| |
Tại
vương quốc Kô-xa-la (Kosala), dưới chân
một dãy núi, có một ngôi làng xinh xinh
tên là Ma-ti-ka (Matika). Một hôm, sáu
mươi Sa môn cung kính đảnh lễ Ðức Thế Tôn,
lãnh thọ yếu chỉ thiền quán, rồi đến ngay
làng này khất thực. Ðây là ngôi làng trù
phú, dân cư đông đúc và rất mực thuần
thành với quý sư. Trưởng làng là Ma-ti-ka,
một Phật tử trung kiên và gương mẫu trong
mọi công tác phật sự. Bấy giờ mẹ của
Ma-ti-ka, một ưu bà di nhân hậu, đứng nhìn
đoàn Sa môn đang lặng lẽ đếm từng bước
thiền hành dưới bóng xoài râm mát, bà sung
sướng đem nhiều lễ vật ra cúng dường quý
sư và hỏi:
- Xin thưa... quý sư định đi đâu?
- Ðến nơi nào tạm ổn, thưa cụ.
Hiểu được tâm trạng các Sa môn đang cần
một nơi an cư trong mùa mưa, bà liền quỳ
xuống, đảnh lễ và thưa:
- Nếu quý sư an trú ba tháng nơi đây thì
thật là phúc cho cả làng, chúng con sẽ có
dịp thọ trì tam quy ngũ giới và thân cận
với quý sư.
Thấy lời thỉnh nguyện chân thành của một
cụ bà chánh tín, các sư chấp thuận và có
cùng một ý nghĩ:
- Lành thay! Chúng ta đã gặp thiện duyên.
Vậy là khỏi bận tâm về chuyện ẩm thực và
trú xứ. Chỉ còn nỗ lực tu tập sao cho
tương xứng với tấm lòng tinh khiết của bá
tánh thập phương.
Thế là mẹ của Ma-ti-ka đích thân lo việc
xây dựng một tu viện và nhiều am thất làm
nơi tịnh tâm tu dưỡng cho các Sa môn.
Trước tinh thần hộ trì Tam bảo cao cả của
cụ bà khả kính, các sư, một hôm, nhóm họp
giữa chánh điện, và Thượng tọa trưởng đoàn
đã thốt lên những lời phát nguyện đầy cảm
kích, quyết tâm tu tập và sách tấn cho
nhau:
- Thưa quý huynh đệ, chúng ta đã có duyên
lành sanh được làm người, được Ðức Thế Tôn
thọ ký và trao truyền giáo pháp, được thập
phương thí chủ lân mẫn hộ niệm; vậy chúng
ta hãy ra công tu tập, cần mẫn tinh
chuyên, hàng phục vọng niệm để khỏi phụ
lòng đàn na tín thí, và nhất là khỏi rơi
vào tình trạng hoang mang lo sợ như đàn cá
trong ao mỗi ngày một cạn nước. Chắc quý
huynh đệ đều nhận thấy rằng ân đức và đạo
nghiệp của Ðức Thế Tôn không thể đền đáp
bằng tâm ý buông lung, vọng cầu thất niệm.
Mô Phật, xin quý huynh đệ niệm tình cho
cái tội trực ngôn tự đáy lòng này.
Không ai bảo ai, tất cả đều chấp tay, cúi
đầu xá trong im lặng.
Sau đó mỗi sư về tịnh thất riêng của mình
với thỏa thuận rằng: nếu có ai ngã bệnh
thì đến chánh điện thỉnh ba tiếng chuông,
tất cả tăng chúng sẽ đến thăm và giúp đỡ
bệnh nhân.
Một hôm, trong khi các sư đang nhập thất
tịnh tu, thì cụ bà Phật tử cùng với một
nhóm gia nhân đem bơ, sữa, mạch nha, mật
ong v.v... đến cúng dường Tăng đoàn nhưng
không thấy ai trong tu viện. Bà hỏi vài ba
Phật tử lân cận thì họ cho biết là các sư
đang chuyên tâm tu niệm trong am thất,
không ra ngoài. Nếu muốn gặp họ thì đến
chánh điện thỉnh ba tiếng chuông. Bà làm
theo lời hướng dẫn và thấy các sư lác đác
đến từ khắp mọi phía. Bà thầm nghĩ:
- Hẳn là các sư đã có chuyện bất hòa với
nhau rồi!
Sau khi đảnh lễ Tăng đoàn, bà lên tiếng
thưa:
- Kính bạch chư sư, chẳng hay các sư có gì
chưa vừa ý? Có tranh luận, cãi vã gì
không? Sao Tăng đoàn trông có vẻ rời rạc
thế này?
- Dạ, không có gì vướng mắc. Thượng tọa
trưởng đoàn đáp. Chúng tôi đang tu tập
thiền định, đang quan sát và quán chiếu 32
thành phần cấu tạo cơ thể, gọi là niệm
thân, thưa cụ!
- Quán chiếu các thành phần cơ thể để làm
chi?
- Ðể biết thân này vốn do duyên sanh,
không có thật tánh; để thấy rõ bốn sự thật
cao cả: sanh-lão-bịnh-tử mà Ðức Thế Tôn đã
tuyên dương sau ngày thành đạo cho năm
người bạn cũ của Ngài.
- Chỉ có các sư mới được phép thực hành
thiền định, quán chiếu sắc thân? Phật tử
chúng con tu tập như vậy được không?
- Ðược chứ, thưa cụ! Pháp môn thiền định
đâu chỉ dành riêng cho ai.
- Vậy thì xin các sư hướng dẫn cho chúng
con với.
- Hay thay, thưa cụ!
Các sư dạy cho bà thực tập pháp môn quán
niệm về 32 thành phần cấu tạo sắc thân, và
chỉ trong một thời gian ngắn, bà chứng đắc
ba thánh quả: Tu-đà- hoàn, Tư-đa-hàm,
A-na-hàm; bốn phép thần thông: thần túc
thông, tha tâm thông, thiên nhãn thông,
thiên nhĩ thông, và vượt qua ba cõi: dục
giới, sắc giới và vô sắc giới.
Bằng cái nhìn liễu ngộ siêu việt và niềm
hoan hỷ đạt đạo, bà tự nhủ:
- Không biết đến bao giờ các sư mới đạt
thánh quả! Các sư còn nhiều bận bịu quá!
còn bị vướng kẹt trong vòng xích tham sân
si. Các sư quán chiếu nhiều mà chưa nếm
được hương vị thiền duyệt.
Nhưng sau đó bà nhận thấy các sư cũng có
đủ nhân duyên và phương tiện hành trì giáo
pháp như y phục, phòng xá, thuốc thang
v.v... nhất là năng lực nội quán thanh
lương của các sư để đạt đến đạo quả. Bà
thiết lễ trai tăng tại nhà với nhiều lễ
vật và thực phẩm đặc biệt rồi thỉnh Tăng
chúng đến thọ thực. Trong lúc chứng trai,
các sư chú tâm về ba mục tiêu: nguyện đoạn
nhứt thiết ác, nguyện tu nhứt thiết thiện,
thệ độ nhứt thiết chúng sanh; và năm phép
quán về tự thân: 1. Xem xét khả năng thiền
định. 2. Ðánh giá đức hạnh tu hành. 3.
Hàng phục tham tâm vọng tưởng. 4. Nghĩ
thực phẩm là thuốc hay. 5.Vì đạo nghiệp mà
thọ thực. Trong lúc nhứt tâm quán niệm,
các Sa môn bỗng thấy thân tâm khinh an,
thanh tịnh và chứng quả A-la-hán. Họ cùng
nhau tán thán:
- Lành thay! Cao quý thay công đức hộ trì
Tam bảo. Nếu không có lễ Trai Tăng hôm
nay, chúng ta hẳn không bao giờ chứng
thành đạo quả.
Sau đó, Tăng chúng quyết định về hầu thăm
Ðức Bổn Sư. Họ cùng nhau đến thăm và ngỏ
lời tạm biệt vị ân nhân cao quý được xem
như mẹ hiền.
- Kính bạch tôn thân, hôm nay chúng con về
thăm Ðức Từ Phụ, xin cảm ơn đôi tay từ ái
của mẹ, chúc mẹ ở lại mạnh khỏe trong ánh
hào quang của chư Phật.
- Lành thay! Chúc các sư lên đường bình
an. Và cho đệ tử kính lời hầu thăm Ðức Thế
Tôn.
Khi tăng chúng về đến Xá Vệ, họ đảnh lễ
Ðức Thế Tôn và cung kính ngồi sang một
bên. Ðức Thế Tôn hỏi:
- Các thầy tu hành tiến bộ chứ? Có gì trở
ngại trong việc sinh hoạt, ẩm thực và trú
xứ không?
- Bạch Thế Tôn, chúng con đã gặp thiện
duyên, đã được một Phật tử Ưu bà di hết
lòng hộ đạo nên ba tháng an cư của chúng
con rất hanh thông, tốt đẹp. Bà là mẹ của
Ma-ki-ta. Bà đọc được tâm trạng và ý nghĩ
của chúng con nên bà hộ trì vật thực rất
chu đáo.
Một Sa môn nghe quý huynh đệ tán thán công
đức của nữ thí chủ liền muốn đến đó tham
thiền.
Sau khi thọ lãnh yếu chỉ thiền quán từ Ðức
Thế Tôn, sư đảnh lễ Ngài, ngỏ lời tạm biệt
Tăng chúng, từ giã tu viện Kỳ Viên, và
thẳng đường đến làng Ma-ti-ka. Vừa vào tu
viện, sư liền nghĩ: “Ta nghe nói có một
tín nữ biết rõ tâm tư nguyện vọng của
người khác. Ước gì giờ đây có người đến
quét dọn tu viện chứ ta mệt lắm rồi, cuộc
hành trình dài quá!” .
Thế là bà liền cho người đến vấn an sức
khỏe sư và quét dọn phòng ốc sạch sẽ.
Từ đó sư nghĩ cần thức ăn thức uống gì thì
bà liền cho người mang đến ngay.
Ðược ít lâu, sư thầm nghĩ: “Nữ thí chủ này
đọc được từng ý nghĩ của ta. Ta phải gặp
bà tận mắt. Ước gì bà đích thân mang lễ
vật đến chùa lễ Phật cho ta thăm một chút”
.
Bà liền đem lễ vật đến thăm sư.
Trong lúc thọ thực, sư hỏi:
- Thưa cụ, cụ là mẫu thân của Ma-ti-ka?
- Ðúng vậy, bạch Ðại đức.
- Cụ đã đắc tha tâm thông?
- Sao sư hỏi thế?
- Cụ đã đáp ứng mọi nhu cầu theo ý nghĩ
của tôi.
- Biết bao Sa môn cũng hiểu được như vậy.
- Tôi không hỏi người khác. Tôi đang hầu
chuyện với cụ.
Bà cụ vẫn một mực tìm cách tránh né câu
trả lời.
Bấy giờ vị Sa môn liền tự nghĩ: “Ta đang ở
trong một tư thế lúng túng nhất. Cư sĩ mà
có thần thông, thấy được tư tưởng cao
thượng hay thấp hèn của người khác. Nếu
như ta khởi tâm vọng niệm sai lầm thì chắc
là bà sẽ vồ vào đầu ta như tóm chặt một
tên trộm. Khiếp quá! Ôi thôi, tốt nhất là
ta phải rời khỏi nơi này” . Sư nói:
- Thưa cụ, tôi muốn đi đây.
- Sư sẽ đi đâu?
- Về thăm Ðức Thế Tôn.
- Hãy ở lại đây thêm một thời gian nữa,
bạch Ðại đức.
- Không thể ở lâu hơn nữa. Tôi dứt khoát
phải đi thôi, thưa cụ.
Và thế là sư tạm biệt bà, lên đường trở về
với Ðức Thế Tôn.
Vừa gặp sư, Ðức Thế Tôn hỏi:
- Thầy không ở đó nữa sao?
- Bạch Thế Tôn, con không thể ở đó được
nữa.
- Vì sao thế?
- Bạch Thế Tôn, cụ bà Phật tử đó biết rõ
từng ý nghĩ của con. Con nhận thấy cư sĩ
mà có thần thông, phân minh, tách bạch
được tư tưởng cao thượng hay thấp hèn của
người khác. Nếu như con khởi tâm vọng niệm
sai lầm thì chắc bà sẽ vồ vào đầu con như
tóm chặt một tên trộm. Khiếp quá! Bạch Thế
Tôn, con phải về lại thôi.
- Này, đó chính là nơi cho thầy an tâm tu
tập.
- Con không thể, bạch Thế Tôn. Con không
dám ở đó nữa.
- Ơ kìa! Vậy thầy có thể phòng hộ một điều
duy nhất không?
- Dạ!... Bạch Thế Tôn, ý Thế Tôn ... con
chưa hiểu!
- Hãy phòng hộ tâm tư, tức điều phục tư
tưởng, vì tư tưởng khó nhiếp phục lắm. Hãy
thúc liễm tâm tư, đừng để tâm dong ruổi,
vì tâm tư khó hàng phục lắm.
Ngài đọc kệ:
Tâm đổi thay khó
kiểm,
Vun vút theo dục trần,
Lành thay điều phục tâm,
Ðiều tâm thì an lạc.
(PC. 35)
Theo lời Ðức Thế Tôn, sư trở lại tu viện
và, sau một thời gian hành thiền, sư cũng
chứng quả A la hán với sự trợ giúp chân
tình của cụ bà hảo tâm và đầy thần lực. |
|