|
BÀI
TỤNG THỨ MƯỜI MỘT
Thiện vị: Tín, Tàm, Quý
Vô tham đẳng tam căn
Cần, An, Bất phóng dật
Hành xả cập Bất hạị
Dịch là:
Thiện gồm:
Tín, Tàm, Quý,
Vô tham thẩy ba căn
Cần, An, Bất phóng dật,
Hành xả và Bất hạị
Mười một món Tâm sở Thiện chỉ
tương ưng với các tâm thiện. Tất
cả có 11 thứ: Tín, Tàm, Quý, Vô
tham, Vô sân, Vô si, Tinh tấn,
Khinh an, Bất phóng dật, Hành xả
và Bất hạị
Tín là tánh của sự hiểu biết và
lòng tin sâu sắc vào phẩm chất
và nghiệp dụng của các pháp mà
vui lòng nhẫn chịu theọ Lòng tin
vào các thật tế về lý và sự của
các pháp hiện hữu, vào đặc tính
và phẩm chất thanh tịnh của Tam
bảo, vào các năng lực của thiện
pháp mà khởi tâm ham muốn, dũng
mãnh tu trì để vào được Thánh
đạọ Do đó đối trị được tâm bất
tín và giữ được tâm thanh tịnh.
Tàm là biết xấu hổ với chính
mình. Do sự hiểu biết của chính
mình hoặc do giáo pháp đã học
được mà đem lòng tôn kính các
bậc hiền thiện và ưa thích việc
lành. Xấu hổ với việc làm ác,
đối trị tâm không biết xấu hổ.
Quý là biết thẹn với ngườị Tánh
của tâm sở này là khi làm việc
ác hay việc gì sai quấy thì hay
hổ thẹn với người, do đó mà
không gần ngươi dữ và không làm
việc ác, đối trị với tâm không
biết thẹn và ngăn việc làm ác.
Vô tham, vô sân, vô si được gọi
chung Vô tham đẳng tam căn, là
ba thiện căn, là yếu tố cần
thiết để phát sinh điều thiện và
đối trị được ba độc tham, sân và
si, là những nguồn gốc của các
phiền nãọ
Cần là tinh tấn, chuyên cần,
siêng năng đoạn các việc dữ và
làm các việc lành. Nghiệp dụng
của nó là đối trị sự giải đãị
An là khinh an, là trạng thái
trầm tĩnh, luôn giữ cho thân tâm
được an nhàn, cởi mơ,û xa lìa
những gì rắc rối, thô trược, bực
bôi, khó chịụ Nghiệp dụng của nó
là đối trị hôn trầm, giữ thân
tâm được an vui, xa lìa các
chướng ngại cho sự thiền định.
Bất phóng dật là sự phối hợp của
tinh tấn với ba thiện căn vô
tham, vô sân, vô si, xa rời các
pháp ô nhiễm, vun trồng, bồi
dưỡng và tu trì các pháp thiện
trong thế gian và xuất thế gian.
Nghiệp dụng của nó là đối trị sự
giải đãi, buông lung và phóng
túng, luôn nghiêm mật tu trì hầu
đạt đạo quả.
Hành xả là không chấp trước, giữ
cho tâm luôn được yên tịnh khiến
được an trú nơi vô công dụng
hạnh, làm mà như không làm, làm
điều thiện mà không chấp trước.
Nghiệp dụng của nó là đối trị sự
lăng xăng trạo cử, xa lìa mọi
tạp nhiễm khiến tâm được bình
lặng trong trạng thái thiền định.
Bất hại là không làm tổn hại đến
các chúng sanh khác. Bản chất
của nó là vô sân. Không sân hận
nên không làm cho các chúng sanh
khác đau khổ hay bị tổn hạị Vô
sân và bất hại là hiển thị của
Từ và Bi, sự cứu khổ và ban vui
đến mọi người, lòng vị tha và
thương xót khiến đem lại an vui
và không làm tổn hại đến các
loài chúng sanh khác.
BÀI TỤNG THỨ MƯỜI HAI
Phiền não vị: Tham, Sân
Si, Mạn, Nghi, Ác kiến
Tùy phiền não vị: Phẫn
Hận, Phú, Não, Tật, Xan
Dịch là:
Phiền não gồm: Tham, Sân,
Si, Mạn, Nghi, Ác kiến.
Tùy phiền não gồm: Phẫn,
Hận, Phú, Não, Tật, Xan.
Các phiền não thuộc về Ác nghiệp
được chia làm 2 loại là Căn bản
phiền não và Tùy phiền nãọ
Căn bản phiền não gồm 6 món là
Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi và Ác
kiến. Tùy phiền não gồm 20 món
được chia làm 3 thứ là 10 thứ
Tiểu tùy, 2 thứ Trung tùy và 8
thứ Đại tùỵ
Tham là tham lam, đắm nhiễm,
muốn thủ đắc những gì ưa thích
như tiền bạc, sắc đẹp, danh
tiếng, ăn uống và ngủ nghỉ (tài,
sắc, danh, thực, thùy thuộc ngũ
dục). Nghiệp dụng của nó là
chướng ngại tánh Vô tham, là
nguyên nhân của khổ đau, khiến
bị lôi cuốn trong sanh tử luân
hồị
Sân là tánh khó chịu, bực mình,
ghét giận những gì không vừa ý,
khởi sinh nóng giận và khổ đau
khi gặp những chướng ngạị Nghiệp
dụng của nó là làm chướng ngại
tánh Vô sân và khởi lên các ác
nghiệp gây khổ não cho chúng
sanh khác khiến chìm đắm trong
tam giớị
Si là tánh vô minh mê muội đối
với mọi sự lý, không phân biệt
được đúng sai, phải quấỵ Nhiệp
dụng của nó là làm chướng ngại
tánh Vô si, là nguyên nhân khởi
sinh tánh nghi ngờ, tà kiến cùng
các căn bản phiền não khác,
khiến cho mê mờ ngụp lặn trong
tam giới lục đạọ
Mạn là tánh cao ngạo, luôn thấy
mình hơn người khác. Nghiệp dụng
của nó là làm chướng ngại tánh
không ngã mạn, khiến không được
khiêm tốn với người khác, là
nguyên nhân của khổ đau, sanh tử
luân hồị Tánh này sẽ đoạn được
khi tu tập đến địa vị Kiến Đạọ
Nghi là tánh do dự không quyết
định và không phân biệt rõ ràng
các nguyên tắc và đạo lý. Nghiệp
dụng của nó là nghi ngờ các
thiện pháp khiến các pháp này
không thể sanh khởi được.
Ác kiến là những nhận định và
xét đoán nhiễm ô và sai lầm đối
với các đạo lý và nguyên tắc, là
những sự hiểu biết không chơn
chánh. Nghiệp dụng của nó là làm
chướng ngại các thiện pháp và
chân đế, chiêu cảm sự khổ đau
trong sanh tử luân hồị Ác kiến
này lại được chia làm 5 loại:
- Thân kiến là chấp các uẩn cho
là ngã và ngã sở.
- Biên kiến là chấp đoạn, chấp
thuờng gây chướng ngại cho con
đường trung đạọ
- Tà kiến là kiến chấp sai lầm,
không nhận ra được luật nhân quả
và sự thật của mọi sự việc. Thí
dụ như mê tín dị đoan.
- Kiến thủ là chấp các tà kiến,
biên kiến và thân kiến là đúng.
Không chịu sửa đổi và không chấp
nhận sự thật.
- Giới cấm thủ là chấp vào các
giới cấm sai lầm do tà kiến
khiến chịu đựng khổ đau vô ích.
Như mù quáng thực hành những
giới cấm của tà đạọ
Do các Căn bản phiền não trên mà
phát sanh 20 thứ Tùy phiền não
được nói đến ở hai câu cuối của
bài tụng thứ 12, ở bài tụng thứ
13 và ở hai câu đầu của bài tụng
thứ 14, sẽ được bàn đến ở đoạn
saụ
BÀI TỤNG THỨ MƯỜI BA VÀ MƯỜI BỐN
Cuống, Siễm dữ Hại, Kiêu
Vô tàm cập Vô quý
Trạo cử dữ Hôn trầm
Bất tín tinh Giải đãi
Phóng dật cập Thất niệm
Tán loạn, Bất chánh tri
Bất định vị: Hối, Miên
Tầm, Tứ nhị các nhị.
Dịch là:
Dối, Nịnh và Hại, Kiêu
Vô tàm và Vô quý
Trạo cử với Hôn trầm
Không tin cùng Giải đãi
Phóng dật và Không nhớ
Tán loạn, Không chánh tri
Bất định gồm: Hối, Miên
Tầm, Tứ hai đều haị
Hai câu kệ sau của bài tụng thứ
mười hai
Tùy phiền não vị: Phẫn
Hận, Phú, Não, Tật, Xan
đi chung với bài tụng thứ mười
ba và mười bốn ở trên liệt kê 20
món Tùy phiền nãọ
Tùy phiền não gồm có 20 món,
chia ra làm 10 món tiểu tùy:
Phẫn, Hận, Phú, Não, Tật, Xan,
Cuống, Siễm, Hại, Kiêu; 2 món
trung tùy: Vô Tàm, Vô Quý; 8 món
đại tùy: Trạo Cử, Hôn Trầm, Bất
Tín, Giải Đãi, Phóng Dật, Thất
Niệm, Tán Loạn và Bất Chánh Trị
10 món tiểu tùy:
Phẫn là tánh hay tức giận khi
gặp điều không vừa ý hoặc khi có
ai làm trái ý mình. Tất cả những
lời nói, ý kiến hay hành động
của người khác không hạp với ý
mình đều có thể làm mình phiền
lòng và giận ghét. Tánh chất của
nó là làm chướng ngại tánh Vô
sân. Tánh chất của Phẫn là do
Sân mà rạ
Hận là sự tiếp nối của Phẫn, là
sự kéo dài của sự giận dữ khiến
không quên được những việc không
làm vừa ý mình. Nó làm chướng
ngại sự buông xả. Vì không buông
xả được nên luôn cảm thấy khổ
đau và phiền nãọ Tánh chất của
Hận cũng do Sân mà rạ
Phú là tánh hay che dấu những
điều xấu hay ác đã làm của mình
vì sợ mất quyền lợi hay danh dự
và thể diện. Nó làm chướng ngại
tâm ngay thẳng, không che dấu và
khiến cho luôn luôn bị bức rức,
không an tâm. Tánh này do Tham
mà rạ
Não nghĩa là não loạn do Phẫn,
Hận sanh ra, dễ nổi cơn nóng
giận, thịnh nộ khiến có những
lời nói thô bạo và hành động tàn
ác. Nó làm chướng ngại tánh
không não loạn. Tánh này cũng do
Sân mà rạ
Tật nghĩa là tật đố, đố kỵ,
không muốn thấy ai hơn mình.
Luôn chạy theo danh lợi, ghen
ghét khi thấy người khác thành
công hay làm gì hay hơn mình. Nó
chướng ngại tâm không tật đố và
khiến luôn ưu phiền vì lúc nào
cũng muốn hơn người khác. Tánh
tật đố là do Tham và Sân sanh rạ
Xan là tánh bỏn xẻn, xan tham,
không san xẻ và giúp đỡ aị Tham
lam, luôn giấu giếm, bòn góp tài
vật. Nó chướng ngại tánh không
xan và lòng từ thiện. Tánh này
do Tham mà sanh rạ
Cuống nghĩa là dối trá, là tánh
hay dối gạt, lừa dối để được lợi
dưỡng cả về danh lẫn tàị nó làm
trở ngại tánh ngay thẳng. Tánh
này do Tham và Si sanh ra làm
cho cuộc sống bị suy đồi, không
còn lương thiện. Người luôn dối
trá thì luôn tìm kế để nói dối
nên tâm không được an nhiên.
Siễm là tánh a dua, nịnh hót,
nói quanh co để làm vừa lòng
hoặc để tán dương người khác hầu
đem lợi dưỡng cho mình. Tánh này
chướng ngại tánh thành thật,
không nịnh hót và làm cho không
thể học hỏi và nghe lời chỉ dậy
của người khác. Tánh này do Tham
và Si gây rạ
Hại là tánh hay hại người khác.
Không có lòng từ bi và bác ái,
luôn có lòng ác độc, đố kỵ và có
ý muốn hãm hại người khác. Tánh
này làm chướng ngại tánh Vô hạị
Tánh này do Sân mà rạ
Kiêu là coi mình hơn người khác.
Tánh này làm trở ngại tánh khiêm
nhường, nhường nhịn. Tánh này do
Tham ái mà rạ
2 món trung tùy:
Vô tàm là tánh không biết hổ
thẹn với chính mình về những
việc xấu, ác, bất thiện đã làm.
Nghiệp dụng của Vô tàm là làm
chướng ngại tánh biết hổ thẹn
với chính mình, làm tăng trưởng
các điều ác.
Vô quý là tánh không đếm xỉa đến
người khác, không biết hổ thẹn
với mọi người xung quanh về
những việc ác và bất thiện đã
làm. Nghiệp dụng của tánh này là
chướng ngại tánh biết hổ thẹn
đối với tha nhân về những việc
làm bất thiện của mình khiến coi
thường những người tốt và tăng
trưởng các bất thiện pháp.
8 món đại tùy:
Trạo cử là tánh chao đảo, không
trầm tĩnh và không giữ tâm được
tĩnh lặng. Chướng ngại cho việc
hành xả, khinh an và tu chỉ tức
là không thể định tâm được.
Hôn trầm là tánh hay mệt mỏi,
không chú tâm được vào một vấn
đề gì. Không hòa hợp được thân
tâm để quán sát và suy tư về một
vấn đề gì. Thân tâm luôn trọng
trược, nặng nề, chướng ngại cho
sự khinh an, việc tu quán và sự
phát triển trí huệ. Tánh này do
Si sanh rạ
Bất tín là tánh không tin vào
các pháp lành, tâm bị ô nhiễm
không tin ở khả năng của mình và
phẩm chất của các pháp chân thật.
Vì không tin vào các pháp chân
thật nên thường hay lười biếng,
giải đãi, không tu trì và không
mong cầu giải thoát. Nghiệp dụng
của nó là chướng ngại tâm thanh
tịnh và sự tinh tấn.
Giải đãi là tánh lười biếng,
không chịu tu trì các pháp thiện
để xa rời nhiễm ô. Nghiệp lực
của nó là chướng ngại tánh tinh
tấn, không lo đoạn ác tu thiện
khiến tăng trưởng tánh nhiễm ô.
Phóng dật là tánh phóng túng và
buông lung. Không làm việc gì
được cẩn thận và không để ý đến
công việc đang làm khiến không
thể đoạn được việc ác và trở
ngại cho những việc lành. Nghiệp
dụng là làm chướng ngại tánh Bất
phóng dật, làm tăng trưởng việc
ác và tiêu trừ việc thiện. Tánh
này do giải đãi và tham, sân, si
sanh ra vì khiến không ngăn ngừa
được việc ô nhiễm và không tu
tập được pháp thanh tịnh.
Thất niệm là tánh hay quên,
không nhớ các việc đã trải qua
tức các cảnh đã duyên. Nghiệp
lực của nó là chướng ngại Chánh
niệm và đưa đến Tán loạn.
Tán loạn làm cho tâm bị rối loạn,
không nhất tâm được vào một việc
gì, cứ hết duyên cảnh này rồi
duyên cảnh khác. Nghiệp dụng của
nó là làm chướng ngại chánh định
và khởi sanh các ác huệ nghĩa là
không có trí huệ chân chính.
Bất chánh tri là không hiểu rõ
cảnh sở quán, nhiều khi hiểu sai
đi khiến trở ngại cho việc hiểu
biết đúng. Nghiệp dụng của nó là
chướng ngại chánh tri và là
nguyên do cho sự phạm các việc
ác, các giới cấm.
Bây giờ hãy bàn đến Bốn món Bất
Định Tâm Sở là Hối, Miên, Tầm và
Tứ ở hai câu cuối của bài tụng
thứ 14:
Bất định vị: Hối, Miên
Tầm, Tứ nhị các nhị.
Dịch là:
Bất định gồm: hối, miên
Tầm, tứ hai đều hai
4 món bất định tâm sở gồm có Hối,
Miên, Tầm và Tứ. Cả hai loại Hối
Miên và Tầm Tứ đều không nhất
thiết là thiện hay là ác, có khi
là thiện, có khi là ác nên luận
chủ nhấn mạnh là nhị các nhị.
Chúng cũng không nhất thiết phải
tương ưng với tất cả các thức
tâm vương như năm tâm sở biến
hành Xúc, Tác ý, Thọ, Tưởng và
Tư. Chúng cũng không nhất định ở
một cảnh nào mà duyên như năm
tâm sở biệt cảnh Dục, Thắng giải,
Niệm, Định và Huệ. Vì vậy chúng
được gọi là Bất Định Tâm Sở.
Hối là hối tiếc những việc ác
hay việc thiện đã làm, là cảm
giác sanh ra do tánh không thích
những việc làm ác hay là do tánh
không thích việc làm thiện. Nếu
hối tiếc những việc ác đã làm
thì hối này thuộc về thiện pháp,
nếu ngược lại chỉ hối những việc
thiện đã làm thì hối này thuộc
về bất thiện pháp. Nghiệp dụng
của nó là làm chướng ngại việc
giữ tâm được an nhiên tức là
chướng ngại việc tu chỉ.
Miên là tánh làm cho thân bị mệt
mỏi, tâm bị chướng ngại, không
chú tâm được. Khi đang làm việc
gì, hoặc là khi làm xong việc gì
rồi dù là thiện hay ác mà cứ suy
nghĩ, tính toán liên miên, không
biết phải làm gì, không nên làm
gì, hoặc là hối tiếc những việc
đã làm, cứ ấm ức suy nghĩ tới
lui mãi, tinh thần dễ bị mệt mỏị
Nghiệp dụng của nó là làm chướng
ngại việc tu quán khiến không
làm chủ được thân tâm.
Tầm là luôn luôn chạy theo cảnh,
hết theo đuổi tìm hiểu việc này
đến tìm kiếm việc khác.
Tứ là suy nghĩ sâu, theo dõi,
truy cập chi tiết vào việc đã
theo đuổi và tìm kiếm lúc đầụ Tứ
là sự theo đuổi, dò xét và tìm
hiểu các cảnh một cách sâu xa và
tế nhị còn Tầm thì theo đuổi và
tìm kiếm có tánh chất hời hợt và
thô thiển hơn.
Thí dụ, nếu thấy một cô gái đẹp
thì khởi niệm muốn biết tên tuổi
của cô tạ Đó là bắt đầu của sự
truy tầm. Sau đó bỏ công theo
dõi để biết thêm về gia thế của
cô đó, cô ấy ở đâu, bao nhiêu
tuổi, con cái của ai, học trường
nào, sở thích của cô ta, v.v..
thì đó là tiến trình của Tứ.
Nếu theo đuổi, tìm kiếm và suy
nghĩ tính toán về các việc thiện
thì hai Tầm và Tứ này thuộc về
thiện pháp, nếu ngược lại chỉ
thích tính toán và theo đuổi
những việc có hại cho người khác
thì hai pháp này thuộc về bất
thiện pháp. Thí dụ, được người
thân dắt đi chùa, từ đó khởi tâm
tìm hiểu về sinh hoạt của chùa,
tìm hiểu giáo lý Phật đà, khởi
tín tâm, tìm cách thân cận và
học hỏi nơi các vị tu sĩ và
thiện tri thức trong Phật giáo
thì đó là sự Tầm Tứ hướng về
Thiện pháp. Còn như theo dõi tìm
hiểu rõ về sinh hoạt của một
người giầu có nào đó với mục
đích làm một kế hoạch để tống
tiền thì sự Tầm và Tứ này thuộc
về Bất Thiện pháp.
Tóm lại hai cặp Hối Miên và Tầm
Tứ này tùy theo cái dụng của
chúng mà có thiện và có ác chứ
không nhất định phải là ác hay
là thiện nên bài tụng nói nhị
các nhị nghĩa là hai đều hai,
hai đều hai cả hai pháp này đều
có cả hai tánh thiện và ác,
không nhất thiết là thiện cũng
không nhất thiết là ác, cặp tâm
sở này khi thì là thiện khi thì
là ác tùy theo mục đích, nghiệp
dụng của chúng. Do đó chúng được
xếp loại là Bất Định Tâm Sở.
|