 20 năm, 30
năm, hay hơn nữa, nhưng vẫn xin
khẳng quyết mọi vùng đất dung
thân không phải là cố quận, lại
càng không phải quê hương của
mình. Nhưng, “Khung trời quê vẫn
ngậm sầu, nghìn trùng xa cách.
Cõi trời quê vẫn chôn chặt, tận
đáy hồn đau”.
Xin Cha tha cho chúng con. Xin
Mẹ tha cho chúng con. Xa hơn nữa,
chúng con xin tạ tội với người
Cha cội nguồn của Văn Lang, xin
khấu đầu với người Mẹ đầu tiên
của Bách Việt, đã cho chúng con
được mang dòng giống Lạc Hồng,
tóc đen da vàng máu đỏ, nhưng
lại mang một mảnh hồn đau và một
trái tim nhức nhối.
Bạch quý Thầy, quý Sư Cô,
Thưa quý vị lớn tuổi cùng toàn
thể anh chị em,
Một bông hồng đã đầy đủ chưa ?
Một bông trắng đã thấm thía chưa
? Theo tôi, phải là một rừng
bông hồng để dâng lên Mẹ, hay
một rừng bông trắng để khóc cho
Cha. Một rừng bông hồng để khơi
động tình thương, và một rừng
bông trắng để xóa tan vụn vỡ.
Một rừng bông hồng để gìn giữ
nâng niu, và một rừng bông trắng
để tạ từ miên viễn.
Nguyện cầu mười phương Chư Phật
chứng minh
Nguyện cầu hồng ân Tam Bảo gia
hộ
Nguyện cầu Đức Đại Hiếu Mục Kiền
Liên soi sáng cho chúng con
Nguyện cầu hồn thiêng sông núi
Việt Nam gia hộ cho toàn dân
nước Việt.
Và mầu nhiệm thay, thiêng liêng
thay, chúng ta cùng nhắm mắt,
chắp tay :
Ba ngàn thế giới đang rung động
!
Tam đồ bát nạn đang mở toang !
Một bông hồng biến thành vô số
bông hồng để trọn vẹn mùa hiếu
hạnh.
Một bông trắng thấm sâu vô số
bông trắng để kết nẻo phương đài.
Đó mới thật sự là Bông hồng cài
áo !
Đó mới thật sự là bông trắng cưu
mang !
Đó mới thật sự là Mùa Vu Lan
Thắng Hội !
Đó mới thật sự là Giải Cứu Đảo
Huyền, độ thoát hàm linh !
Trân trọng và trân trọng nhớ ân
!
Chân thành và chân thành nhớ mãi
!
Ngưỡng dâng Chư Tôn Đức Tăng Ni
Kính chào toàn thể liệt quý vị.
Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ
Tát Ma Ha Tát.
Mùa Hiếu Hạnh 2009
TNT Mặc Giang
macgiang@y7mail.com
=======Đọc
thêm:
HIẾU ÐẠO NỀN TẢNG ÐẠO ÐỨC HỌC
PHẬT GIÁO
Thích Thông Huệ
Ngày Vu Lan được gọi là ngày
truyền thống báo hiếu. Tất cả
mọi người con đến ngày này về
chùa được quý thầy nhắc lại
trách nhiệm của mình đối với tổ
tiên, ông bà, cha mẹ. Là phật tử,
lẽ tất nhiên phải sống một đời
hiền lương đạo đức. Nếu chúng ta
sống bất hiếu với cha mẹ thì
chắc chắn chúng ta sẽ không
thương ai một cách chân tình.
Cha mẹ là người sanh thành dưỡng
dục giúp ta trưởng thành, cho
chúng ta đến trường để tiếp cận
với tri thức, xây dựng một cuộc
sống no đủ, hạnh phúc cho con
cái. Nếu xét nghĩ đến sự ung đúc
đó của cha mẹ như trời biển thì
bổn phận làm con, ta phải làm gì
để đền đáp thâm ân đó? Ðức Phật
chế ra ngày Vu Lan - ngày hiếu
đạo để khắp thế gian này, tất cả
mọi người đều hiểu được đạo đức
căn bản của một người con hiếu
thảo.. Vì vậy, hiếu đạo là căn
bản của đạo làm người, hay nền
tảng của đạo đức học Phật Giáo.
Ðiều kiện căn bản để bước vào
con đường đạo đức, trước tiên
phải nói đến sự hiếu kính, phụng
dưỡng cha mẹ. Nho giáo có
câu:“Hiếu vi vạn hạnh chi tiên”.
Một người không có hiếu đạo thì
không xứng đáng làm người, còn
người phật tử mà bất hiếu thì
không phải là phật tử chân chánh.
Chúng ta hàng ngày đến chùa lễ
Phật, tụng kinh, làm công quả…
nhưng đối với cha mẹ lại bất
kính, thờ ơ thì những việc làm
đó có đúng với ý nghĩa “tốt đời
đẹp đạo” không? Và mình có phải
là một con người thật sự có đạo
đức chăng? Ðức Phật dạy: “Tâm
hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là
hạnh Phật”. Vì vậy, ngày Vu Lan
là ngày chúng ta quy ngưỡng về
cha mẹ bằng một lòng chân thành
hiếu kính. Dù cha mẹ còn sống
hay đã qua đời, bổn phận làm
con, chúng ta cũng phải từng
ngày từng giờ, từng phút từng
giây nghĩ nhớ đến công ơn sanh
dưỡng mà lo phụng thờ sớm hôm ân
cần. Còn như cha mẹ đã khuất thì
nên siêng làm nhiều thiện sự,
cúng dường Tam Bảo, hồi hướng
công đức cho cha mẹ sớm về nơi
an lành. Ðây là một nét đẹp
truyền thống văn hóa đạo đức của
nhân dân ta từ lâu đời.
Chúng ta nên ý thức rằng, không
phải chỉ có ngày Rằm tháng bảy
mới là ngày Vu Lan báo hiếu, mà
ngày nào chúng ra cũng phải hiếu
kính với ông bà cha mẹ. Ðó mới
đúng với ý nghĩa Vu Lan trọn năm,
Vu Lan miên viễn; vì tâm hiếu
hạnh của một người con chí hiếu
vượt ngoài không gian và thời
gian vô tận. Vu Lan đến từng
ngày, từng giờ trong lòng những
người con hiếu thảo!
Một thi sĩ đã làm bài thơ rằng:
“Lên núi nhớ ơn cha,
Xuống sông thương tình mẹ.
Ôi non cao vời vợi,
Ôi sông rộng bời bời.
Hai vai con mang nặng,
Từ vô lượng kiếp rồi.
Ơn cha và nghĩa mẹ,
Lặn hụp biển luân hồi”.
Tình cha nghĩa mẹ đối với con
rất đậm đà, sâu lắng, không giới
hạn. Có những lúc trong đời, vì
chạy theo cuộc sống vật chất mà
chúng ta quên nghĩ đến cha mẹ.
Nhưng khi gặp khó khăn thất bại,
bị cuộc đời vùi dập thì nơi gốc
trời xa yêu dấu, bỗng nhiên
chúng ta nhớ đến cha mẹ và
thương cha mẹ nhiều hơn. Con có
thể quên cha mẹ chứ cha mẹ không
bao giờ bỏ rơi con, dù còn nhỏ
hay đã trưởng thành. Hình ảnh
của cha mẹ luôn là điểm tựa vững
chắc cho con bước vào đời. Từ vô
thỉ kiếp đến nay, hai vai ta
mang nặng công ơn sanh thành
dưỡng dục của cha mẹ nhiều đời
không thể tính được. Vì vậy,
ngày Vu Lan không những chúng ta
tìm cách đền ơn cha mẹ hiện đời
mà còn phải báo đáp công ơn của
cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp, “đa
sanh phụ mẫu, thất thế phụ mẫu”
bằng cách làm nhiều việc lành để
hồi hướng công đức cho cha mẹ
hiện tiền được bình an, phúc lạc
trong chánh pháp; còn cha mẹ đời
trước được siêu sanh về cõi giới
an lành. Ðó mới đúng ý nghĩa báo
hiếu trọn vẹn! Ðược phụng dưỡng
cha mẹ là hạnh phúc bậc nhất của
người con hiếu thảo.
Nhưng cũng có người nuôi cha mẹ
lúc đau bệnh bằng những lời nặng
nhọc, “cực chẳng đã”, thật đáng
trách lắm thay! Cha mẹ đau do
thân bệnh thì ít mà nỗi đau
trong tâm do bị con cái hất hủi
thì nhiều. Thế nên, khi cha mẹ
đau ốm là lúc để chúng ta thể
hiện lòng hiếu kính một cách có
ý nghĩa nhất. Không những vậy,
chúng ta còn phải khuyến khích
mọi người cùng giữ gìn đạo làm
con cho tròn bổn phận. Xã hội
hiện nay có nhiều chế độ đặc
biệt như viện dưỡng lão, hội
người cao tuổi… cho người già
khỏi cảnh cô đơn, hiu quạnh khi
tuổi về chiều; huống nữa là
người phật tử, chúng ta lại
không nghĩ cách báo đáp thâm ân
của ông bà cha mẹ sao? Ðây là
điều mà tất cả mọi người phải tự
suy gẫm và hằng ghi khắc vào tâm
khảm của mình.
“Mẹ còn là cả trời hoa,
Cha còn là cả một tòa kim cương”.
Cha mẹ cho con tình thương, hạnh
phúc, giàu sang no ấm. Khi cha
mẹ còn hiện hữu, cuộc đời này
đẹp như một trời hoa, và chúng
ta không phải sợ cảnh đói rách,
cơ cực. Còn cha mẹ là còn được
sự đùm bọc chở che, được nũng
nịu như một đứa trẻ thơ dưới mắt
cha mẹ. Hãy trân quý từng tấc
bóng thời gian khi cha mẹ còn
hiện hữu trên đời!
Ðối với người Việt Nam , Vu Lan
đã trở thành ngày lễ hội truyền
thống của dân tộc - truyền thống
đền ơn đáp nghĩa. Trong kinh
Phật dạy: “Gặp thời không có
Phật, khéo thờ cha mẹ tức là thờ
Phật”. Như vậy, Ðức Phật đã nâng
địa vị cha mẹ lên ngang hàng với
Ngài. Là phật tử đến chùa học
đạo, chúng ta phải biết ứng dụng
Phật pháp một cách sống động vào
cuộc sống đời thường, chuyển tải
những lời dạy vàng ngọc của Ðức
Phật vào đời, mang lại niềm an
lạc, hạnh phúc cho mọi người và
tự hoàn thiện nhân cách đạo đức
của mình, sống đời hiền lương,
hiếu kính ông bà cha mẹ…
Người xưa có câu:
“Chùa là tổ ấm ta về,
Chung tay vun đắp phước dày mai
sau”.
Sau những tất bật ngược xuôi
giữa dòng đời, chúng ta về chùa
tìm lại sự bình an, thảnh thơi,
vững chãi trong đời sống tâm
linh. Về chùa gặp thầy bạn cùng
trao đổi đạo lý, kinh nghiệm tu
hành, nghe tiếng kinh kệ ngân
vang…, chúng ta mới thấy giá trị
đích thực của đời sống tinh thần;
như chim bay về tổ, tìm lại chút
hơi ấm bên Ðấng cha lành.
Hiếu hạnh là giá trị sống thắm
đượm tính nhân văn cao cả. Người
nào không nhớ đến nguồn cội của
mình thì không xứng đáng là một
con người chân chính. Tục ngữ có
câu: “Uống nước nhớ nguồn, ăn
quả nhớ kẻ trồng cây”. Tất cả
chúng ta khi thọ nhận một điều
gì phải suy nghiệm rằng từ đâu
mà có? Trong năm phép quán tưởng
của người xuất gia mỗi khi thọ
trai, phép quán tưởng đầu tiên
là: quán thức ăn này từ đâu mà
có, công của người đàn na thí
chủ đem đến cúng dường nhiều hay
ít (nhất kế công đa thiểu lượng
bỉ lai xứ). Rồi từ đó phát
nguyện cố gắng tu hành thành tựu
đạo nghiệp mới dám thọ nhận thức
ăn này (vị thành đạo nghiệp ưng
thọ thử thực). Khi còn tại thế,
Ðức Phật từng dạy các vị tỳ kheo:
“Một vị tỳ kheo nghỉ dưới một
bóng cây vào buổi trưa hè nóng
bức, khi rời bóng cây ra đi cũng
phải nhớ ơn bóng cây đó đã che
mát cho mình”. Ðến những vật vô
tri như thế mà Phật dạy còn phải
nhớ ơn, huống nữa những trọng ân
của Thầy Tổ, cha mẹ, tổ quốc,
đàn na thí chủ, chúng ta nỡ quên
sao? Trong cuộc sống tương quan
tương sinh này, chúng ta thọ
nhận rất nhiều ơn tình ơn nghĩa
của mọi người quanh ta. Vì vậy,
ngày Vu Lan là dịp để chúng ta
truy niệm, hướng tâm về những
thâm ân đó mà tìm cách đền đáp,
dù chỉ trong muôn một.
Hiếu đạo là chân lý thuộc về tục
đế. Ðông phương hay Tây phương
đều phải giữ gìn hiếu đạo. Ðó là
bản sắc văn hóa đạo đức của nhân
loại. Bất cứ đất nước nào, xã
hội nào cũng khuyến khích người
dân giữ gìn hiếu đạo. Tất cả mọi
người đang hiện hữu trên cuộc
đời này đều không được làm trái
với luân lý đạo đức đó. Bởi vì:
“Nước biển mênh mông, không đong
đầy tình mẹ,
Mây trời lồng lộng, không phủ
kín công cha”.
Tình cha nghĩa mẹ không một giới
hạn nào có thể đo lường được. Từ
vô thỉ kiếp đến nay, nước mắt
chúng ta khóc cha mẹ nhiều hơn
nước trong bốn biển.. Kinh Tương
Ưng Bộ, Ðức Phật dạy: “Này các
tỳ kheo, sữa mẹ mà các người đã
uống trong khi các người lưu
chuyển luân hồi trong một thời
gian dài nhiều hơn nước trong
bốn biển. Vì sao thế? Vì luân
hồi là vô thỉ, không sao đếm
được. Lưu chuyển luân hồi của
chúng sanh là trùng điệp nên
không thể nêu rõ khởi điểm. Vì
vô minh che đậy, vì tham ái trói
buộc tất cả các nghiệp hành của
chúng sanh”. Chúng sanh luân hồi
trong nhiều đời nhiều kiếp,
“tiền tiền vô thỉ, hậu hậu vô
chung”, chịu nhiều khổ đau, do
vô minh che đậy tánh giác mà tạo
nghiệp thọ quả, không biết lúc
nào ra khỏi. Trong vòng luân hồi
sanh tử đó, chúng ta thọ ơn cha
mẹ nhiều đời nhiều kiếp, tính
không thể hết! Ðó là lí do ngày
Vu Lan chúng ta làm mọi công đức
lành, hồi hướng cho cha mẹ nhiều
đời quá khứ và hiện tại được an
vui, phúc lạc.
Tóm lại, hiếu đạo là một trong
những chuẩn mực đạo đức căn bản
của xã hội loài người. Dầu con
người có văn minh tuyệt đỉnh đến
đâu, hiếu đạo vẫn không bị xem
là “lỗi thời” mà luôn được tôn
vinh và ca ngợi qua tất cả mọi
thời đại, mọi xã hội. Hiếu hạnh
là yếu tố định hình cho đời sống
luân lý đạo đức, mang lại bình
an, hạnh phúc, góp phần ổn định
trật tự, an ninh xã hội. Mỗi mùa
Vu Lan đến, chúng ta tổ chức
thăm viếng, tặng quà cho đồng
bào nghèo, trẻ em mồ côi, người
già neo đơn…, tất cả những việc
làm đó đều xuất phát từ ý nghĩa
đền đáp công ơn tổ tiên, ông bà,
cha mẹ, tứ trọng ân…, thể hiện
nếp sống “tốt đời đẹp đạo”, đem
ánh sáng Phật Pháp xây dựng thế
giới hòa bình, phúc lạc.
Thiền Thất Viên Giác - Tp. Nha
Trang
Mùa Vu Lan Báo Hiếu - PL. 2553
=====
MINH SƯ XUẤT CAO ÐỒ
Thích Thông Huệ
Ngày xưa, có một người thợ mài
ngọc tài hoa vào bậc nhất thiên
hạ. Ông từng cầm trong tay biết
bao trân bảo, nhưng chưa có viên
ngọc nào khiến ông thấy toàn vẹn.
Hôm nọ, tình cờ ông bắt gặp một
viên đá dị thường nằm chơ vơ
trong bụi cỏ. Viên đá rất to,
lấm lem bùn đất, thô nhám sù sì,
nhưng đôi mắt lão luyện của
người thợ bậc thầy đã phát hiện
ra một báu vật vô giá. Ông vui
mừng đem về, trổ hết tài nghệ
dũa mài viên đá. Và kết quả vượt
ngoài mong đợi, viên đá thô nhám
dơ bẩn đã trở thành viên kim
cương tuyệt trần, thế gian hiếm
thấy.
Người thợ tài hoa có đôi mắt
tinh tường ấy là Ðiều Ngự Giác
Hoàng Trần Nhân Tông. Viên kim
cương là chàng trai trẻ Ðồng
Kiên Cương, tức Nhị Tổ Pháp Loa
- Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Chuyện bắt đầu từ làng quê Cửu
La, gần con sông Nam Sách hiền
hòa. Người mẹ có 8 đứa con gái,
một đêm nằm mộng thấy dị nhân
trao cho cây kiếm thần, từ đó
hoài thai. Nhà nghèo lại đông
con, nếu chẳng may lại sanh thêm
đứa con gái nữa, hóa ra cả nhà
là một “bầy vịt giời” như lời
nhiếc móc của gia đình chồng ư?
Thế nên, người mẹ đành lòng uống
thuốc phá thai, không chỉ một
lần mà những bốn lần.
Thuốc không hiệu nghiệm, cậu bé
trai - người con thứ 9 sinh ra
giữa vòng tay yêu thương của gia
đình nội ngoại. Một mùi hương lạ
phảng phất khắp nhà khiến ai nấy
nhớ lại giấc mộng ngày nào của
người mẹ. Vui mừng được “người
trời” giáng hạ làm con, xen lẫn
nỗi ân hận vì mê muội suýt phá
vỡ hạnh phúc ngọt ngào, người mẹ
siết chặt con vào lòng, tự hứa
sẽ cố hết sức mình cho con được
sung sướng và nên người hữu dụng.
Tên Ðồng Kiên Cương được mẹ âu
yếm đặt cho cậu bé.
Tố chất đặc biệt khác người của
cậu bé Kiên Cương bắt dầu lộ ra
khi cậu đến tuổi ăn dặm. Ðể con
chóng lớn, người mẹ hàng ngày
vớt tép, bắt cá về nấu cháo cho
con. Lạ lùng làm sao, cậu bé chỉ
mới ăn vào vài muỗng cháo là nôn
ra kỳ hết. Lần nào cũng thế,
khiến mẹ lo lắng hỏi han khắp
chỗ. Nghe lời mách bảo, mẹ bắt
mấy con cóc về làm thịt, nấu
nướng thật ngon. Cháo cóc múc ra,
cả nhà xúm lại dỗ dành cậu bé.
Muỗng cháo thơm lừng vừa đưa đến
gần, cậu bé đã quay mặt đi, khóc
thét lên, dỗ thế nào cũng không
nín. Mẹ đành gạt nước mắt, đưa
con đến thầy lang nổi tiếng
trong vùng.
Vị thầy thuốc già chăm chú nghe
người mẹ kể lể, xem mạch cậu bé
hồi lâu. Ông nhíu mày suy nghĩ,
vẻ mặt băn khoăn. Cuối cùng ông
phán:
- Tôi chẳng thấy cháu mắc bệnh
gì, nhưng không rõ vì sao cháu
không chịu ăn cá thịt, có lẽ cái
tạng nó như thế. Thôi thì bà cứ
nuôi cháu bằng rau quả xem sao.
Thế là, cậu bé ngay từ thời thơ
ấu đã có khuynh hướng trường
chay. Không những không dùng
thịt cá, cậu còn từ chối các gia
vị cay nồng, nhất là hành tỏi.
Càng lớn lên, cậu càng khôi ngô
đỉnh đạc, luôn dùng lời từ ái
nói chuyện với bạn bè thân quyến.
Trong nhà ngoài xóm đều yêu mến
nể nang cậu bé khác người.
Thời gian thấm thoát trôi qua.
Cậu bé Kiên Cương giờ đã trưởng
thành. Nhiều nhà ngấm nghé muốn
chọn chàng làm rễ quý, nhưng
dường như trong mắt chàng chưa
có ý trung nhân. Lẽ nào người
thanh niên tuấn tú, tràn trề sức
sống kia không lúc nào thấy lòng
rung động trước hình bóng mỹ
nhân? Chàng còn chờ đợi ai, còn
kén chọn gì mà 21 tuổi đời vẫn
chưa cho dòng họ một mụn con nối
dõi? Không có con trai nối dõi
tông đường là tội lớn nhất trong
ba tội bất hiếu, chàng có biết
hay không, mà ngày ngày cứ mãi
trầm tư như có điều gì lo nghĩ?
Cũng trong thời gian ấy, Thượng
Hoàng Trần Nhân Tông xuất gia, ở
trên non Yên Tử. Ngài thường du
hành khắp các miền quê, nhưng
không cho quan dân bày nghi lễ
đón tiếp, sợ tốn kém sức người
sức của. Tuy vậy, vì kính trọng
và biết ơn Bậc minh quân đem lại
thái bình thịnh trị cho đất nước,
nên Ðiều Ngự đến đâu, dân làng
tụ họp đông đảo chào mừng đến đó.
Ðiều Ngự dạy dân chúng quy y Tam
Bảo, giữ ngũ giới tu thập thiện.
Những nơi thờ tà thần hay các
sinh thực khí đều bị phá bỏ.
Một ngày đẹp trời, Ðiều Ngự cùng
đoàn tùy tùng đến làng Cửu La,
quê hương của Kiên Cương. Chàng
trai trẻ đang đi xa, tự nhiên
thấy nôn nao lạ. Không hiểu có
gì hối thúc khiến chàng phải mau
bước quay về. Từ xa, chàng đã
thấy đoàn người đông đảo bên bờ
Nam Sách, đi đầu là các vị hương
chức bô lão, vẻ mặt cung kính
như lúc làm lễ rước Thành Hoàng.
Kế đến, một đoàn tu sĩ áo nâu,
từng bước chân thảnh thơi vững
chãi. Dẫn đầu nhóm tu sĩ là một
vị đầu đà, dung nghi thoát tục,
phong thái siêu phàm. Vừa thoạt
trông, Kiên Cương bỗng nhiên
chấn động, nước mắt tuôn trào.
Dường như lần đầu gặp mặt Ðiều
Ngự lại là lần tái ngộ sau nhiều
năm tháng vắng mặt, là sự kết
nối duyên Thầy trò nhiều đời.
Hai mươi năm qua, vì đời chàng
như con thuyền lênh đênh trên
sóng nước, không biết đi về đâu.
Hôm nay, con thuyền chàng đã tìm
được bến đỗ bình yên, một nơi an
trú tuyệt vời. Chàng đến trước
mặt Ðiều Ngự, năm vóc gieo xuống
đất, tha thiết được xuất gia.
Một khoảnh khắc kinh ngạc khiến
ai nấy bất động, nhưng sau đó
nhiều người tiến đến, định lôi
chàng đứng dậy tránh đường. Ðiều
Ngự ngăn lại, nói với thị giả:
- Ðứa bé nầy có đạo nhãn, ngày
sau ắt sẽ thành bậc pháp khí.
Ngài ân cần hỏi han tên họ quê
quán, rồi cho phép chàng đứng
dậy. Tấm lòng Bậc Minh Sư hân
hoan vì gặp được đồ đệ vừa ý -
một viên ngọc còn trong quặng,
nhưng hứa hẹn trở thành trân bảo
nếu gặp tay thợ tài hoa. Và
chính Ðiều Ngự sẽ là người thợ
có bàn tay vàng ấy. Ngài đặt tên
chàng là Thiện Lai, cho thọ giới
Sa di và gửi chàng đến Quỳnh
Quán học đạo cùng Hòa thượng
Tánh Giác.
Sa di Thiện Lai hàng ngày kinh
kệ và chấp tác cùng chúng Tăng,
nhưng lòng chú không an vì có
nhiều thắc mắc chưa giải đáp
được. Hòa thượng Tánh Giác đã
tận tình chỉ bày cho chú, ân cần
trả lời nhiều câu hỏi của chú,
nhưng dường như chú còn điều gì
đó chưa thông. Một hôm, chú đọc
kinh Lăng Nghiêm đến chỗ Thất xứ
trưng tâm, hậu khách trần dụ (Bảy
lần trình bày tâm, sau cùng đến
ví dụ về khách trần), thấy quá
lý thú. Xem đi xem lại nhiều lần,
chú có chỗ vào nên vội từ giã
Hòa thượng Tánh Giác, về tham
yết cùng Ðiều Ngự.
Ðến nơi, gặp lúc Ðiều Ngự đang
thăng đường, giảng về bài tụng Ô
kê (gà đen) của Thái Dương. Chú
ngồi yên, lắng sâu tâm thức.
Từng lời của Ðiều Ngự như dòng
nước mát rót vào lòng, rửa sạch
mọi cấu uế phiền não từ vô thủy
kiếp. Chú tỉnh ngộ, đôi mắt sáng
ngời nhìn vị Thầy khả kính. Ðiều
Ngự trên pháp tòa trông thấy,
biết người học trò yêu đã có
phần tương ưng, đến lúc cần sử
dụng phương tiện thiện xảo.
Ngài cho phép Thiện Lai được làm
thị giả, sớm hôm hầu hạ, nhưng
không chỉ dạy thêm điều gì. Lòng
thôi thúc muốn trình kiến giải,
chú làm bài tụng Tâm Yếu dâng
lên Ðiều Ngự. Tưởng Sư phụ nếu
không có lời khen thì ít nhất
cũng gật đầu hứa khả, nào ngờ
Ngài không nói một lời, cầm bút
sổ toẹt vào bài tụng. Ðau khổ,
thất vọng chú bước ra khỏi
phương trượng, tìm nơi vắng vẻ
ngồi suy nghĩ miên man. Vẫn biết
mình sở học non nớt, sở ngộ cạn
cợt, nhiều nghi vấn chưa giải
tỏa tận căn để; Nhưng sao Sư phụ
không chỉ đường đi, lại bắt mình
mò mẫn trong đêm tối mịt mùng?
Vẫn biết Ðiều Ngự làm gì cũng có
dụng ý, Ngài đôi khi cũng lộ ra
tình cảm khá đặc biệt đối với
mình, nhưng sao bây giờ Ngài lại
nghiêm khắc lạnh lùng đến thế?
Ðắm mình trong suy tư rồi tự
mình an ủi, có lẽ Sư phụ muốn
mình tiến tu hơn nữa. Chú lại
hăm hở viết thêm bài tụng thứ
hai, tin rằng Ngài sẽ hài lòng,
vì bài nầy có kiến giải sâu sắc
hơn bài trước. Nhưng buồn thay,
Ðiều Ngự chỉ nhìn qua một lượt,
rồi lại cầm bút sổ toẹt từ trên
xuống dưới. Ngài cũng chẳng có
lời nào an ủi, mắt nhìn cũng
nghiêm nghị xa xăm. Lần thứ hai,
rồi lần thứ ba... không có kết
quả gì hơn. Chẳng hiểu thiền
sinh Nghĩa Huyền ngày xưa bị Tổ
Hoàng Bá đập ba gậy khi hỏi Tổ
về Ðại ý Phật pháp, có kinh ngạc
đau khổ nhiều bằng Sa di Thiện
Lai ngày nay không? Vệt bút đen
màu mực sổ thẳng trên bài kệ,
như nhát kiếm Thái A cắt nát tâm
can chú. Trong đầu chú chỉ còn
mỗi câu hỏi “Các bài kệ ấy sai ở
chỗ nào?”
Ðánh liều một lần cuối, chú đắp
y chỉnh tề lên đảnh lễ Ðiều Ngự,
xin Ngài vì thương mà dạy bảo.
Thưa thỉnh ba lần, Ðiều Ngự vẫn
một mực lặng thinh. Ðến lần thứ
tư, thấy rõ tâm đồ đệ đã quá
thiết tha, Ngài mới buông một
câu:
- Của báu nhà mình không từ bên
ngoài mà được, hãy tự tham khảo
lấy!
Lê chân trở về liêu phòng, lòng
nặng trĩu, chú không còn biết
làm gì, nghĩ gì. Mọi kiến thức
gom góp từ kinh sách, những lần
tỉnh ngộ tưởng đã trực nhận bản
tâm... tất cả đều chẳng còn mảy
may vương vấn. Một mình đối diện
với ngọn đèn dầu lạc hắt hiu,
chú không biết thời gian trôi
qua bao lâu - một phút giây hay
một đời người?...
Ðã quá nửa đêm, tất cả im ắng,
chẳng nghe tiếng côn trùng rả
rích, chẳng có tiếng chó sủa đêm.
Cơn gió thoảng đầu hè thổi xào
xạc, cả ánh sao đêm cũng thôi
nhấp nháy. Mọi vật như nín thở
đợi chờ giây phút trọng đại.
Bỗng dưng, bông đèn tàn rụng
xuống tắt ngấm. Bông đèn vụt tắt
nhưng tâm vị Sa di trẻ chợt bùng
lên ánh sáng nhiệm mầu! Chú hoát
nhiên đại ngộ, vội xốc lại y áo,
hướng về phương trượng đảnh lễ
tạ ơn.
Sáng sớm, Sa di Thiện Lai ra mắt
Ðiều Ngự vấn an rồi trình chỗ sở
ngộ của mình. Ðiều Ngự thầm ấn
chứng cho. Lần này, chú được Sư
phụ hứa khả vì khi bặt dứt mọi
vọng niệm, trí tuệ tự soi chiếu,
trí tuệ ấy mới là của báu nhà
mình. Từ đó, chú phát nguyện tu
hạnh Ðầu đà theo gương Thầy. Thế
là, chỉ sau một năm xuất gia,
chú Sa di đã nhận ra mặt thật
xưa nay. Thời gian về sau, vừa
tự lợi vừa lợi tha, đúng là Bậc
Pháp khí như lời Ðiều Ngự tiên
đoán, trong lần đầu gặp gỡ.
Năm Thiện Lai được 22 tuổi, Ðiều
Ngự cho phép chú thọ giới Tỳ
kheo và Bồ tát giới, ban hiệu là
Pháp Loa - Loa lớn tuyên thuyết
chánh pháp. Và chỉ ba năm sau,
Tỳ kheo Pháp Loa đã được Ðiều
Ngự trao truyền Tổ vị. Buổi lễ
chính thức truyền y bát, công
nhận Tỳ kheo Pháp Loa làm Ðệ nhị
Tổ Thiền Tông Trúc Lâm Yên Tử,
được tổ chức trọng thể tại chùa
Siêu Loại. Vua Anh Tông cùng
đông đủ triều thần đến tham dự.
Từ đây, vị Tỳ kheo 25 tuổi vừa
trưởng dưỡng Thánh thai, vừa
gánh vác trọng trách kế thừa
tông môn, xiển dương đạo pháp.
Trong 22 năm trên ngôi Tổ vị,
Thiền sư Pháp Loa đã làm tròn
nhiệm vụ một cách xuất sắc. Ngài
là người đầu tiên tổ chức Giáo
hội Phật giáo một cách có hệ
thống, lập sổ bộ Tăng ni và Tự
viện trong cả nước. Khả năng của
Ngài gồm nhiều lĩnh vực, vừa là
một vị Thiền giả có nội chứng,
một pháp sư biện tài vô ngại,
một bậc giáo phẩm uy nghi; vừa
là một học giả trước tác dịch
thuật kinh sách; lại vừa là một
nhà hoạt động xã hội, nhà kiến
trúc xây chùa tạc tượng... Công
việc nào cũng được Ngài hoàn
thành viên mãn. Bên cạnh đó,
Ngài cũng không quên việc lễ
Phật, tọa thiền, dù công việc
bận rộn đến đâu. Lời phát nguyện
chí thành của Ngài thể hiện sự
tinh tấn tu hành và lòng từ bi
vô hạn đối với chúng sanh: “Chư
Phật và chư Bồ tát có những hạnh
nguyện gì, con đều tha thiết học
hỏi và làm theo. Dù chúng sanh
có khen ngợi hay khinh chê, dù
bố thí hay xâm đoạt, thì khi gặp
mặt hay nghe tên đều xin cứu độ
cho tất cả được lên bờ giác”.
Bằng đức độ, lòng từ bi và trí
tuệ siêu tuyệt, Nhị Tổ Pháp Loa
chinh phục được mọi hạng người
trong xã hội, từ vua quan đến
quân sĩ, từ trí thức đến bình
dân, từ Tăng ni đến Phật tử.
Ngài đã góp phần rất lớn vào
việc xây dựng và phát triển ngôi
nhà Phật giáo Ðại Việt nói chung
và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
nói riêng, dù chỉ hiện diện trên
cõi đời vỏn vẹn 47 năm. Những gì
Ðiều Ngự phó chúc, Nhị Tổ đều
thực hiện chu toàn, quả xứng
đáng với sự đãi ngộ và tin cậy
của Ðiều Ngự.
* *
*
Ngọc kia chẳng dũa chẳng mài,
Cũng thành vô dụng cũng hoài
ngọc đi.
Viên ngọc thô Ðồng Kiên Cương
nhờ tay nghề tài hoa của người
thợ bậc thầy Ðiều Ngự dũa mài
nhiều phen, mới trở thành viên
minh châu hiếm thấy. Nếu không
có Minh Sư Ðiều Ngự, làm sao
Phật giáo đời Trần có được bậc
Cao Ðồ Pháp Loa? Cho nên có thể
nói, Nhị Tổ gặp Ðiều Ngự là một
phước duyên hãn hữu; ngược lại,
Ðiều Ngự có được đồ đệ như Nhị
Tổ là một điều đắc ý vào bậc
nhất của Ngài.
Thiền Viện Trúc Lâm Viên Ngộ
Phan Rang - Ninh Thuận
(Thư
Viện Hoa Sen)
|