|
PHẦN THỨ NHẤT
GIÁO-LÝ
“…Khai-thị
chúng-sinh ngộ-nhập
Phật-tri-kiến.”
1.- MỤC-ĐÍCH
PHẬT-HỌC và HỌC PHẬT
PHẬT-HỌC:
thông-thường gọi là học-thuyết
giáo-lý của Phật. Nghĩa là những
lời của bậc giác-ngộ, kết-tinh
thành giáo-lý, chia thành từng
môn, cho người sau tu-học,
giác-ngộ.
Mục-đích của
Phật-học là huân-tập cho
con người trở thành con người có
nhân-cách tương-đối, đầy-đủ ba
đức tính: từ-bi, trí-tuệ,
dũng-mãnh. Và, tiến lên,
hướng-dẫn con người hoàn-thành
nhân-cách viên-mãn; nghĩa là
rèn-luyện cho con người đầy-đủ
phúc-đức, trí-tuệ thành bậc
giác-ngộ hoàn-toàn.
HỌC-PHẬT là
nghiên-cứu, học-hỏi, tu-học
Phật-pháp (giáo-pháp của Phật).
Mục-đích của sự
học Phật là không cầu tư-lợi,
không nghiên-cứu suông; chỉ mong
phát trí hiểu biết, diệt-trừ
khổ-não, đạt tới chỗ thành Phật
và cứu-độ chúng-sinh.
Người Phật-tử
tin-nhận học-thuyết của Phật
tinh-tiến tu-học giáo-lý ấy,
không nhận lẫm sự vật,
tiến-triển đúng đường
chân-chính, phát-sinh trí-tuệ,
mở lòng rộng lớn, hiện-tại thoát
khổ được vui và dần dần thành
bậc Đại-giác (Phật).
2.- TAM-QUY
(Quy-y 3 ngôi
báu)
Một người được
gọi là tín-đồ Phật-giáo hay được
gọi là Phật-tử, phải thụ Tam-quy
trước đã.
Tam-quy tức là
quy-y Tam-bảo. Nghĩa là, quay
về, nương-tựa và sống theo ba
ngôi báu là Phật, Pháp và Tăng.
Phật (Buddha) là
đấng giác-ngộ hoàn-toàn.
Pháp (Dharma) là
giáo-lý, phương-pháp diệt khổ
được vui.
Tăng (Samgha) là
đoàn-thể hòa-hợp, cầu đạo
giác-ngộ của Phật và hành-trì
chính-pháp của Phật.
Người Phật-tử
quy-y Tam-bảo là người tránh xa
sự tà-vạy, si-mê, nguyện trọn
đời quay về và sống theo
Tam-bảo, quyết không tin theo
đạo-giáo khác.
3.- TAM-BẢO
(3 ngôi báu)
Tam-bảo là ba
ngôi báu: Phật, Pháp, Tăng.
Vàng bạc,
châu-báu ở đời tuy rằng quý
nhưng, còn trong vòng mất, còn,
thay đổi. Đối với Phật, Pháp,
Tăng hàm-tàng 10 ý-nghĩa cao
quý: vững bền, không nhơ, cho
vui, khó gặp, phá phiền-não,
uy-đức, mãn-nguyện,
trang-nghiêm, rất mầu-nhiệm và
không chuyển-biến…đem lại cho
chúng-sinh phương-pháp thoát
khổ, được vui, nên tôn xưng là
“Bảo”.
Tam-bảo phân chia
nhiều bậc, nhưng tóm-tắt có thể
thành ba bậc như sau:
1.- Đồng-thể
Tam-bảo.
Còn gọi là Nhất-thể Tam-bảo,
Đồng-tướng Tam-bảo: a) Phật bảo:
Phật và chúng-sinh đồng một
lý-thể giác-chiếu (bản-thể
chân-lý hiểu biết, sáng-suốt
hoàn-toàn). b) Pháp-bảo: Phật và
chúng-sinh đồng một
pháp-tính
viên-mãn, thường-trụ và
bình-đẳng. c) Tăng-bảo: Phật và
chúng-sinh đồng một
thể-tính
hòa-hợp thanh-tịnh.
2.- Biệt-thể
Tam-bảo: Còn gọi là
Chân-thực Tam-bảo Xuất-thế
Tam-bảo:
a) Phật bảo: Pháp-thân,
Báo-thân, Hóa-thân của Phật, chỉ vào các đấng đã
giác-ngộ hoàn-toàn như đức Phật
Thích-Ca Mưu-Ni. b) Pháp-bảo:
Chính-Pháp của Phật như Tam-học,
Tứ-đế, Lục-độ v.v…
c) Tăng-bảo: Các vị Thánh-tăng,
Bồ-tát tăng…
3.- Trụ-trì
Tam-bảo:<!--[if
!supportFootnotes]-->[16]<!--[endif]-->
a) Phật-bảo: Tranh, tượng Phật.
b) Pháp-bảo: Kinh, Luật, Luận:
Tam-tạng thánh-giáo của Phật. c)
Tăng-bảo: Các vị Tăng-sĩ.
Nếu ai quy-y
Tam-bảo, nhận rõ ý-nghĩa
Tam-bảo, như-thực tu-hành,
thoát-ly khỏi các nơi khổ-não,
được đạt tới cảnh-giới
giải-thoát Niết-bàn.
4.- TAM-TẠNG
(3 kho giáo-lý)
Tam-tạng: Ba
kho-tàng chứa đựng giáo-lý của
Phật là: Kinh, Luật và Luận:
1.- Kinh: Tiếng
Phạm (Ấn-độ) gọi là Tu-đa-la
(Sutra). Tàu dịch là Kinh. Kinh
gọi đủ là Khế-kinh, có nghĩa là
thâu-tóm những giáo-pháp hợp-lý,
hợp-cơ của Phật thành một loại,
hầu hướng dẫn cho sự tu-học và
đem lại lợi-ích chân-thực cho
chúng-sinh. Kinh có kinh
Đại-thừa và kinh Tiểu-thừa.
2.- Luật: Tiếng
Phạm gọi là Tỳ ni (Vinaya). Tàu
dịch là Luật. Là giới-luật của
đức Phật chế cấm để dạy cho
chúng đệ-tử ngăn-ngừa và
diệt-trừ nghiệp ác, hầu tiến
trên đường thiện-chính, làm cửa
ngõ vào cảnh-giới Niết-bàn.
3.- Luận: Tiếng
Phạm gọi là A-tỳ-đạt-ma
(Abhidharma). Tàu dịch là
“đối-pháp, vô-tỷ-pháp…” Đối-quán
trí-tuệ thù-thắng của
chân-lý là “đối-pháp”. Và,
trí-tuệ thù-thắng ấy không có gì
sánh kịp nên gọi là
“vô-tỷ-pháp”. Theo tiếng Phạm,
Luận còn có một tên riêng nữa là
“Ưu-bà-đề-xá” (Upadesa), Tàu
dịch là ‘Luận” và có nghĩa là
hỏi, đáp, bàn-bạc về tính-tướng
của mọi pháp, phát-sinh trí-tuệ
thù-thắng.
Tam-tạng có chỗ
thêm Bát-nhã-tạng và
Đà-la-ni-tạng thành Ngũ-tạng.
Người Phật-tử
nhất tâm duy-trì Tam-tạng
làm cơ-sở tu-học: Giới, Định,
Tuệ, sẽ đạt tới giác-ngộ và
giải-thoát.
5.- NGŨ-GIỚI
(5 điều răn)
Muốn con người
được xứng-đáng với ý-nghĩa con
người; muốn xã-hội trở thành một
xã-hội an-vui, cần thực-hành năm
điều răn:
1.- Không được
sát-sinh: Không được giết-hại
các sinh-mệnh khác mà nó cùng có
sự ham sống sợ chết như mình.
2.- Không được
trộm cắp: Tôn-trọng của người;
vật gì không phải của mình không
được lấy.
3.- Không được
tà-dâm: Không được ngoại-tình.
4.- Không được
nói dối: Không nói những lời sai
sự thực, có hại.
5.- Không được
uống rượu: Không được say-sưa
rượu-chè, có hại cho tư-cách,
trí-tuệ và gia-nghiệp.
Ngoài việc đối
với tự-thân, xã-hội hiện-tại,
năm điều răn còn là cửa ngõ sinh
lên Nhân, Thiên và Niết-bàn.
6.- BÁT QUAN-TRAI
(8 pháp
quan-trai)
Nghiêm-trì
giới-luật và tịnh-tâm tu-niệm là
hai món tư-lương tối-yếu trên
con đường giải-thoát của người
Phật-tử.
Với lòng từ-bi
của Phật, người Phật-tử tại-gia
vì bận việc gia-đình, xã-hội,
không thể thoát-ly trọn đời để
tu niệm được, Ngài chế ra tám
pháp quan-trai, thực-hành một
ngày một đêm cũng được công-đức
vô-lượng. Tám pháp ấy là:
1.- Không
sát-sinh.
2.- Không
trộm-cắp.
3.- Không
dâm-dục.
4.- Không nói
dối.
5.- Không uống
rượu.
6.- Không
trang-sức các vật quí-báu và
không xoa-bôi đồ thơm vào mình.
7.- Không ca múa
hát xướng, không đi xem, nghe.
8.- Không nằm
giường cao, rộng.
Và một trai-pháp
là không ăn phi-thì, nghĩa là
không ăn quá giờ ngọ.
Việc thụ-trì 8
pháp quan-trai này hoặc phải có
giới-sư truyền-thụ hay là tự
mình phát-nguyện thụ-trì
ngay ở nhà cũng được, nhưng phải
làm đúng. Làm đúng, ba nghiệp
được thanh-tịnh, do đó
thiện-nghiệp phát-triển, gieo
sâu hạt-giống vô-lậu
giải-thoát trong tâm-điền khỏi
sa đường ác và sẽ sinh về nơi
An-lạc.
7.- THẬP-THIỆN
(10 nghiệp lành)
Tiến xa, rộng
hơn, người Phật-tử nên thụ-trì
thập-thiện.
Thập-thiện là
mười nghiệp lành do nơi thân,
miệng, ý tạo ra:
A.- Ba nghiệp nơi
thân:
1.- Không
sát-sinh, hay làm việc hộ-sinh.
2.- Không trộm
cắp, hay làm hạnh bố-thí.
3.- Không dâm-dục,
thường giữ hạnh thanh-tịnh.
B.- Bốn nghiệp
nơi miệng:
4.- Không nói dối,
nói chân-thực.
5.- Không nói
thêu-dệt, nói đúng nghĩa.
6.- Không nói
lưỡi đôi chiều, nói hòa-hợp.
7.- Không nói
thô-ác, nói dịu-dàng.
C.- Ba nghiệp về
ý:
8.- Không tham-lam,
quán bất-tịnh, thực-hành thiểu-dục (ít muốn)
tri-túc (biết đủ).
9.- Không sân-hận,
quán từ-bi, thực-hành nhẫn-nhục.
10.- Không
tà-kiến (si-mê), quán nhân-duyên, phát trí hiểu biết.
Mười nghiệp lành
trên đây là cả một chương-trình
vĩ-đại đối với mình và người.
Nếu thực-hành đúng, kết-quả cũng
vĩ-đại.
8.- TỤNG KINH
Tụng kinh là đọc
lên những lời Phật dạy ghi chép
trong kinh-sách bằng cách
chí-thành, suy-ngẫm, và
tin-tưởng.
Tụng kinh làm cho
thân, miệng trong sạch, tâm-ý
bình-tĩnh, phát-sinh trí-tuệ và
gây nhân-quả tốt. Tụng kinh
tập-trung được tư-tưởng, tạo
thành một năng-lực mạnh-mẽ,
diệt-trừ tội lỗi nơi mình, đem
lại sự trong sạch, an-vui cho
người trong tinh-thần giao-cảm.
Tụng kinh là một
phương-pháp hay nhất của người
Phật-tử muốn tu và muốn tiến.
Người Phật-tử tự coi mình có
bổn-phận tụng kinh hai thời:
sớm, tối trong ngày hay ít ra
cũng một tháng hai kỳ.
9.- NIỆM PHẬT
Người Phật-tử
tin-tưởng mình có
Phật-tính
và sẽ thành Phật, nên cần niệm
Phật.
Niệm Phật là
nhớ-nghĩ đến Phật; nhớ-nghĩ đến
đức-tính: từ-bi, tinh-tiến của
Phật, tức là gợi lại cái tính
Phật sẵn có tại nơi mình, hầu
đem áp-dụng vào cuộc sống
lợi-ích cho mình và cho người.
Niệm Phật có ba
phương-pháp:
1/ Xưng-danh niệm
Phật: Miệng niệm danh hiệu Phật.
2/ Quán-tưởng
niệm Phật: Ngồi yên quán-sát,
tưởng-niệm công-đức tướng-hảo
của Phật.
3/ Thực-tướng
niệm Phật: Quán-tưởng pháp-thân
của Phật là lý thực-tướng trung
đạo chẳng phải có, chẳng phải
không.
Nhưng,
phương-pháp niệm danh-hiệu Phật
là dễ-dàng và thông-dụng nhất.
Niệm Phật, dù niệm danh-hiệu đức
Phật nào theo bản-nguyện của
mình đều được, nhưng điều
quan-trọng hơn hết là phải
nhất-niệm. Nghĩa là chỉ nhớ-nghĩ
tới Phật, đức-tính Phật, không
một vọng-niệm (nhớ-nghĩ xằng)
nào xen vào.
Người nhất-tâm
niệm Phật, huân-tập đức-tính
Phật, không tưởng-niệm
mông-lung, sẽ tạo cho mình có
đức-tính như Phật, cải-tạo
thế-giới vẩn-đục, độc-ác, thành
thế-giới trong sạch, yên-vui.
Người Phật-tử cần
tinh-tiến niệm Phật.
10.- LẦN TRÀNG
(chuỗi)
Lần tràng (chuỗi)
là một hình-thức trợ-duyên cho
chính-niệm (nhớ-nghĩ chân-chính)
khỏi bị tạp-niệm (nhớ-nghĩ
phức-tạp) xen vào; là
tiêu-chuẩn[33] cho ý-định niệm Phật của người
niệm và là biểu-tượng<!--[if
!supportFootnotes]-->[34]
đối-trị
của chính niệm diệt-trừ
phiền-não.
Lần tràng gắn
liền với niệm Phật. Khi đi, khi
đứng, khi ngồi, khi nằm, tràng
mang theo mình và chí-tâm niệm
Phật, không phân-tán ý-niệm,
được công-đức vô-lượng.
Tràng có nhiều
thứ: 1.080 hạt, 108 hạt, 54 hạt,
42 hạt, 27 hạt, 21 hạt và 14
hạt. Số mục của tràng hoặc lớn
hoặc nhỏ đều có biểu-thị cho các
tôn-vị,
các quả-vị
để đối-trị phiền-não.
Vật-liệu làm
tràng hoặc bằng vàng, bạc,
châu-báu hay các thứ hạt, các
thứ gỗ nhưng, nhiều phúc-báo hơn
phải kể là tràng bằng hạt
bồ-đề ,
hạt sen, kim cương.
Phép lần tràng
tay phải sạch-sẽ, tay hữu cầm
tràng để vừa trước ngực ngang
trái tim; chuỗi tràng để trên
ngón tay giữa, đầu ngón tay cái
và đầu ngón tay chỏ cầm vào hạt
tràng, mỗi niệm lần một hạt. Lần
từ hạt giáp hạt giữa, lần vòng
đến khi lại giáp hạt giữa, lần
quay trở lại không được lần qua
hạt giữa.
Lần tràng có
nhiều ý-nghĩa như trên, người
Phật-tử nên cố-gắng thực-hành.
11.- ĂN CHAY
Ăn chay là ăn các
thức rau, trái.
Loài vật cũng là
một động-vật như người, cũng
biết ham sống, sợ chết, cũng
biết thương-xót trước cảnh
biệt-ly và đau-đớn trong khi
xúc-phạm tới thân-thể, vì thế
người có lòng từ-bi không nỡ
giết và ăn thịt nó.
Thịt sinh-vật có
nhiều chất kích-thích, làm cho
người ăn nó sinh ra tính-tình
hung-bạo, nhiều dục-vọng, nhiều
bệnh-tật và kém phần trí-tuệ,
nên nhiều nhà y-học khuyên ta
không nên ăn thịt hay là nên ăn
ít.
Vì hai lẽ trên,
người Phật-tử giữ giới, ăn chay
trường được càng quý hoặc ăn
chay từng kỳ như sau:
- Mỗi năm ăn chay
3 tháng: tháng giêng, tháng năm
và tháng chín.
-Mỗi tháng ăn
chay 10 ngày: 1, 8, 14, 15, 18,
23, 24, 28, 29, 30 (tháng thiếu
tính từ ngày 27)
- Mỗi tháng ăn
chay 6 ngày: mồng 8, 14, 15, 23,
29 30.
- Mỗi tháng ăn
chay 4 ngày: mồng 1, 14, 15, 30.
- Mỗi tháng ăn
chay 2 ngày: mồng 1 và 15.
12.- SÁM-HỐI
Là con người,
trong sự hoạt-động thường ngày
chưa chắc đã tránh khỏi lỗi-lầm.
Có lỗi-lầm, biết ăn-năn sửa-đổi,
tu-tiến là một cử-chỉ đáng khen
và nên theo. Đó là sám-hối, theo
danh-từ Phật-học.
“Sám-hối” là hai
chữ ghép chung tiếng Phạm
(Ấn-độ) và tiếng Hán mà thành.
Tiếng Phạm gọi là Sám-ma
(Ksamayati) Tàu dịch là
“hối-quá”, gọi chập lại là
“Sám-hối” và có nghĩa là tự mình
bày tỏ những lỗi mình làm trước,
ăn-năn từ nay xin sửa đổi, không
dám phạm nữa.
Sám-hối có ba
pháp:
1/ Tác-pháp-sám:
Y-pháp, hướng Phật-tiền sám-hối
(hoặc lễ danh-hiệu Phật).
2/ Thủ-tướng-sám:
Định-tâm vận-tưởng sám-hối, thấy
Phật xoa đầu hoặc thấy
hào-quang.
3/ Vô-sinh-sám:
Chính-tâm, quán-lý vô-sinh
(không sinh diệt).
Nơi con người từ
vô-thỉ tới nay do thân, miệng, ý
tạo ra biết bao nhiêu tội-lỗi.
Lỗi-lầm càng che-dấu, tội báo
càng tăng thêm, càng vòng quanh
trong sinh-tử mãi mãi, thế nên
cần phải sám-hối. Ngay như trong
phẩm Phổ-Hiền kinh Hoa-Nghiêm
cũng nói lên rằng: “Ngã tích sở
tạo chư ác-nghiệp, giai do
vô-thỉ tham, sân, si. Tòng thân,
ngữ, ý chi sở sinh, nhất-thiết
ngã kim giai sám-hối ”. (Xưa tôi
tạo nên các nghiệp ác, đều do
tâm tham, sân, si của tôi từ đời
vô-thỉ và, từ nơi thân, miệng
(lời nói) ý của tôi mà sinh ra.
Vậy, hết thảy tội-lỗi ấy, nay
tôi đều sám-hối).
Người Phật-tử cho
sám-hối là phương-thức tốt-đẹp
nhất trong đường tu-hành của
mình. Sám-hối viên-dung
(dung-hợp đầy-đủ) cả sự, lý sẽ
được như kinh Nghiệp-báo
sai-biệt nói: “Người gây tội
nặng, thâm-tâm tự-trách, sám-hối
không làm nữa sẽ nhổ hết được
những tội căn-bản ”.
13.- PHÁT-NGHYỆN
Việc làm của con
người muốn đạt tới mục-đích
không thể không có một đề-án,
một chương-trình, một sư cam-kết
hay một sự hứa-hẹn. Người
Phật-tử bước chân vào đạo cũng
phải có sự hứa hẹn ấy, nhưng
theo danh-từ Phật-học gọi là
“Phát-nguyện.”
Phát nguyện có
nghĩa là tự đáy lòng chân thành
của mình phát-khởi ra lời
thề-nguyện (lời hứa-hẹn) tự-lợi,
lợi-tha rộng lớn, làm tiêu-chuẩn
cho mình tu-tiến, khả-dĩ xứng
đáng là Phật-tử, là vị Phật
tương lai.
Lời phát-nguyện
tùy theo tâm-niệm, hoàn-cảnh có
nhiều, nhưng đại-để chư Phật,
Bồ-tát, Thánh-tăng hay chúng ta
noi theo, có thể tóm-tắt trong
bốn điều chính-yếu này:
“Chúng-sinh vô-biên thệ-nguyện
độ. Phiền-não vô tận thệ-nguyện
đoạn. Pháp-môn vô-lượng thệ-nguyện học.
Phật-đạo vô-thượng thệ-nguyện
thành ”. (Chúng-sinh rất nhiều,
thề-nguyền xin độ hết. Phiền-não
rất nhiều, thề-nguyền xin bỏ
hẳn. Pháp-môn rất nhiều,
thề-nguyền xin học hết. Đạo Phật
cao siêu, thề-nguyền quyết đạt
thành).
Phát-nguyện là
một việc làm quan-trọng. Nó ghi
sẵn bước đường cần đi của người
Phật-tử. Nó đánh giá cả một tâm
niệm, một việc làm lùi hay tiến
của người Phật-tử.
14.- LỤC-HÒA
(6 pháp hòa kính)
Để trong một
đoàn-thể luôn luôn được sự
hòa-hợp, đức Phật nói ra sáu
pháp hòa-kính sau đây:
1.- Thân-hòa đồng
trụ: Thân hòa hợp cùng làm việc
Phật, cùng chung sống một nơi
với nhau.
2.- Khẩu-hòa vô
tránh: Miệng hòa không cãi-cọ
nhau, luôn luôn nói lời hòa-dịu,
lợi-ích, tụng-kinh, niệm Phật,
tán-dương công-đức Phật.
3.- Ý-hòa đồng
duyệt: Tâm-ý hòa cùng tin-tưởng,
vui-vẻ trao đổi lẫn nhau.
4.- Giới-hòa đồng
tu: Cùng hòa-hợp tu theo
giới-pháp của Phật.
5.- Kiến-hòa đồng
giải: Mọi sự hiểu biết
chân-chính, sâu rộng, đồng giải
tỏ cho nhau cùng hiểu.
6.- Lợi-hòa đồng
quân: Có quyền-lợi gì đồng chia
đều cho nhau cùng hưởng.
Sáu pháp hòa-kính
này, đem lại sự an-hòa cho mọi
người, để sống theo lời Phật
dạy, tinh-tiến trên đường
xây-dựng và giải-thoát.
15.- TAM-HỌC
(3 nền-tảng
tu-học)
Người học Phật
muốn hướng-thượng, cần phải đứng
trên ba nền-tảng tu-học sau đây:
1.- Giới-học:
Giới-luật để ngăn-ngừa và
trừ-diệt ba ác-nghiệp: thân,
khẩu, ý. Giới-học có ba loại:
a) Nhiếp-luật
nghi-giới: Các giới-luật,
uy-nghi của Phật-tử
tại-gia,
các bậc Sa-di
Thức-soa ma-na,
Tỳ-khưu,
Tỳ-khưu-ni, Bồ-tát
b)
Nhiếp-thiện-pháp-giới: Các pháp
lành như thập-thiện v.v…
c) Nhiêu-ích
hữu-tình-giới: Làm việc cứu khổ
cho vui đối với chúng-sinh.
2.- Định-học:
Thiền-định làm tâm-ý vẳng-lặng,
trong sạch không xáo-động.
Định-học có 8 bậc gọi là
“bát-định”: 4 thiền của Sắc-giới
là Sơ-thiền, Nhị-thiền,
Tam-thiền, Tứ-thiền và 4 định
của Vô sắc-giới là
Không-vô-biên-xứ,
Thức-vô-biên-xứ, Vô-sở hữu-xứ và
Phi-tưởng, phi-phi-tưởng-xứ.
3.- Tuệ-học:
Trí-tuệ quán-suốt chân-lý, dứt
bỏ mê lầm. Tuệ-học có 3 thứ:
Văn, tư, tu.
Nhân Giới sinh
Định, nhân Định phát Tuệ,
Niết-bàn giải-thoát do đó chóng
thành.
16.- TAM-TUỆ
(3 pháp sinh
trí-tuệ)
Trí-tuệ là sự
nghiệp.Người học Phật muốn
phát-sinh trí-tuệ, phải y theo
ba pháp sau đây:
1.- Văn-tuệ:
Nương vào chỗ nghe, học, tìm
hiểu kinh-giáo mà phát-sinh
trí-tuệ.
2.- Tư-tuệ: Nương
vào chỗ suy-nghĩ đạo-lý,
phát-sinh trí-tuệ.
3.- Tu-tuệ: Nương
vào chỗ tu-tập thiền-định,
phát-sinh trí-tuệ.
Ba pháp sinh
trí-tuệ này đạt được sẽ dứt trừ
mê-lầm và chứng được chân-lý.
17.-
BÁT-CHÍNH-ĐẠO
(8 con đường
chính)
Muốn chúng-sinh
diệt khổ, được vui, đức Phật dạy
chúng-sinh cần đi theo tám con
đường chính dưới đây:
1.- Chính-kiến:
Thấy biết chân-chính.
2.- Chính-tư-duy:
Suy-nghĩ chân-chính.
3.- Chính-ngữ:
Nói-năng chân-chính.
4.- Chính-nghiệp:
Hành-động chân-chính.
5.- Chính-mệnh:
Nghề sống chân-chính.
6.-
Chính-tinh-tiến: Gắng làm
chân-chính.
7.- Chính-niệm:
Nhớ-nghĩ đạo chân-chính.
8.- Chính-định:
Nhập thiền-định chân-chính,
vô-lậu và thanh-tịnh.
Phật-tử muốn
giác-ngộ chân-chính như Phật,
phải tu-tập Bát-chính-đạo.
18.-
TAM-THẬP-THẤT ĐẠO-PHẨM
(ba mươi bảy
đạo-phẩm)
Ba mươi bảy
đạo-phẩm này là ba mươi bảy món
tư-lương để đi tới Niết-bàn:
1.- Tứ niệm-xứ:
Bốn chỗ cần quán-niệm: a)
Quán-thân bất-tịnh: Quán-sát
thân-thể này là túi nhơ, không
sạch. b) Quán-thụ thị khổ:
Quán-sát những sự cảm-thụ là
khổ. c) Quán-tâm vô-thường:
Quán-sát tâm-thức luôn luôn
chuyển-biến không thường. d)
Quán-pháp vô ngã: Quán-sát tất
cả sự-vật đều không có cái “ta”
có tự-chủ.
2.- Tứ-chính-cần:
Bốn thứ siêng-năng chân-chính
(còn gọi là “tứ chính-đoạn, tứ
ý-đoạn, tứ chính-thắng”): a) Đối
với việc ác đã sinh phải trừ
hẳn. b) Đối với việc ác chưa
sinh không cho sinh. c) Đối với
việc thiện chưa sinh làm cho
sinh. d) Đối với việc thiện đã
sinh làm cho tăng-trưởng.
3.- Tứ như-ý-túc
(còn gọi là “tứ thần-túc”): Bốn
pháp thiền-định làm cho được
đầy-đủ như ý: a) Dục : Y vào sự
muốn tiến mà định phát-khởi. b)
Cần : (có chỗ gọi là “tiến”): Y
vào sức siêng tu, định
phát-khởi. c) Tâm (có chỗ gọi là
“niệm”): nhất tâm chuyên-trụ,
định phát-khởi. d) Quán (có chỗ
gọi là “tuệ”): quán-sát chân-lý,
định phát-khởi.
4.- Ngũ-căn: Năm
pháp căn-bản sinh ra các pháp
thiện khác: a) Tín-căn :
tin-tưởng Tam-bảo, Tứ-đế. b)
Tinh-tiến-căn (có chỗ gọi là
“cần”): Dũng mãnh tu pháp lành.
c) Niệm-căn : Nhớ-nghĩ
chính-pháp. d) Định-căn : Tâm
trụ vào một cảnh mà không
tán-loạn. đ) Tuệ-căn : Suy-nghĩ
tìm hiểu chân-lý.
5.- Ngũ-lực: Năm
thứ năng-lực để đối-trị với
ác-pháp, tức là năng-lực của năm
căn trên.
6.- Thất-giác-chi
(còn gọi là “thất Bồ-đề-phận,
thất giác-phận”): Bảy phần
hiểu-biết và quán-sát rõ-ràng
làm cho Định, Tuệ quân-bình: a)
Trạch-pháp : Dùng trí-tuệ
lựa-chọn sự thực, giả của các
pháp. b) Tinh-tiến : Dùng tâm
dũng-mãnh bỏ tà, theo chính. c)
Hỷ : Được thiện-pháp tâm vui
mừng. d) Khinh-an : Đoạn-trừ
phiền-não nặng-nề, thân-tâm
nhẹ-nhàng, an-vui. đ) Niệm : Nhớ
rõ Định, Tuệ không quên, làm cho
Định, Tuệ quân-bình. e) Định :
Tâm trụ một cảnh không tán-loạn.
g) Hành-xả : Bỏ những dối-trá,
mê-lầm và bỏ hết thảy trong
tư-tưởng, hành-động, giữ tâm
bình-thản.
7.- Bát chính
đạo: Tám con đường chính:
Chính-kiến, chính tư-duy,
chính-ngữ, chính-nghiệp,
chính-mệnh, chính tinh-tiến,
chính-niệm và chính-định.
19.- NHÂN-QUẢ
Một ý-nghĩ, một
lời nói, một hành-động, hay nói
chung là một pháp (sự-vật) đã có
sự phát-khởi ở ban đầu, đem lại
sự đáp-ứng cho phút cuối cùng,
đó là thuộc trong đạo-lý
nhân-quả.
Nhân là
nguyên-nhân, Quả là kết-quả.
Tỷ-dụ: học (nhân) thì biết chữ
(quả); trồng cây (nhân) thì có
trái (quả); đánh trống (nhân)
thì có tiếng (quả). Nhân-quả
chi-phối tất cả.
Nhân-quả rất
phức-tạp: Có khi nhân nào sinh
quả ấy. Có khi nhân tốt sinh quả
xấu; nhân xấu sinh quả tốt. Có
khi nhân không thể sinh ra quả
được vì thiếu trợ-duyên v.v…Nhân
làm quả; quả làm nhân,
chuyển-biến tế-nhị và linh-động
vô cùng trong lẽ tương-quan của
nó.
Thời-gian-tính
thực-hiện lý nhân-quả ấy cũng
không nhất định: Có khi có nhân,
có quả liền, như đánh chuông
thấy tiếng ngay. Có khi trồng
nhân hiện-tại, kết-quả trong
hiện-tại. Có khi trồng nhân
hiện-tại sẽ có kết-quả trong một
đời hay hai, ba hoặc nhiều đời
sau này. Nhưng, dù gần hay xa,
hễ có nhân, đủ duyên là có quả.
Người Phật-tử
hiểu rõ đạo-lý nhân-quả tức là
hiểu rõ được sự-vật, không bị
mê-lầm, không bị cám-dỗ và
cố-gắng trồng nhân tốt để hưởng
quả tốt; làm theo Phật sẽ thành
Phật như Phật. Thế là người
Phật-tử phải có trí-tuệ, phải có
đức tự-chủ, tự-tín: Không tin
thần-quyền, bói-toán, đồng-bóng,
vàng mã…, phải tích-cực sống
theo lẽ sống của đạo, mới
xứng-đáng là người Phật-tử
chân-chính.
20.- NHÂN-DUYÊN
Nhân-quả
hình-thành là nhờ có mọi duyên giúp đỡ.
“Nhân” là thứ có
năng-lực phát-sinh. “Duyên” là
những thứ giúp đỡ cho nhân kia
phát-sinh, tăng-trưởng và đưa
tới kết-quả. Tỷ-dụ: Hạt lúa
(nhân) nhờ có ruộng đất, cày
bừa, bón tưới…làm duyên thành
cây lúa và bông lúa (quả).
Người Phật-tử
hiểu lý “nhân-duyên”, tức là
hiểu rõ sự-sự, vật-vật trong
vũ-trụ này có ra là do sự
tác-hợp của mọi thứ mà thành,
không phải tự-nhiên có hay một
người nào tạo ra. Do đó có sự
tác-thành và tác-hại lẫn nhau,
nếu nó hòa-hợp hay không
hòa-hợp.
Lý nhân-duyên tạo
cho người Phật-tử một sự hiểu
biết chân-chính.
21.- LUÂN-HỒI
NGHIỆP-BÁO
Theo đạo-lý
nhân-quả, dù nhanh hay chậm, tốt
hay xấu…đã có nhân tất-nhiên
phải có quả và, quả sinh nhân,
nhân sinh quả, luẩn-quẩn,
loanh-quanh trong vòng luân-hồi
nghiệp-báo.
“Luân-hồi ” là
bánh xe quay. “Nghiệp-báo ” là
những hành-động tạo-tác nơi
thân, miệng, ý thế nào, một
thời-gian nhanh hay chậm nó sẽ
trả lại cái kết-quả như
hành-động, tạo-tác trước.
Làm thiện tiến
lên, làm ác trụt xuống, vòng
quanh trong sáu ngả: Thiên
(trời), nhân (người), A-tu-la
(Tàu dịch là Phi-thiên: 1 loại
quỉ-thần), địa-ngục, ngã-quỉ
(quỉ đói) và súc-sinh (loài vật)
như bánh xe quay tròn không dứt,
nên gọi là “luân-hồi, nghiệp-báo
” (hay nghiệp-báo luân-hồi).
Dứt hẳn luân-hồi
nghiệp-báo là một việc
khẩn-thiết đối với người Phật-tử
cầu tiến trên đường giải-thoát
thực-sự.
22.- NGHIỆP,
PHIỀN-NÃO, HOẶC, CHƯỚNG
NGHIỆP là những
hành-động, tạo-tác do 3 nơi
thân, miệng, ý.
Nghiệp có ba
tính: thiện, ác và vô-ký (không
thiện, không ác). Làm thiện là
“thiện-nghiệp”, làm ác là
“ác-nghiệp”, không thiện, không
ác là “vô-ký-nghiệp”. Đối với
những hành-động thiện, ác, vô-ký
ấy gọi là “nghiệp-nhân” và nó sẽ
đem lại những kết-quả: vui, khổ,
không vui, không khổ thời gọi là
“nhiệp báo, nghiệp-quả ”. Nghiệp
thuộc về đời đã qua là
“túc-nghiệp”. Nghiệp trong hiện
nay là “hiện-nghiệp ”.
Chỉ-định cho việc
làm, nghiệp còn có hai thứ nữa
là: “Biểu-nghiệp” và
“Vô-biểu-nghiệp”. “Biểu-nghiệp”
là chỉ cho những hành-động nơi
thân, miệng có thể biểu-lộ,
người ta trông thấy, nghe thấy
được. “Vô-biểu-nghiệp” là
hành-động do nơi ý-nghĩ, không
biểu-lộ ra, người ta không thể
trông thấy nhưng, nó không phải
là không kém phần tai-hại.
PHIỀN-NÃO là
những thứ mê-hoặc như: tham,
sân, si v.v…làm phiền cho tâm,
làm não cho thân; làm cho
chúng-sinh bị ràng-buộc,
buồn-phiền, đau-khổ trong vòng
sinh-tử luân-hồi.
HOẶC là tên riêng
của phiền-não và có nghĩa là
mê-lầm. “Hoặc” có 3 thứ:
1.- Kiến,
tư-hoặc: Tức kiến-hoặc và
tư-hoặc. “Kiến-hoặc” là cố-chấp
tư-tưởng tà-vạy (tà-kiến) không
thấu rõ chân-lý. “Tư-hoặc” là
tâm suy-nghĩ, tham-đắm sự-vật,
hoàn-cảnh. Do mê-lầm về lý
(kiến) và sự (tư) này làm
chướng-ngại cho sự hiểu biết.
2.- Trần-sa-hoặc:
“Trần-sa” là cát-bụi. Cảnh-giới
vô-số, chúng-sinh vô-lượng, tâm
mê-lầm của chúng-sinh cũng nhiều
như cát bụi. Do tâm mê-lầm này
không thấu-suốt được các
pháp-môn, làm chướng-ngại cho
hạnh lợi-tha của Bồ-tát, nên gọi
là “Trần-sa-hoặc”.
3.- Vô-minh-hoặc:
Sự mê-lầm sâu-dầy và vi-tế
che-lấp chân-lý thực-tướng
(tướng-trạng như-thực) của trung
đạo (đạo trung-dung) và làm
cỗi-gốc cho sự sống chết.
CHƯỚNG là tên
riêng của phiền-não. Phiền-não
làm chướng-ngại chính-đạo,
hư-hại thiện-tâm nên gọi là
“chướng”. Chướng có ba thứ:
1.-
Phiền-não-chướng: Những thứ như:
tham, sân, si v.v…
2.-
Nghiệp-chướng: Những hành-động
như giết cha, mẹ, A-la-hán,
Phật, phá hòa-hợp Tăng cùng làm
10 điều ác v.v…
3.- Báo-chướng:
Chịu khổ-báo trong địa-ngục,
ngã-quỉ, súc-sinh v.v…
Người Phật-tử
cố-gắng tạo nghiệp thiện. Nghiệp
thiện tăng thêm, phiền-não,
hoặc, chướng do đó sẽ bớt dần và
tiêu-diệt.
23.- THẾ-GIỚI
THẾ-GIỚI: Đổi
dời, lưu-chuyển là “thế ”. “Thế”
chỉ cho thời-gian quá-khứ,
hiện-tại và vị-lai. Có biên-giới
Đông, Tây, Nam, Bắc là “giới ”
“Giới” chỉ cho không-gian, như
đất-đai mà chúng-sinh nương ở.
“Thế-giới ” là chỉ chung cho
không-gian và thời-gian trong đó
có ý-nghĩa liên-tục và
chuyển-biến. “Thế-giới ” còn gọi
là “thế-gian ”.
Theo Phật-học,
thế-gian có 2 :
1.- Hữu-tình
thế-gian: Chỉ về thân-thể của
các loài chúng-sinh, do
nghiệp-nhân mà cảm chịu quả-báo
chính-thức về thân-thể ấy.
Quả-báo này gọi là “chính-báo”.
2.- Khí-thế-gian:
Chỉ về đất-đai, núi sông, nhà
cửa, áo mặc, cơm ăn…những vật ấy
là chỗ nương-tựa của chúng-sinh
để sống. Quả-báo này gọi là
“Y-báo”.
Trong vũ-trụ này
không biết bao nhiêu là
thế-giới. Một Thái-dương-hệ là
một tiểu, thế-giới. Một nghìn
tiểu-thế-giới thành một
tiểu-thiên thế-giới. Một nghìn
tiểu-thiên thế-giới thành
trung-thiên thế-giới. Một nghìn
trung-thiên thế-giới thành
đại-thiên thế-giới. Thế là tam
thiên đại-thiên thế-giới.
Thế-giới xoay-vần
không ngớt. Mỗi thế-giới đều
trải qua 4 thời-kỳ: thành, trụ,
hoại, không. Mỗi thời-kỳ gồm có
20 tiểu-kiếp. Mỗi kiếp chừng
16.000.000 năm. Hai mươi
tiểu-kiếp là một trung-kiếp. Hai
mươi trung-kiếp là một đại-kiếp.
Thế-giới
vô-thường, người Phật-tử phải
tìm lẽ chân-thường, như-thực.
24.- TAM-GIỚI
(Ba-cõi)
Tam-giới là ba
cõi. Là thế-giới của phàm-phu
còn phải đi, lại trong sinh-tử.
Thế-giới này chia làm ba phần:
1.- Dục-giới: Cõi
có ý-tưởng về ham-muốn dâm-dục
và ham muốn ăn-uống. Cõi này gồm
tất cả các loài hữu-tình trong 4
đại-châu: Đông thắng-thần-châu,
Tây-ngưu-hóa-châu,
Nam-thiệm-bộ-châu,
Bắc-câu-lô-châu, xuống đến
Vô-gián địa-ngục và lên đến sáu
cõi trời dục (Lục Dục-thiên):
Tứ-thiên-vương (Đông,
Trì-quốc-thiên, Nam,
Tăng-trưởng-thiên, Tây,
Quảng-mục-thiên, Bắc,
Đa-văn-thiên) Đao-lỵ-thiên,
Dạ-ma-thiên, Đâu-xuất-thiên,
Hóa-lạc-thiên và
Tha-hóa-tự-tại-thiên.
2.- Sắc-giới: Cõi
có những hình-sắc tinh-hảo về
thân-thể, cung-điện, quốc-độ và
bỏ được 2 thứ ham-muốn: dâm-dục,
ăn-uống của Dục-giới. Cõi Sắc
này gọi chung là cõi Tứ-thiền
(do tu 4 thiền-định mà thành):
Sơ-thiền có 3 cõi:
Phạm-chúng-thiên,
Phạm-phụ-thiên,
Phạm-vương-thiên. Nhị-thiền có 3
cõi: Thiểu-quang-thiên,
Vô-lượng-quang-thiên,
Quang-âm-thiên. Tam-thiền có 3
cõi: Thiểu-tịnh-thiên,
Vô-lượng-tịnh-thiên, Biến
tịnh-thiên. Tứ-thiền có 9 cõi:
Phúc-sinh-thiên, Phúc-ái thiên,
Quảng-quả-thiên, Vô-tưởng-thiên,
Vô-phiền-thiên, Vô-nhiệt-thiên,
Thiện-kiến-thiên. Thiện-hiện
thiên và Sắc-cứu-cánh-thiên.
3.- Vô-sắc-giới:
Cõi này không còn hình-sắc,
vật-chất, thân-thể, cung-điện,
quốc-độ, chỉ dùng tâm-thức trụ
vào thiền-định sâu xa, vi-diệu
mà thôi. Cõi này gọi chung là
cõi Tứ-không (4 nơi trống-rỗng):
Không-vô-biên-xứ,
Thức-vô-biên-xứ, Vô-sở-hữu-xứ và
Phi-tưởng, phi phi-tưởng-xứ.
Ba cõi không yên,
như trong nhà lửa, muốn rời bỏ
ba cõi phải quy-y Tam-bảo, tiến
tu tịnh-nghiệp.
25.- TỨ-ĐẾ
(4 lẽ chân-thực)
TỨ-ĐẾ là bốn lẽ
chân-thực rõ-ràng ai cũng có thể
tự chứng-nghiệm. Bốn lẽ
chân-thực ấy là:
1.- KHỔ-ĐẾ:
Chúng-sinh chưa thoát sự
ràng-buộc trong đời, đều phải
chịu những sự đau-khổ: sinh-khổ,
già-khổ, bệnh-khổ, chết-khổ,
ân-ái chia-lìa khổ, cầu không
được khổ, oán-ghét phải gặp khổ,
năm-ấm áp-bức đầy-dẫy khổ.
Đây là sự kết-quả mà chúng-sinh
gây nhân phải chịu.
2.- Tập-đế: Những
nguyên-nhân hành-động, tạo-tác
của chúng-sinh gây ra khiến
chúng-sinh phải chịu quả khổ
trên. (Tập-đế nói về 12
nhân-duyên).
3.- Diệt-đế: Muốn
hưởng quả Niết-bàn thanh-tịnh
giải-thoát, cần diệt-trừ
mầm-mống phiền-não.
4.- Đạo-đế: Con
đường chân-chính là nguyên-nhân
hướng-dẫn chúng-sinh đến quả-vị
Niết-bàn (con đường này là
“bát-chính-đạo”).
Bốn lẽ chân-thực
trên đây là chương-trình tu-tiến
của bậc Thanh-văn.
26.- THẬP-NHỊ
NHÂN-DUYÊN
(12 nhân-duyên)
Theo lý
nhân-duyên, sự-vật trong vũ-trụ
có nguyên-nhân phải có nhiều
trợ-duyên mới đem tới kết-quả.
Mười hai nhân-duyên này là sợi
giây chuyển-tiếp, tạo-thành các
sự-vật:
1.- Vô-minh: Sự
mê-lầm, nhận giả làm thực.
2.- Hành:
Hành-động sai-lầm.
(Hai nhân-duyên
này thuộc về nhân quá-khứ ).
3.- Thức:
Phân-biệt sai-lầm.
4.- Danh-sắc: Tâm
(tinh-thần) và sắc (vật-chất)
hòa-hợp nhau tạo ra vật-thể.
5.- Lục-nhập: 6
căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
ý xúc-nhập với 6 trần: sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp
thành hình-thể và sinh-trưởng.
6.- Xúc: Va-chạm
với cảnh-vật.
7.- Thụ: Cảm-thụ
sự đáp-ứng của cảnh-vật.
(Năm nhân-duyên
này là quả hiện-tại )
8.- Ái: Tham-ái
(ham muốn, yêu mến).
9.- Thủ: Giữ-gìn.
10.- Hữu: Gây sự
tạo-tác, sẽ có cái thân sau này.
(3 nhân-duyên này
là nghiệp-nhân hiện-tại )
11.- Sinh:
Sinh-mệnh.
12.- Lão, tử: Già
và chết.
(2 nhân-duyên này
là quả-báo vị-lai )
Mười hai
nhân-duyên trên đây là
chương-trình tu-tiến của bậc
Duyên-Giác.
27.- LỤC-ĐỘ
(6 pháp độ-thoát)
LỤC-ĐỘ là 6
phương-pháp vượt qua bể sinh-tử
đến bờ Niết-bàn. Sáu pháp này là
phương-châm thực-hành của các vị
Bồ-tát
Sáu pháp ấy là:
1.- Bố-thí: Mở
lòng từ-bi rộng lớn và
chân-thành đem của-cải, pháp-lợi và vô úy (không sợ-hãi) giúp đỡ
người khác.
2.- Trì-giới:
Giữ-gìn những giới-luật Phật chế
ra, để ngăn-ngừa tội-lỗi. Giới
có: Ngũ-giới, Sa-di-giới,
Thức-soa-ma-na-giới,
Tỳ-khưu-giới, Tỳ-khưu-ni-giới,
Bồ-tát-giới.
3.- Nhẫn-nhục:
Nhẫn chịu tất cả những hoàn-cảnh
thuận, nghịch ngay nơi mình và
chung-quanh mình.
4.- Tinh-tiến:
Làm cho thân-tâm tinh-thuần
thanh-tịnh và cố-gắng tiến tu
trước, sau 5 độ, hướng cầu đạo
giải-thoát. (Tinh-tiến thấp hơn
thì là 4 chính-cần trong 37
đạo-phẩm).
5.- Thiền-định:
Định-chỉ tâm tán-loạn và
quán-sát suy-nghĩ chân-lý. Pháp
thiền-định có nhiều nhưng,
tóm-tắt lại có 4 Thiền (Sơ, nhị,
tam, tứ thiền) 8 Định (4 thiền
và 4 định của Vô-sắc-giới).
6.- Trí-tuệ:
Thông suốt mọi pháp, dứt trừ
mê-lầm và chứng-nhập chân-lý.
Tu
trí-tuệ có 3: Văn (nghe), tư
(suy nghĩ) và tu (tu-hành).
Trừ mê, diệt khổ
là nguyện-vọng duy-nhất của
người Phật-tử đối với mình và
người. Muốn đạt nguyện-vọng ấy,
cần thực-hiện 6 pháp “độ” này.
28.- TỨ
NHIẾP-PHÁP
(4 phương-pháp
nhiếp-thụ)
TỨ-NHIẾP là bốn
phương-pháp thực-hành để dắt-dẫn
chúng-sinh, tin theo chính-đạo.
Bốn phương-pháp ấy là:
1.- Bố-thí: Theo
sự mong-muốn của chúng-sinh,
mình đem cho họ, do đó họ sinh
tâm thân-ái, tin theo chính-đạo
2.- Ái-ngữ: Theo
căn-tính chúng-sinh, nói ra
những lời nói hiền-lành, dịu-hòa
và an-ủi họ, do đó họ sinh tâm
thân-ái, tin theo chính-đạo.
3.- Lợi-hành:
Thực-hành những việc thiện về
thân, miệng, ý, đem lại lợi-ích
cho chúng-sinh, do đó chúng-sinh
sinh tâm thân-ái, tin theo
chính-đạo.
4.- Đồng-sự: Tùy
theo sự ưa muốn của chúng-sinh,
có khi phải phân-hình thị-hiện,
sống nhịp-nhàng với đời sống của
chúng-sinh, làm lợi ích cho
chúng-sinh, do đó chúng-sinh tin
theo chính-đạo.
Hạnh lợi-sinh là
hạnh chính của chư Phật. Tứ
nhiếp-pháp có giá-trị cao-đẹp,
biểu-lộ ý-chí cao-thượng của chư
Phật, người Phật-tử cần cố-gắng
thực-hành.
29.- TỪ-BI,
BÌNH-ĐẲNG
“Từ-bi,
bình-đẳng” là mục-đích, là
phương-pháp độ-sinh của đạo
Phật.
TỪ-BI: có nghĩa
là cho vui, cứu khổ. Tâm từ-bi
coi tất cả chúng-sinh như cha
mẹ, quyến-thuộc…, nên thường
nghĩ tới sự cho vui, cứu khổ họ.
Tâm từ-bi thương những người
cố-chấp nhân, ngã…, làm cho họ
hiểu sự-vật là “không”, để cho
họ khỏi khổ, được vui. Tâm từ-bi
thương-xót chúnh-sanh lăn-lộn
trong sinh-tử…, dầu là tâm không
duyên gì với họ, chư Phật vẫn
luôn luôn cho họ tự-nhiên được
sự lợi-ích trong sự cho vui, cứu
khổ.
BÌNH-ĐẲNG: Đối
với tất cả trong mọi sự đều bằng
nhau, không phân-biệt cao, thấp,
sang, hèn.
Tâm bình-đẳng đối
với chúng-sinh không có tư-tưởng
phân-biệt kẻ oán, người thân, vì
đồng chứng lý bình-đẳng của mọi
pháp. Mọi pháp đều sẵn tính
bình-đẳng, nên hết thảy
chúng-sinh đều bình-đẳng thành
Phật.
Người Phật-tử
nhận rõ sự bình-đẳng với tất cả
pháp, nên hòa mình trong sứ-mệnh
cho vui, cứu khổ không
phân-biệt.
30.- TỨ-ÂN
(Bốn ơn)
Người Phật-tử
sống giữa thế-gian cần phải biết
ơn, trả ơn bốn bậc có ơn sau
này:
1.- Ơn cha mẹ,
thầy dạy: Cha mẹ, thầy dạy là
bậc sinh-đẻ, nuôi-nấng và dạy
bảo ta khôn lớn, thành người, ta
phải hiếu-dưỡng, cung-kính,
tôn-trọng và ghi nhớ lời răn
dạy.
2.- Ơn xã-hội:
(chúng-sinh): Xã-hội với ta có
tương-quan mật-thiết. Xã-hội
giúp ta nhiều phương-diện sống
còn và thành-đạt, ta phải biết
ơn và thành-thực đem năng-lực
của ta giúp-đỡ mọi người,
xây-dựng một xã-hội yên-vui,
lành mạnh.
3.- Ơn quốc-gia:
Quốc-gia bảo-đảm và duy-trì cho
ta được an-cư, lạc-nghiệp, ta
phải có bổn-phận tin theo
quốc-chế, góp phần xây-dựng, làm
trọn nghĩa-vụ công-dân.
4.- Ơn Tam-bảo:
Phật, Pháp, Tăng đem lại cho ta
những gương-mẫu và những
phương-pháp biết sống trong yên
vui, vợi khổ, biết nhận lẽ chân,
giả, biết đường đi đến chỗ
giải-thoát chân-thực. Là Phật-tử
ta phải có lòng tin vững-chắc,
thực-tâm cung-kính, cúng-dàng,
hộ-trì và truyền-bá chính-pháp.
Người Phật-tử
nhận rõ bổn-phận mình đối với
bốn bậc có ơn, y theo giáo-lý
Phật dạy mà trả ơn là cách trả
ơn cao-thượng.
31.- CĂN, TRẦN,
THỨC, XỨ, GIỚI
1.- CĂN tức lục
(sáu) căn: nhãn-căn, nhĩ-căn,
tỵ-căn, thiệt-căn, thân-căn và
ý-căn (nghĩa là mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân và ý). “Căn ” có
nghĩa là căn-bản, chủ-động
phát-sinh ra ngành-ngọn khác,
như do mắt mà sinh ra sự
nhận-thức của mắt (nhãn-thức)
v.v…
2.- TRẦN tức lục
(sáu) trần và còn gọi là lục
(sáu) cảnh: sắc-trần,
thanh-trần, hương-trần, vị-trần,
xúc-trần, pháp-trần (nghĩa là
hình-sắc, giọng-tiếng hương-vị,
mùi-vị, va-chạm và các pháp.
“Trần” nghĩa là bụi-nhơ, là hết
thảy sự-pháp của thế-gian có
tính-cách nhiễm-ô chân-tính.
“Cảnh” là cảnh-sắc, là
hình-tướng, là duyên dính-líu
với tâm.
3.-THỨC tức lục
(sáu) thức: nhãn-thức, nhĩ-thức,
tỵ-thức, thiệt-thức, thân-thức,
ý-thức (nghĩa là sự phân-biệt
rõ-ràng về mắt v.v…). “Thức” là
tên riêng của tâm, có nghĩa là
liễu-biệt (phân-biệt rõ-ràng);
tâm đối với cảnh phân-biệt
rõ-ràng gọi là “Thức”. Ngoài 6
thức trên còn thêm thức thứ 7 là
Mạt-na-thức, Tàu dịch là “Ý” và
có nghĩa là “tư-lượng”
(suy-nghĩ, so-lường) và thức thứ
8 là A-lại-da-thức (Alaya) (Tàu
dịch là Tạng-thức).
4.- XỨ tức thập
nhị (mười hai) xứ, còn gọi là
thập nhị (mười hai) nhập, tức là
6 căn, 6 trần ở trên, thành 12
xứ hay 12 nhập. “Xứ” là 6 căn, 6
trần hòa-hợp, là nơi (xứ) làm
cho 6 thức nhận biết sự-vật.
“Nhập” là căn và cảnh thiệp-nhập
(liên-quan vào nhau) lẫn nhau mà
sinh ra “thức”.
5.- GIỚI tức thập
bát (mười tám) giới: 6 căn, 6
trần và 6 thức thành 18 giới.
“Giới” có nghĩa là giới-hạn,
địa-vị: mỗi mỗi thứ đều có
giới-hạn, địa-vị riêng-biệt của
nó mà không lẫn-lộn.
Căn, trần, thức,
xứ, giới không còn liễu-biệt
vọng-động, sẽ phát-sinh trí-tuệ.
32.- TÂM, Ý,
Ý-THỨC
TÂM có nghĩa là
“tập-khởi” (tập-hợp và
phát-khởi). Ý là thức thứ 7 có
nghĩa là “tư-lượng” (suy-nghĩ,
so-lường). Ý-THỨC là thức thứ 6,
có nghĩa là “liễu-biệt”
(phân-biệt rõ-ràng).
Theo sự phân-tích
thì tâm có 6 thứ:
1.-
Nhục-đoàn-tâm: tức là tâm-tạng,
trái tim bằng khối thịt.
2.- Duyên-lự-tâm:
tức là tâm nhận-thức, suy-nghĩ
khi đối-tượng với sự-vật.
3.- Tư-lượng-tâm:
tức là tâm suy-nghĩ, so-lường
tỷ-mỷ.
4.- Tập-khởi-tâm:
tức là tâm huân-tập các chủng-tử
(hạt-giống) và phát-khởi
hiện-hành (sự-vật do hành-động
hiển-hiện).
5.-
Kiên-thực-tâm: tức là tâm-tính
chân-như thường-trụ.
6.- Tích-tụ
tinh-yếu tâm: gồm chứa tất cả
nghĩa tinh-yếu trong kinh.
Y nghĩa tinh-yếu,
thanh-tịnh tâm, ý, ý-thức,
thể-nhập kiên-thực-tâm là
phương-châm rèn-luyện của
Phật-tử.
33.- NGŨ-UẨN
(5 thứ tụ-họp)
NGŨ-UẨN còn gọi
là “ngũ-ấm” (5 thứ ngăn che
chân-tính). Chữ “Uẩn” có nghĩa
là tụ-họp. “Ngũ-uẩn” là năm thứ
tụ-họp lại. Hết thảy hiện-tượng
(sự vật hiện có) tâm-tượng
(trạng-thái của tâm) đều do
nhiều yếu-tố
tụ-họp lại mà thành. Sự tụ-họp
này theo Phật-học thời có năm
thứ:
1.- Sắc-uẩn:
Hình-sắc: Tức là chỉ cho những
vật-chất hữu-hình như ngũ (năm)
căn: nhãn (mắt), nhĩ (tai), tỵ
(mũi), thiệt (lưỡi), thân và ngũ
(năm) trần (cảnh): sắc, thanh,
hương, vị, xúc cùng
“vô-biểu-sắc” (sắc-thái không
biểu-lộ, người ta không thấy
được).
2.- Thụ-uẩn:
Cảm-thụ. Tác-dụng của Tâm đối
với cảnh khởi ra sự cảm-thụ:
vui, buồn và không vui, không
buồn.
3.- Tưởng-uẩn:
Tưởng-tượng. Tác-dụng của tâm
đối với cảnh khởi ra sự
tưởng-tượng sự-vật.
4.- Hành-uẩn:
Công-năng tạo-tác. Tác-dụng của
Tâm đối với cảnh khởi ra
hành-động thiện, ác…(thuộc các
tâm-sở-pháp, trừ thụ, tưởng…)
5.- Thức-uẩn:
Nhận-thức, phân-biệt. Tác-dụng
của tâm đối với cảnh nhận-biết,
phân-biệt rõ-ràng sự-vật.
Thức-uẩn chia làm tám loại,
thường gọi là bát (tám) thức:
- Nhãn-thức: Mắt
nhận biết sắc-tướng.
- Nhĩ-thức: Tai
nhận biết thanh-âm.
- Tỵ-thức: Mũi
nhận biết hương-vị.
- Thiệt-thức:
Lưỡi nhận biết các mùi.
- Thân-thức: Thân
nhận biết các cảm-xúc như nóng,
lạnh, ngứa-ngáy…
- Ý-thức: Ý nhận
biết, phân-biệt rõ-ràng các
sự-vật đối-tượng dù hữu-hình hay
vô-hình.
- Mạt-na-thức
(Tàu dịch là Ý): Thức này
suy-nghĩ, so-lường và chấp-chặt
ngã-pháp.
- A-lại-da thức
(Tàu dịch là Tạng-thức): Thức
này là kho-tàng chứa-chất các
chủng-tử (hạt giống) và
phát-khởi hiện-hành (sự-vật do
hành-động hiển-hiện).
Người Phật-tử
tu-hành nhận rõ sự giả-hợp của
sự-vật, diệt-trừ vọng-tâm,
vọng-cảnh, chuyển tám thức thành
bốn trí:
- Chuyển
A-lại-da-thức thành
Đại-viên-kính-trí.
- Chuyển
Mạt-na-thức thành
Bình-đẳng-tính-trí.
- Chuyển Ý-thức
thành Diệu-quán-sát-trí.
- Chuyển nhãn,
nhĩ, tỵ, thiệt, thân-thức ra
Thành-sở-tác-trí.
34.- NGŨ ĐÌNH TÂM
(5 pháp làm dừng
vọng-tâm)
Ngũ-đình-tâm là
năm pháp tu quán-tưởng làm dừng
vọng-tâm lại:
1.-
Bất-tịnh-quán: Người có nhiều
tâm tham-dục, quán-sát thân-thể
và cảnh-giới là không
trong-sạch, để đình-chỉ tâm
tham-dục ấy.
2.- Từ-bi-quán:
Người hay giận-tức, quán-tưởng
tất cả chúng-sinh như cha mẹ,
quyến-thuộc…, sinh tâm
thương-xót: cho vui, cứu khổ, để
đình-chỉ tâm giận-tức ấy.
3.-
Nhân-duyên-quán: Người nhiều
ngu-si, quán-sát lẽ tiếp-nối của
mười hai nhân-duyên trong ba đời
(quá-khứ, hiện-tại, vị-lai), để
đình-chỉ sự ngu-si ấy.
4.- Giới
phân-biệt-quán: Người nhiều
ngã-kiến (kiến-thức, tư-tưởng,
thấy biết của cái Ta), quán-sát
thân ta hay sự-vật đều do sự
giả-hợp của địa, thủy, hỏa,
phong, không, thức (hay thời),
sáu giới-phận ấy mà thành, cùng
quán-sát mười tám giới: 6 căn, 6
trần, 6 thức đều là giả-dối, để
đối-trị ngã-kiến ấy.
5.- Sổ-tức-quán:
Người tâm hay toán-loạn, đếm hơi
thở ra, vào bằng cách
tinh-chuyên, để đối-trị tâm
tán-loạn ấy.
Pháp quán “Ngũ
đình-tâm” là phương thuốc chữa
bịnh: tham, sân, si, tán-loạn và
chấp-ngã. Người Phật-tử tu,
chứng không thể bỏ qua năm pháp
này.
35.- HỮU-VI,
VÔ-VI
- HỮU-VI chỉ cho
những sự-vật do nhân duyên
tạo-tác mà thành như: năm căn,
năm cảnh (trần), vô-biểu-sắc
v.v…Nhân-duyên năng-sinh
(năng-lực sinh ra…) là cái
tạo-tác ra sự-vật sở-sinh (cái
bị sinh ra). Sự-vật sở-sinh
quyết-định có sự tạo-tác của
nhân-duyên ấy nên gọi là
“hữu-vi-pháp”. Hữu-vi-pháp dù
trong một sát-na hay trong một
kỳ-hạn nào, nó đều trải qua 4
tướng-trạng: sinh, trụ, dị,
diệt.
- VÔ-VI: chỉ cho
chân-lý, có nghĩa là không còn
nhân-duyên tạo-tác, không còn 4
tướng-trạng: sinh, trụ, dị,
diệt. Vô-vi còn có những tên
riêng như: Niết-bàn, Pháp-tính,
Thực-tướng, Pháp-giới v.v…
Say-đắm hữu-vi
phải lăn-lộn trong sinh-tử,
hướng-tiến vô-vi là Niết-bàn
giải-thoát.
36.- HỮU-LẬU,
VÔ-LẬU
“LẬU” nghĩa là
dò-rỉ. “Lậu” là tên riêng chỉ
cho phiền-não.
Sự-vật hàm-tàng
phiền-não là “hữu-lậu”. Hết thảy
sự-thể trong thế-gian là
“hữu-lậu”. Sự-thể xuất-thế-gian,
xa phiền-não là “vô-lậu”.
- HỮU-LẬU (còn
tạo-tác, còn dò-rỉ) đối với
chúng-sinh do hành-động tạo-tác
gây thành phiền-não, phải
sa-rơi, lăn-lộn trong sinh-tử.
- VÔ-LẬU (không
còn tạo-tác, không còn dò-rỉ)
đối với chúng-sinh tu-tiến
diệt-trừ phiền-não, không phải
lăn-lộn trong vòng sinh-tử.
Hữu-lậu vô-lậu
nói lên những sự vẩn-đục,
trong-sạch, lên cao, xuống thấp
trong từng tâm-niệm của
chúng-sinh.
37.- VÔ-NGÃ,
VÔ-THƯỜNG
Sự-sự, vật-vật
trong vũ-trụ đều do nhân-duyên
tác-hợp, không có gì là có
tự-thể, tự-chủ độc nhất, nên
Phật-học cho là “VÔ-NGÔ, nghĩa
là nó không có cái “ta” có
tự-thể, tự-chủ, thường hằng
bất-biến.
Sự-vật đã không
có tự thể, tự-chủ, thường hằng
bất-biến, tức là nó luôn luôn
biến-chuyển, tương-tục từng một
niệm, từng sát-na, không
cố-định, thường còn, nên
Phật-học cho là “VÔ-THƯỜNG”.
Người Phật-tử
nhận-xét sự-vật hay nhận-xét
bản-thân thấy là “vô-ngã,
vô-thường”, làm cho người
Phật-tử không chấp đắm và cố-thủ
cho là “ta”, là “của ta”, là
“thường còn”, là “đoạn-tuyệt”,
tức là dễ-dàng trong sự hỷ-xả,
chóng đạt tới mục-đích
giải-thoát.
38.- VÔ-THỦY,
VÔ-CHUNG
Sự-vật đã bị
chi-phối trong lý nhân-quả, thì
thời-gian-tính của nó là
liên-tục.
Nhân thành quả,
quả thành nhân, sinh diệt không
ngừng, nên không thể cho nó là
có lúc ban đầu và có lúc sau
cùng. (Đó là hướng về tính-cách
tuyệt-đối mà nói). Với thời-gian
liên-tục ấy Phật-học gọi là
“VÔ-THỦY (không có lúc ban đầu),
VÔ-CHUNG” (không có lúc sau
cùng).
Người Phật-tử
nhận rõ tính-cách vô-thủy,
vô-chung của thời-gian sẽ cố gây
nhân lành để được quả tốt, mà
không sợ mất-mát.
39.- VÔ-BIÊN,
VÔ-TẬN
Đứng trên sự
duyên-khởi và liên-lạc của
sự-vật do tạo-tác mà có, thời nó
có tính-cách hết sức rộng lớn,
không cùng-tận, không biên-giới;
vì thế-giới nhiều, chúng-sinh
nhiều, tâm-hạnh nhiều…, nên
“vô-biên, vô-tận ”.
Đứng trên
vô-vi-pháp là những pháp không
phải có bằng sự tạo-tác, xa-lìa
hết thảy tướng sinh-diệt, không
còn bị ngăn-ngại; tự-tại
viên-dung trong pháp-giới, không
biên-giới, không cùng-tận… nên
là “vô-biên, vô-tận ”.
Nhận-chân sự-vật
hữu-vi, vô-vi, biết rõ lẽ rộng
lớn của nó, người Phật-tử khởi
lên tâm vô-thượng rộng lớn, để
sẽ chứng-nhập pháp-thân<!--[if
!supportFootnotes]-->[55]<!--[endif]-->
rộng lớn và giải-thoát cứu-cánh.
40.- PHÁP-GIỚI,
PHÁP-TÍNH
- PHÁP-GIỚI: Đứng
về mặt sự mà nói thời “pháp” là
các pháp (sự-vật), “giới” là
ranh-giới. Các pháp đều có
tự-thể nhưng, chia ra từng
ranh-giới bất-đồng của mỗi pháp,
nên gọi là “pháp-giới ”.
Pháp-giới trong
khung-cảnh hẹp-hòi là chỉ cho
mỗi pháp nhưng, trên phạm-vi
rộng lớn, nó là tượng-trưng cho
đại-khối vạn-hữu. Do đó,
Hoa-Nghiêm-gia tạm chia
pháp-giới thành 10 loại: 1.-
Phật pháp-giới. 2.- Bồ-tát
pháp-giới. 3.- Duyên-giác
pháp-giới. 4.- Thanh-văn
pháp-giới. 5.- Thiên-pháp-giới.
6.- Nhân-pháp-giới. 7.- A-tu-la
pháp-giới. 8.- Quỉ-pháp-giới.
9.- Súc-sinh pháp-giới. 10.-
Địa-ngục pháp-giới.
Đứng về mặt lý mà
nói, pháp-giới chỉ cho lý-tính
chân-như, hoặc gọi là “chân-như,
pháp-tính, thực-tế, thực-tướng”.
Tới đây chữ “giới” có nghĩa là
“tính”, là tính sở-y của các
pháp lại là các pháp đồng một
tính, nên gọi là “pháp giới”.
Tóm lại,
PHÁP-GIỚI là ranh-giới của các
pháp và cũng là thể-tính của các
pháp
- PHÁP-TÍNH:
Thể-tính của các pháp là
chân-như thực-tướng. Chân-như là
bản-thể của vạn pháp; ở nơi
nhiễm, nơi tịnh, nơi hữu-tình,
nơi vô-tình tính nó không
biến-đổi, nên gọi là
“PHÁP-TÍNH”.
Pháp-tính có
nhiều tên gọi: Chân-như,
pháp-giới, pháp-tính,
bất-hư-vọng-tính,
bất-biến-dị-tính,
bình-đẳng-tính, ly-sinh-tính,
pháp-định, pháp-trụ, thực-tế,
hư-không-giới, bất-tư-nghị-giới,
vô-ngã-tính, không-tính,
vô-tướng, thắng-nghĩa,
thực-tướng, tự-tính
thanh-tịnh-tâm, Phật-tính,
Pháp-thân, Như-lai-tạng,
Niết-bàn…
Chứng-nhập
pháp-tính là mục-đích tu-hành
cứu-cánh của Phật tử.
41.- SINH-TỬ,
GIẢI-THOÁT, NIẾT-BÀN
SINH-TỬ là một
hình-tướng của hết thảy
chúng-sinh do tác-động mê-lầm
chiêu-cảm. Sinh-tử theo nghĩa
Phật nói trong kinh Tăng-già-tra
thì “Thức diệt là tử, Thức khởi
là sinh”. Có nghĩa là: cái do 5
uẩn tụ-họp bắt đầu nẩy ra là
sinh, 5 uẩn rã-rời là tử.
Sinh-tử, tử-sinh; sinh-sinh,
tử-tử như vòng lửa quay tròn,
tất nhiên phải chịu nhiều sự
đau-khổ.
GIẢI-THOÁT là
cởi-mở sự ràng-buộc, được tự-do,
tự-tại. Giải-thoát đây là cởi-mở
sự ràng-buộc của tác-động
mê-lầm, thoát khỏi khổ-quả trong
cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô-sắc.
Nghĩa là thoát-ly cảnh sinh-hoạt
bó buộc, khổ đau trong sinh-tử
luân-hồi, phục-hồi lại năng-tính
tự-tại, tiến đến nơi giải-thoát
Niết-bàn không sinh-diệt.
NIẾT-BÀN nghĩa là
diệt-trừ hết phiền-não
ràng-buộc, vượt khỏi sinh-tử
luân-hồi, chứng-nhập nơi
yên-tịnh, sáng-suốt, tự-tại.
Sinh-tử là
thế-giới ràng-buộc, đau-khổ;
giải-thoát, Niết-bàn là
trạng-thái tự-tại, trong-sạch,
sáng-suốt, an-vui và thường còn.
42.- NHỊ-ĐẾ.
TAM-ĐẾ
“Đế” có nghĩa là
đạo-lý chân-thực không hư-vọng.
- NHỊ-ĐẾ: Hai thứ
đạo-lý chân-thực:
1.- Chân-đế:
Thực-nghĩa của chân-lý. Là
thực-nghĩa mà các bậc Thánh nhận
thấy. Còn gọi là “Thắng-nghĩa-đế
”.
2.- Tục-đế:
Thực-nghĩa của việc thế-tục. Còn
gọi là “Thế-đế ”.
-TAM-ĐẾ: Ba thứ
đạo-lý chân-thực:
1.- Không-đế:
Sự-vật do nhân-duyên-sinh là
giả-hợp nhưng, thể-tính
chân-không không có giả-tướng
của các pháp. Còn gọi là “Chân
đế ”.
2.- Giả-đế:
Thể-tính tuy không nhưng, vẫn
đầy-đủ các pháp. Còn gọi là
“Tục-đế”.
3.- Trung-đế:
Trung là “trung-dung”. Ý nói các
pháp xưa, nay không ra ngoài có,
không và cũng không tức nơi có,
không, dung-thông tất cả.
Tam-đế do nơi
tam-quán (3 pháp quán-sát):
không-quán, giả-quán và
trung-quán mà ra.
Quán-sát sự-vật
là không-giả, là thế-đế,
bình-đẳng chứng-nhập trung-đế,
chân-đế là thực-nghĩa của
chân-lý.
43.- NHỊ TRÍ, TAM
TRÍ, TỨ TRÍ
“Trí” là trí-tuệ.
Sự hiểu biết trong thứ-bậc
tu-chứng khác nhau, nên trí-tuệ
cũng do đó mà phân-định khác
nhau.
-NHỊ TRÍ: Hai thứ
trí-tuệ:
1.- Căn-bản-trí:
Trí-tuệ không phân-biệt, hiểu rõ
các pháp là chân-như bình-đẳng.
Và, do trí này phát-sinh các
trí-tuệ khác nên gọi là “căn-bản”.
Căn-bản-trí còn gọi là:
như-lý-trí, vô-phân-biệt-trí,
chính-thể-trí, chân-trí,
thực-trí.
2.- Hậu-đắc-trí:
Trí-tuệ sau khi chứng được
thực-tính của chân-như mà hiện
ra, không sinh chấp trước
mê-muội là có thực-ngã,
thực-pháp. Hậu-đắc-trí còn gọi
là: như-lượng-trí, hữu
phân-biệt-trí, tục-trí, biến-trí.
- TAM TRÍ: Ba thứ
trí-tuệ:
1.-
Nhất-thiết-trí: Biết rõ tướng
chung của hết thảy pháp (tướng
chung tức là “không-tướng”).
Trí-tuệ này là trí-tuệ của
Thanh-văn, Duyên-giác.
2.- Đạo-chủng-trí:
Biết hết thảy mọi đạo-pháp sai
biệt. Trí-tuệ này là trí-tuệ của
Bồ-tát.
3.- Nhất-thiết
chủng-trí: Đây là trí-tuệ của
Phật. Trí-tuệ của Phật viên-minh,
thông-suốt hết thảy mọi pháp về
tổng-tướng (tướng chung)
biệt-tướng (tướng riêng), biết
đạo-pháp của chư Phật,
nhân-chủng của chúng-sinh,
hóa-đạo chúng-sinh dứt trừ
mê-hoặc.
-TỨ TRÍ: Bốn thứ
trí-tuệ. Bốn trí-tuệ này do tu
chuyển 8 Thức mà thành:
1.- Chuyển thức
thứ 8 thành Đại-viên-kính-trí.
Trí này đối với hết thảy
cảnh-tượng sáng-suốt, tỏ-rõ như
tấm gương sáng, các mầu sắc hiện
đủ trong ấy
2.- Chuyển thức
thứ 7 thành “Bình-đẳng-tính-trí”.
Quán-sát hết thảy pháp đều
bình-đẳng, hiểu suốt lý
bình-đẳng vô-ngã.
3.- Chuyển thức
thứ 6 thành “Diệu-quán-sát-trí”.
Quán-sát rành-rẽ những tướng của
các pháp.
4.- Chuyển nhãn,
nhĩ, tỵ, thiệt, thân-thức thành
“Thành-sở-tác-trí”. Trí-tuệ
biến-hóa thành mọi sự, để làm
lợi-ích cho Thanh-văn,
Duyên-giác và phàm-phu.
44.- GIÁC
Chữ “giác” tiếng
Phạm gọi là Bồ-đề (Bodhi).
“Giác” có 2 nghĩa: Giác-sát và
Giác-ngộ. “Giác-sát” nghĩa là
xét biết việc ác, không bị
xâm-hại. “Giác-ngộ” là khai-ngộ
chân-lý.
Giác có: tự-giác,
giác-tha, giác-hành viên-mãn.
A-la-hán<!--[if !supportFootnotes]-->[56]<!--[endif]-->
chứng phần tự-giác, Bồ-tát đủ
tự-giác, giác-tha, Phật đủ cả
tự-giác, giác-tha, giác-hành
viên-mãn.
“Giác” còn có
nhiều danh-từ chỉ cho thứ-bậc
giác-ngộ như sau:
- BẢN-GIÁC: Là
tâm-thể chúng-sinh, tự-tính
thanh-tịnh, lìa bỏ hết thảy
vọng-tưởng, có tính-đức
sáng-suốt hiểu biết. Bản-giác là
tính-đức sẵn có như thế, không
phải tu-tập mà thành. Tức là
pháp-thân Như-Lai.
- THỦY-GIÁC:
Chúng-sinh bị vô-minh phiền-não
che lấp chân-tính nhưng, nhất
đán do công tu-trị, vọng-tâm hết,
mới bắt đầu khởi lên tri-giác,
khế-hợp với bản-giác gọi là “Thủy-giác”.
- BẤT-GIÁC:
Bất-giác là địa-vị phàm-phu, có
nghĩa là không giác-ngộ. Nhưng,
bất-giác đây còn có nghĩa là
hiểu biết tương-đối, chưa biết
được như thực-pháp chân-như.
- TƯƠNG-TỰ-GIÁC:
Bồ-tát trong địa-vị Thập-trụ<!--[if
!supportFootnotes]-->[57]<!--[endif]-->,
Thập-hạnh<!--[if !supportFootnotes]-->[58]<!--[endif]-->,
Thập hồi-hướng<!--[if !supportFootnotes]-->[59]<!--[endif]-->
phát-sinh trí-tuệ tựa như
giác-ngộ chân-thực, để chế-phục
các phiền-não.
- TÙY-PHẬN-GIÁC:
Trí giác-ngộ của hàng Bồ-tát
Sơ-địa trở lên, tùy theo sự hiểu
biết về niệm-trụ (trụ nơi
vọng-niệm) vô-niệm-trụ (trụ nơi
không vọng-niệm) mà chứng-ngộ.
- CỨU-CÁNH-GIÁC:
Sự giác-ngộ cùng cực của hàng
Bồ-tát mà đại-hạnh đã viên-mãn
rốt-ráo. Cứu-cánh-giác tức là
quả-vị Phật.
Trở về Bản-giác
là mục-đích tối-cao của người
tu-hành Phật-giáo.
45.- TAM-THÂN
(3 thân)
Chư Phật có ba
thân là Pháp-thân, Báo-thân và
Ứng-hóa-thân.
1.- PHÁP-THÂN:
Chân-thân của Phật, đầy-đủ
vô-lượng pháp-công-đức. Còn gọi
là “tự-tính-thân” là thể-tính
chân-như pháp-giới thanh-tịnh,
bình-đẳng của hết thảy pháp.
2.- BÁO-THÂN: Do
gây nhân công-đức nhiều đời mà
hiển-thị thân Phật trang-nghiêm.
Thân này còn gọi là “Thụ-dụng-thân”:
Nơi mình do tu-tập nhiều
công-đức, được sắc-thân
thanh-tịnh và được hưởng
pháp-lạc rộng lớn nhiệm-mầu, gọi
là “Tự-thụ-dụng-thân”. Đối với
hàng Thập-địa<!--[if !supportFootnotes]-->[60]<!--[endif]-->
Bồ-tát, chư Phật thị-hiện
sắc-thân, hiện đại-thần-thông,
chuyển pháp-luân (quay xe pháp)
làm cho các vị khỏi ngờ, được
thụ-dụng pháp-lạc của Đại-thừa,
như thế gọi là “Tha-thụ-dụng-thân”.
3.- ỨNG-HÓA-THÂN:
Do Phật-trí biến-hóa nhiều thân,
tùy theo căn-cơ chúng-sinh mà
hóa-độ. Ứng-hiện-thân trong
Thập-địa Bồ-tát là “Thắng-ứng-thân”.
Ứng-hiện-thân trong phàm-phu,
Thanh-văn, Duyên-giác là “Ứng-liệt-thân”.
Tam thân Phật là
chân-như, do công-đức từ-bi,
trí-tuệ mà có.
46.- TAM-ĐỨC
(3 đức)
Tùy theo tính,
tướng, nhân, quả, lợi mình, lợi
người, Phật-học chia tam (ba)
đức ra các loại sau đây:
1.- Đại-Niết-bàn
có ba đức, đầy-đủ cả thường (thường
hằng, không thay-đổi), lạc (an-vui
chân-thực), ngã (tự-tại không
chướng-ngại), tịnh (trong-sạch
thực-sự) là: Pháp-thân, Bát-nhã
và Giải-thoát.
- PHÁP-THÂN:
Bản-thể của Phật, lấy pháp-tính
thường-trụ bất-diệt làm thân.
- BÁT-NHÃ:
Trí-tuệ. Trí-tuệ của Phật hiểu
biết rõ-ràng trạng-thái các pháp
như-thực, bình-đẳng, không thêm,
bớt, sinh, diệt.
- GIẢI-THOÁT:
Xa-lìa hết thảy sự ràng-buộc;
được tự-tại.
2.- Về phần lợi
mình, lợi người, chư Phật có ba
đức: Trí-đức, Đoạn-đức và Ân-đức
- TRÍ-ĐỨC: Phá
hết thảy sự mê-lầm không biết;
đầy-đủ vô-thượng-giác.
- ĐOẠN-ĐỨC:
Đoạn-trừ hết thảy phiền-não;
đầy-đủ vô-thượng Niết-bàn.
- ÂN-ĐỨC: Đầy-đủ
tâm đại-bi, cứu giúp hết thảy
chúng-sinh.
3.- Về phần
nhân-quả, chư Phật có ba đức:
Nhân-viên-đức, Quả-viên-đức và
Ân-viên-đức.
- NHÂN-VIÊN-ĐỨC:
Sự tu-hành trong ba đại-kiếp
viên-mãn.
- QUẢ-VIÊN-ĐỨC:
Trí-đức, đoạn-đức đều hoàn-toàn
viên-mãn.
- ÂN-VIÊN-ĐỨC: Độ
hết thảy chúng-sinh được
giải-thoát hoàn-toàn.
Toàn-thể ba đức
trên, chứng-thực sự giác-ngộ cao
cả của chư Phật và lòng thương
vô-biên của chư Phật.
47.- BỔN-PHẬN
NGƯỜI PHẬT-TỬ
Trí-tuệ, từ-bi và
sự-thực là ba yếu-điểm trong
giáo-lý Phật-đà.
Y-cứ vào giáo-lý
ấy người Phật-tử cần phải
thực-hành:
1.- Đối với
bản-thân a) Bỏ dần dục-vọng,
ích-kỷ, tập sống đời sống tự-chủ
giải-thoát, rộng-rãi, phát-triển
điều lợi mình, giúp người. b)
Nhận rõ sự-vật đều vô-thường,
chuyển-biến theo định-luật
nhân-quả, phá bỏ tà-chấp, phát
ý-chí dũng-mãnh, quyết thắng
dục-vọng, hướng theo đường
chân-chính, xây-dựng một
lý-tưởng vững-vàng trên đường
tu-học, giác-ngộ.
2.- Đối với Tam-bảo:
Có lòng tin chân-chính,
vững-chắc. Tinh-tiến tu-học đúng
giáo-lý Phật, hộ-trì và
truyền-bá chính-pháp của Phật.
3.- Đối với
gia-đình: Hiếu-thảo cha mẹ,
hòa-thuận anh em, vợ chồng,
họ-hàng thân-thích…, hướng-dẫn
gia-đình trên đường thiện-chính
và xây-dựng gia-đình trên
nền-tảng Phật-hóa.
4.- Đối với
xã-hội: Đem tinh-thần từ-bi
bình-đẳng phục-vụ xã-hội và
xây-dựng xã-hội trên tinh-thần
hiểu-biết, hòa-hợp, an-vui
chân-thực trong giáo-lý Phật-đà.
Ý-tưởng
thanh-tịnh, lời nói thanh-tịnh,
hành-động thanh-tịnh, hiểu biết
rốt-ráo, thực-hiện lòng thương
rộng lớn là bổn-phận người
Phật-tử.
PHẦN THỨ HAI
LỊCH-SỬ
“Noi công-nghiệp
trước, xét sự việc nay,
đặt-định
chương-trình xây-dựng cho mai
sau”.
A.- LỊCH-SỬ CHƯ
PHẬT
1.- THẤT PHẬT
THẾ-TÔN
(7 đức Phật
Thế-Tôn)
Phật-học chia
thời-gian làm ba thời-kỳ:
quá-khứ Trang-nghiêm-kiếp,
Hiện-tại Hiền-kiếp và vị-lai
Tinh-tú-kiếp. Trong mỗi thời-kỳ
này đều có một nghìn đức Phật ra
đời độ sinh. Danh hiệu chư Phật
rất nhiều nhưng, trong kinh
thường thường nói tới danh-hiệu
bảy đức Phật Thế-Tôn (thất Phật
Thế-Tôn) tức là chỉ vào ba vị
cuối cùng trong kiếp quá-khứ và
bốn vị trong kiếp hiện-tại. Bảy
vị ấy là:
1.- Đức Phật
Tỳ-Bà-Thi (Vipassin) con vua
Bàn-đầu (Bandhumant) và bà
Bàn-đầu-bà-đề (Bandhumati) thuở
quá-khứ.
2.- Đức Phật
Thi-Khí (Sikhin) con vua
Minh-tướng (Aruna) và bà
Quang-diệu (Pabhàvati), thuở
quá-khứ.
3.- Đức Phật
Tỳ-Xá-Phù (Vessabhù) con vua
Thiện-đăng (Suppatita) và bà
Xưng-giới (Yasavati) thuở
quá-khứ.
4.- Đức Phật
Câu-Lưu-Lôn (Kakusandha) con ông
Tự-đắc (Aggidatta) và bà Thiện-chi
(Visàkhà) kiếp Hiện-tại.
5.- Đức Phật
Câu-Na-Hàm (Konàgamana) con ông
Đại-đức (Yannadatta) và bà
Thiện-thắng (Uttarà) kiếp
Hiện-tại.
6.- Đức Phật Ca-Diếp
(Kassapa) con ông Phạm-đức (Brahmadatta)
và bà Tài-chủ (Dhanavati) kiếp
Hiện-tại.
7.- Đức Phật
Thích-Ca Mưu-Ni Giáo-chủ đạo
Phật hiện-tại.
Còn vị kế-thừa
đức Phật Thích-Ca sau này là đức
Phật Di-Lặc.
2.- ĐỨC PHẬT
THÍCH-CA MƯU-NI
Vị Giáo-chủ
Phật-giáo hiện-tại là đức Phật
Thích-Ca Mưu-Ni (Sàkya Muni).
Ngài là vị
Thái-tử tên là Tất-đạt-Đa (Siddhar-thà),
con vua Tịnh-Phạn (Suddhodana)
và Hoàng-hậu Ma-gia (Maya) nước
Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu) thuộc
Trung-Ấn-Độ. Ngài giáng-sinh tại
vườn Lâm-tỳ-ni (Lumbini) vào
ngày trăng tròn tháng hai Ấn-độ,
tức tháng tư âm-lịch Trung-hoa (theo
phong tục nước ta làm lễ
khánh-đản Ngài vào ngày mồng tám
tháng tư âm-lịch).
Ngài thông-minh,
đĩnh-ngộ, tài-trí hơn người.
Ngài nhìn đời bằng con mắt từ-bi,
Ngài muốn phá tan sự bất công,
mê-tín… đương thời, đem lại chân
giá-trị cho con người, cho
chúng-sinh thoát khổ, được vui.
Ngài bỏ sự vinh hoa, khoái-lạc ở
đời đi xuất-gia tìm đạo năm Ngài
29 tuổi.
Vượt bao
chướng-ngại Ngài ngộ đạo năm 35
tuổi.
Sau khi giác-ngộ,
Ngài đi khắp nơi thuyết-pháp
suốt 45 năm ròng. Vừa năm 80
tuổi Ngài nhập Niết-bàn tại rừng
Sa-la, xứ Cưu-thi-la (Kusinagara).
Xá-lỵ Ngài được chia cho tám
nước xây tháp cúng-dàng.
Đó là đời Ngài.
Đời Ngài vì chúng-sinh, phục vụ
cho chúng-sinh… đem lại sự an
vui chân-thực cho muôn loài,
trong muôn thuở.
3.- ĐỨC PHẬT
A-DI-ĐÀ
A-Di-Đà (Amita)
có nghĩa là “Vô-lượng-quang” (sáng
láng không lường) “Vô-lượng-thọ”
(sống lâu không lường).
Theo kinh Bi-Hoa:
Thuở quá-khứ lâu xa, cõi San-đề-lam,
có ông vua tên là Vô-Tránh-Niệm.
Do ông Bảo-Hải đại-thần
khuyến-tiến, nhà vua gặp được
đức Phật Bảo-Tạng. Nhà vua thành
tâm cúng-dàng, quy-y, thụ-giáo
và phát-nguyện độ sinh, nên được
đức Phật Bảo-Tạng thụ-ký: sau
đây sẽ thành Phật hiệu là A-Di-Đà
(Amita) ở nước Cực-lạc phương
Tây. Hiện-tại Ngài đang
thuyết-pháp tại đó. Và, trong
một kiếp khác xa xưa, Ngài là
Pháp-Tạng Tỳ-khưu phát ra 48
đại-nguyện độ tận chúng-sinh,
nơi đức Thế-Tự-Tại-Vương Phật.
4.- ĐỨC DƯỢC-SƯ
LƯU-LY-QUANG NHƯ-LAI
Đức Dược-Sư
Lưu-Ly-Quang Như-Lai, tiếng Phạm
gọi là Bệ-sát-xã-lũ-rô (Bhaisajyaguruvaidùryap-radhàsa).
Ngài là vị
Giáo-chủ nước Tịnh-Lưu-Ly phương
Đông. Ngài có mười hai
đại-nguyện độ sinh. Ngài có hai
vị Bồ-tát phụ-tá là Nhật-Quang
biến-chiếu Bồ-tát và
Nguyệt-Quang biến-chiếu Bồ-tát.
B.- LỊCH-SỬ
BỒ-TÁT
1.- DI-LẶC BỒ-TÁT
Bồ-tát Di-Lặc,
gọi theo tiếng Phạm là Mai-đê-lê
(Maitrya) dịch nghĩa là “Từ”, là
tên họ, nên gọi chung là “Từ-thị”;
tên là A-dật-đa (Adjita) dịch
nghĩa là Vô-Năng-Thắng. Ngài
sinh trong họ Bà-la-môn, thuộc
Nam-thiên-trúc (Ấn-độ). Ngài là
vị kế-thừa đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni
làm Giáo-chủ cõi Sa-bà này trong
tương-lai. Hiện-tại Ngài đang
thuyết-pháp trên cung trời
Đâu-suất.
2.- QUÁN-THẾ-ÂM
BỒ-TÁT
Quán-Thế-Âm là
dịch nghĩa chữ A-va-lô-ky-tết-va-ra
(Avalokitesvara) của chữ Phạm và
có nghĩa là vị Bồ-tát quán-sát
tiếng kêu cầu của chúng-sinh
trong thế-gian, mà độ cho họ
được giải-thoát. Quán-Thế-Âm,
còn gọi là Quán-Tự-Tại.
Xưa kia Ngài là
con trai cả vua Vô-Tránh-Niệm
tên là Bất-Thuấn (Huyến). Ngài
được thân-thừa, cúng-dàng đức
Phật Bảo-Tạng và được thụ-ký:
sau này sẽ được hiệu là
Quán-Thế-Âm, phụ-tá bên cạnh đức
Phật A-Di-Đà ở cõi Cực-Lạc. Và,
sau nữa Ngài sẽ thành Phật hiệu
là “Phổ-Quang Công-Đức Sơn-Vương
Như-Lai” ở cõi “Chúng-bảo sở tập
trang-nghiêm”.
Ngài thường
thị-hiện nhiều thân để hóa-độ
chúng-sinh.
3.- ĐẠI-THẾ-CHÍ
BỒ-TÁT
Đại-Thế-Chí là
dịch nghĩa chữ
Mô-hát-tha-na-pờ-rất-ta (Mohasthanaprâta)
của chữ Phạm và, theo kinh
Quán-vô-lượng-thọ thời có nghĩa
là “dùng ánh sáng trí-tuệ soi
khắp hết thảy, khiến chúng-sinh
trong 3 đường ác được giải-thoát
và được năng-lực vô-thượng”.
Xưa kia Ngài là
con trai thứ vua Vô-Tránh-Niệm
tên là Ni-ma. Ngài được
thân-thừa, cúng-dàng đức Phật
Bảo-Tạng và phát-nguyện độ sinh
mà được thụ-ký: sau này sẽ được
hiệu là Đắc-Đại-Thế
(Đại-Thế-Chí), phụ-tá bên cạnh
đức Phật A-Di-Đà ở cõi Cực-Lạc.
Và, sau nữa Ngài sẽ thành Phật
tên hiệu là “Thiện-Trụ Công-Đức
Bảo-Vương Như-Lai” ở thế-giới
“Đại-thế”.
4.- VĂN-THÙ
BỒ-TÁT
Văn-Thù gọi đủ là
Văn-Thù-Sư-Lỵ và còn gọi là
Mạn-Thù-Thất-Lỵ (Manjusri).
Văn-Thù-Sư-Lỵ dịch nghĩa là
“Diệu-Đức, Diệu-Âm,
Diệu-Cát-Tường”. Xưa kia, Ngài
là con thứ ba vua Vô-Tránh-Niệm,
tên là Vương-Chúng Thái-tử. Do
cúng-dàng đức Phật Bảo-Tạng và
phát-nguyện độ sinh Ngài được
tên hiệu là Văn-Thù-Sư-Lỵ và
được thụ-ký: sau đây sẽ thành
Phật ở thế-giới Thanh-tịnh
Vô-cấu bảo-chỉ và tên hiệu là
Phổ-Hiền Như-Lai.
Ngài là vị Bồ-tát
hiểu-thấu Phật-tính, đầy đủ ba
đức: Pháp-thân, Bát-nhã,
giải-thoát và Ngài đem ba đức
vi-diệu ấy giác-ngộ chúng-sinh.
Ngài là vị có trí-tuệ nhiệm-mầu,
hiện-thân giúp đỡ sự truyền-bá
Phật-pháp của đức Phật Thích-Ca
Mưu-Ni.
5.- PHỔ-HIỀN
BỒ-TÁT
Phổ-Hiền là dịch
nghĩa chữ Tam-man-đa-bạt-đà-la
(Samantabhadra) của tiếng Phạm
(Ấn-độ). “Phổ-Hiền” là nói về
cái thể-tính rộng khắp. Xưa kia,
Ngài là con thứ tư vua
Vô-Tránh-Niệm, tên là
Năng-Đà-Nô. Do cúng-dàng đức
Phật Bảo-Tạng và phát-nguyện
độ-sinh, Ngài được thụ-ký: sau
đây làm hạnh Bồ-tát sẽ được tên
là Kim-Cương trí-tuệ quang-minh
công-đức, rồi sau sẽ thành Phật
ở thế-giới Bất-Huyến phương Đông
và tên hiệu cũng là Phổ-Hiền
Như-Lai. Ngài là vị Bồ-tát
hóa-thân giúp đỡ sự truyền-bá
Phật-pháp của đức Phật Thích-Ca
Mưu-Ni. Ngài có mười đại-nguyện
thừa-sự chư Phật, tự-tu và
độ-sinh.
6.- ĐỊA-TẠNG
BỒ-TÁT
Địa-Tạng là dịch
nghĩa chữ Khất-soa-để-nghiệt-sa
(Ksitigarbha) của tiếng Phạm.
“Địa-Tạng” có nghĩa là an-nhẫn
bất động như đại-địa, suy nghĩ
sâu xa kín-đáo như kho-tàng
bí-mật.
Tiền-thân của
Ngài theo kinh Địa-Tạng nói thì
rất nhiều nhưng, đều do
hiếu-hạnh và lòng từ-bi của Ngài
mà Ngài phát ra thệ-nguyện rộng
lớn: “địa-ngục rỗng không,
chúng-sinh độ hết mới thành
Phật”.
Trên cung trời
Đao-Lỵ đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni
phó-chúc cho Ngài cứu-độ
chúng-sinh sau khi Ngài nhập
Niết-bàn cho đến lúc đức Phật
Di-Lặc ra đời.
7.- CHUẨN-ĐỀ
BỒ-TÁT
Chuẩn-Đề (Candi)
có nghĩa là “thanh-tịnh”, là lời
tán-thán “tâm-tính thanh-tịnh”.
Ngài là vị Pháp-thân Bồ-tát,
thường được tôn-xưng là
“Thiên-Nhân Trượng-Phu Quán-Âm”,
là Thất-Câu-Chi Phật-Mẫu”. Ngài
thường thuyết Đà-la-ni cho
chúng-sinh tu-tập, cho tâm-tính
thanh-tịnh, để đạt tới chỗ
Đại-giác.
C.- LỊCH-SỬ
THÁNH-TĂNG, TỔ-SƯ
1.- THẬP ĐẠI
ĐỆ-TỬ
(10 vị Đại đệ-tử
của Phật)
Đức Phật Thích-Ca
Mưu-Ni độ rất nhiều đệ-tử nhưng,
có mười vị cao-đệ như sau:
1.- Ngài
Xá-Lỵ-Phất (Sariputra): Tàu dịch
là Thu-lộ-tử (con bà Thu-lộ. Bà
này có con mắt sáng như mắt chim
Thu-lộ). Ngài thuộc dòng
Bà-la-môn con ông Ưu-bà-đề-xá và
bà Xá-lỵ. Ngài là vị Trí-tuệ đệ
nhất.
2.- Ngài
Mục-Kiền-Liên (Maudgalyàyana):
Tàu dịch là Đại-tán-tụng (hay
tán-tụng). Ngài thuộc dòng
Bà-la-môn, tên cha là Câu-lỵ-ca,
tên mẹ là Mục-kiền-liên. Ngài là
vị Thần-thông (du-hành tự-tại)
đệ nhất.
3.- Ngài Ca-Diếp
(Kasyapa): Tàu dịch là Ẩm-Quang
(Át ánh sáng). Ngài người nước
Ma-kiệt-đà, dòng Bà-la-môn, thân
phụ là Ẩm-trạch, thân-mẫu là
Hương-chí, Ngài là vị đầu-đà
(Dhùta: khất-thực, khổ hạnh) đệ
nhất.
4.- Ngài
A-Na-Luật (Aniruddha): Tàu dịch
là Như-ý vô tham (được như ý,
không tham lam). Ngài là em
thúc-bá với Phật. Ngài là vị
Thiên-nhãn (mắt trông suốt) đệ
nhất.
5.- Ngài Tu-Bồ-Đề
(Subhùti): Tàu dịch là
Thiện-Hiện (sự diệu-thiện
hiển-hiện). Ngài con ông
Trưởng-giả thành Xá-vệ. Ngài là
vị Giải-không (hiểu rõ lẽ
chân-không) đệ nhất.
6.- Ngài
Phú-Lâu-Na-Di-Đa-La-Ni-Tử
(Pùrna-maitràyani-putra): Tàu
dịch là Mãn-từ-tử (con bà
Mãn-từ: đầy đủ lòng nhân-từ).
Ngài người xứ Ba-la-nại, trước
tu đạo Tiên, đắc đạo, sau quy-y
Phật là vị Thuyết-pháp đệ nhất.
7.- Ngài
Ca-Chiên-Diên (Kàtyàyana): Tàu
dịch là Tiễn-thế chủng (dòng cắt
tóc) dòng Bà-la-môn. Ngài quy
Phật, là vị Luận-nghị (bàn bạc)
đệ nhất.
8.- Ngài Ưu-Ba-Ly
(Upàli): Tàu dịch là Cận-thủ
(giữ lấy sự thiết-cận), thuộc
giai-cấp hèn-hạ. Ngài quy Phật
là vị Trì-luật (giữ luật) đệ
nhất.
9.- Ngài
La-Hầu-La (Rahula): Tàu dịch là
Phú-chướng (bị sự ngăn-che).
Ngài là con Phật, đi xuất-gia,
là vị Mật-hạnh (giữ hạnh
nhiệm-nhặt) đệ nhất.
10.- Ngài
A-Nan-Đà (Ananda): Tàu dịch là
Khánh-hỷ (vui mừng) là em
thúc-bá với Phật. Ngài đi
xuất-gia, là vị Đa-văn (nghe
nhiều) đệ nhất.
2.- HĂM TÁM VỊ
TỔ-SƯ ẤN-ĐỘ
Thiền-tôn Ấn-độ
tương-truyền được hai mươi tám
vị như sau:
1.- Ngài Ca-Diếp.
2.- Ngài A-Nan-Đà.
3.- Ngài
Thương-na-hòa-tu (Sànavàsa): Tàu
dịch là Ma-y (áo gai). Ngài là
đệ-tử ngài A-Nan. Ngài là người
ở nước Mạt-đột-la, họ Tỳ-xá-da,
thân-phụ là Lâm-Thắng, thân-mẫu
là Kiều-xa-da.
4.- Ngài
Ưu-bà-cúc-đa (Upagupta): Tàu
dịch là Đại-Hộ (giúp đỡ nhiều):
|