|
Tâm Hà Lê Công Đa(LTS: Nhà
nghiên cứu Phật học Tâm Hà Lê
Công Đa đã từ trần ngày
27-6-2010 tại Seattle - Tiểu
bang Washington, thọ 65 tuổi. Để
tưởng niệm nhà nghiên cứu đã có
nhiều tác phẩm Phật Học, nơi đây
sẽ đăng bài khảo cứu về Bồ Tát
Địa Tạng của tác giả Tâm Hà Lê
Công Đa với cách viết thâm trầm,
sâu sắc của anh.)*Khi mùa Xuân
tớiCây lá đâm chồiHoa nở thắm
tươiNhưng những trẻ thơNhư lá
rụng rơiTrong mùa Thu quaKhông
hề trở lạiRYOKAN (Cho các bé thơ
đã bỏ mình trong bệnh dịch đậu
mùa)1. Theo Dấu Chân của Bồ-tát
Địa TạngTrong năm vị Bồ-tát lớn
của Phật giáo Phát triển - Quan
Âm, Thế Chí, Địa Tạng, Văn Thù,
và Phổ Hiền - thì Bồ-tát Địa
Tạng đại biểu cho một khuôn mẫu
tốt đẹp và tích cực nhất của lý
tưởng Bồ-tát đạo, qua hành động
dấn thân, lăn xả vào chốn địa
ngục lầm than để cứu độ chúng
sinh với lời nguyện bất hủ: Khi
nào trong cõi địa ngục còn một
chúng sinh khổ đau,
Ngài sẽ không bao giờ trọn thành
Phật đạo. Thế nên được tôn sùng
như là vị "U Minh Giáo Chủ",
Bồ-tát Địa Tạng cùng với Bồ-tát
Quán Thế Âm đặc biệt đã được
quần chúng Phật tử tại Á Châu
theo truyền thống Bắc Tông tôn
thờ kính ngưỡng. Thế nhưng cũng
không phải là không có những tư
tưởng phản bác, cho rằng Bồ-tát
Địa Tạng chỉ là một nhân vật hư
cấu, sản phẩm của đầu óc tưởng
tượng phong phú của người Trung
Hoa, và thậm chí còn bài bác
quan niệm địa ngục trong Phật
giáo xem đó như là một sự hù dọa
tôn giáo.
Để trả lời cho vấn nạn này, các
học giả nghiên cứu về Phật giáo
cổ Ấn Độ hồi gần đây đã trưng ra
rất nhiều bằng chứng xác định
rằng tín ngưỡng tôn thờ Bồ-tát
Địa Tạng (Kshitigarbha) đã được
khai sanh tại Ấn Độ rất lâu đời,
có thể là vào khoảng đầu thế kỷ
thứ nhất hoặc thứ hai sau công
nguyên (C.E.), cùng một lúc với
sự phát triển mạnh mẽ của khuynh
hướng Phật giáo Phát triển, mà
bằng chứng cụ thể là Bồ-tát Địa
Tạng và những kinh sách liên
quan về Ngài đã được đưa vào
chương trình học tập, nghiên cứu
tại Đại học cổ điển Phật giáo
nổi tiếng Nalanda xứ Ma-kiệt-đà.
Khi Phật giáo bắt đầu được du
nhập vào vùng Trung Á, vào
khoảng năm 140 C.E., và trạm
dừng chân đầu tiên của bánh xe
Pháp là Turkestan, tín ngưỡng
tôn thờ Bồ-tát Địa Tạng cũng
theo bước chân của những tăng
đoàn truyền giáo du nhập vào
vùng này thông qua "Con Đường
Lụa" nổi tiếng trong lịch sử.
"Con Đường Lụa" như mọi người
đều biết, dài trên hai ngàn dặm
từ Ấn Độ vào Trung Hoa đi xuyên
qua những địa thế rất gian nan
hiểm trở, với những vùng khí hậu
khắc nghiệt của cả núi cao lẫn
sa mạc, thêm vào đó những vùng
biên địa giữa những tiểu quốc
lại đầy rẩy những thú dữ và
những băng đảng cướp của giết
người cũng như những bộ lạc còn
rất dã man.
Rất nhiều những kẻ lữ hành -kể
cả các tăng sĩ truyền giáo- đã
phải bỏ mạng trên đoạn đường này,
đến độ theo du ký của những
khách hành hương trong tinh thần
"Nhập Trúc cầu Pháp" còn để lại,
những bộ xương khô rải rác ở bên
đường dọc theo sa mạc đã được
dùng như là những dấu mốc cho kẻ
lữ hành cho biết là họ đang đi
đúng hướng. Đối diện với những
nỗi hiểm nguy lớn lao như thế,
việc tôn thờ Bồ-tát Địa Tạng như
là vị Bồ-tát bảo vệ kẻ lữ hành
là một điều dễ hiểu nếu không
nói là một nhu cầu hiện thực, vì
như trong Kinh Địa Tạng Bồ-tát
Bổn Nguyện, Phật thuyết:"Lại vầy
nữa, nầy Quán Thế Âm Bồ-tát! Về
đời sau nếu có người thiện nam
thiện nữ nào, hoặc nhơn sự làm
ăn, hoặc nhơn sự công chuyện tư,
hoặc nhơn sự sanh cùng tử, hoặc
nhơn việc gấp mà phải vào trong
rừng núi, hay là qua sông vượt
biển, hoặc gặp nước lụt lớn,
hoặc đi ngang đường hiểm trở.
Người ấy trước khi đi nên niệm
danh hiệu của ngài Địa Tạng
Bồ-tát một muôn biến, được thế
thời đi qua nơi chốn nào cũng có
các vị quỉ thần hộ vệ, lúc đi
đứng, khi nằm ngồi, đều được an
ổn vui vẻ luôn, cho đến dầu gặp
loài hùm sói sư tử... nhưng tất
cả thứ độc hại đều không thể
phạm đến người đó được.
"Hàng
ngàn hình tượng Bồ-tát Địa Tạng
được tôn thờ trong những hang
động tại vùng Long Môn và Đôn
Hoàng, Turkestan trong khu vực
được gọi là Vạn Phật đã nói lên
niềm tin tưởng của dân chúng địa
phương về sự hộ trì của Bồ-tát
Địa Tạng đối với khách lữ hành
và là một bằng chứng sống động
cho thấy rằng Bồ-tát Địa Tạng
không phải là sản phẩm hư cấu
của người Trung Hoa.Từ cửa ngỏ
Turkestan, Phật giáo được du
nhập vào Trung quốc và chỉ trong
vòng vài thế kỷ sau, khoảng năm
400 C.E , Phật giáo coi như đã
hoàn toàn hội nhập vào vùng đất
mới. Tại đây cây Bồ Đề đã bắt
đầu bám rễ một cách vững chắc
góp phần vào việc phát triển một
nền văn hoá Trung Hoa đa dạng,
phong phú và rực rỡ. Đồng thời
tín ngưỡng tôn thờ Bồ-tát Địa
Tạng cũng đã bộc phát mạnh mẽ
trong khoảng thời gian từ giữa
cho đến cuối niên kỷ 500 C.E. do
niềm tin của một giáo phái Phật
giáo, "Tam Giai Giáo", cho rằng,
theo kinh Phật, đây là thời kỳ
Mạt Pháp, và trong giai đoạn này
việc thờ phượng Bồ-tát Địa Tạng
là thích hợp nhất. Tín ngưỡng
tôn thờ Bồ-tát Địa Tạng đạt lên
đến đỉnh cao khi người Trung Hoa
chọn ngọn núi Cửu Hoa Sơn làm
nơi trụ tích của Bồ-tát mà theo
truyện tích còn để lại thì
Bồ-tát đã hóa thân thành một nhà
sư Triều Tiên đến Trung Hoa
hoằng pháp và liễu đạo tại
đây.Từ Trung Hoa,
Phật giáo cùng với tín ngưỡng
tôn thờ Bồ-tát Địa Tạng bắt đầu
du nhập vào Nhật Bản thông qua
cửa ngỏ Triều Tiên vào khoảng
thế kỷ thứ Năm hoặc thứ Sáu C.E.
Nhật Bản lúc bấy giờ so với
Trung Hoa và ngay cả Triều Tiên,
là một quốc gia còn ở trong tình
trạng bán khai, lạc hậu. Bị hăm
dọa thường trực bởi nạn động đất
và núi lửa, dân chúng Nhật Bản
đa phần sống dưới những túp lều
tranh đơn sơ trong những ngôi
làng bé nhỏ nghèo nàn, cai quản
bởi những lãnh chúa địa phương.
Họ chưa có thành thị, hệ thống
tiền tệ, chữ viết, không trường
học và bất cứ một nghi thức tôn
giáo nào. Tuy nhiên Phật giáo
đến với Nhật Bản không phải là
để lấp chỗ trống tôn giáo này,
vì dân Nhật vẫn có những tín
ngưỡng đa thần cổ sơ, thờ cúng
ông bà và tôn sùng Thần Đạo.
Ngược lại, Phật giáo đến với
Nhật Bản như là biểu trưng của
một nền văn minh Trung Hoa đã
chín mùi, đầy sức thu hút và
quyến rũ. Hơn thế nữa Phật giáo
còn mang đến cho Nhật Bản những
vị Bồ-tát rất gần gũi với những
nhu cầu của cuộc sống đời thường,
mà cụ thể là Bồ-tát Địa Tạng.
Nếu như người Nhật trước đây tôn
sùng Thần Đạo, đã từng quen
thuộc với những ông thần Núi,
thần Sông, thì nay, Bồ-tát Địa
Tạng-như tên gọi của Ngài- trong
cảm quan người Nhật chẳng khác
gì một ông thần Đất thiết thân
và gắn bó. Trong một sớm một
chiều, hình ảnh của Bồ-tát Địa
Tạng đã lần hồi chiếm chỗ của
những vị thần đã ngự trị trước
đây trong lòng dân Nhật.
Người nông dân gặp khó khăn
trong công việc đồng áng ư? Họ
kêu cầu đến Bồ-tát Địa Tạng. Gặp
lúc trời hạn hán không mưa? Lại
phải nhờ đến oai lực của Bồ-tát
Địa Tạng. Thậm chí gặp lúc đau
mắt, nhức răng không biết chạy
đi đâu người ta cũng phải chạy
đến cầu sự giúp đỡ của Ngài.
Ngài trở thành vị Bồ-tát bảo vệ
thôn làng trước họa binh đao,
nước lửa; là người bảo vệ cho
sản phụ mẹ tròn con vuông, kẻ
bảo hộ cho những chiến sĩ được
bình an trong trận mạc.
Chưa hết, đến phút lâm chung,
cũng chính Bồ-tát Địa Tạng là
người đến tiếp dẫn họ đến cõi
Tây phương Tịnh Độ của Phật A Di
Đà, và chẳng may nếu một người
nào đó gây nên những ác nghiệp
xấu xa phải rơi vào chốn địa
ngục, nếu biết ăn năn sám hối
kêu cầu đến Ngài, Ngài cũng sẽ
sẵn sàng lăn xả vào chốn địa
ngục để đưa họ ra khỏi chỗ tối
tăm...
Để tán thán công năng cứu độ
chúng sanh không thể nghĩ bàn
của Bồ-tát Địa Tạng, người dân
Nhật đã tạo ra không biết bao
nhiêu những truyện tích, huyền
thoại để nói về Ngài. Với khuôn
mặt dịu hiền khả ái và trên môi
như luôn luôn điểm một nụ cười,
hình ảnh của Ngài đã hoà nhập
vào tất cả mọi nền nếp suy nghĩ,
những lo âu trong cuộc sống đời
thường của dân chúng Nhật Bản.
Hình ảnh của Ngài làm người ta
liên tưởng đến hình ảnh của một
vị y sĩ vùng quê sẵn sàng có mặt
bất cứ lúc nào cho bất cứ ai cần
đến trong cơn đau đớn, sợ hãi,
âu lo, hoạn nạn dù lớn hay nhỏ.
Cho đến bây giờ, không phải chỉ
ở vùng quê mà ngay tại những
thành phố, kể cả những thành phố
lớn đông đúc rộn rịp như Đông
Kinh hay cố đô Kyoto, nếu bạn
cần đến sự giúp đỡ của Bồ-tát
Địa Tạng, có lẽ bạn cũng không
cần phải đi đâu xa, bởi vì chỉ
cách một vài góc phố, vài ngả tư
đường người Nhật lại dựng lên
một bàn thờ nhỏ thờ Bồ-tát Địa
Tạng, mà trên đó là những bó hoa
tươi thắm, những phẩm vật cúng
dường đơn sơ nhưng chan chứa
những tình cảm trân trọng: vài
viên kẹo, dăm trái quýt, và đôi
khi cả những chén rượu sake...
Những bàn thờ này luôn luôn được
chăm sóc sạch sẽ bởi cư dân địa
phương, điều này đã nói lên
những tình cảm tin tưởng trân
quý của người Phật tử Nhật Bản
luôn luôn hướng về Ngài. Ở những
nơi thờ phượng lớn hơn, người ta
còn thấy Phật tử dâng cúng lên
Ngài những bộ áo quần trẻ con,
những đôi giày, dép Nhật Bản, vì
người ta tin tưởng rằng Bồ-tát
Địa Tạng đã phải đi mòn không
biết bao nhiêu là gót giày, tất
bật tới lui không ngừng trên
khắp nước Nhật để an ủi, săn sóc
bất cứ những ai cần đến Ngài
giúp đỡ.
Đặc biệt khi người ta dâng cúng
đến Ngài những bộ áo quần trẻ
con là vì do niềm tin theo
truyền thuyết, Ngài là người rất
yêu thích trẻ con, là vị thần hộ
mệnh của những trẻ thơ bất hạnh.
Đây có thể nói là một trong
những nét độc đáo, đầy ý nghĩa
của Phật giáo Nhật Bản.CHÚ
THÍCH:Một phần nội dung của bài
viết được rút ra từ tác phẩm : "
Jizo Bodhisattva, Mordern
Healing & Traditional Buddhist
Practice", Jan Chozens Bays,
Tutle Publishing, 2002(Nguồn:
http://www.buddhismtoday.com.)
NHÀ VĂN LÊ CÔNG ĐA
|