| |
Trích
chương 10
NGHỆ THUẬT TẠO HẠNH PHÚC - THE ART OF
HAPPINESS - Tác Giả: ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA và
Bác Sĩ HOWARD C. CUTLER. Dịch Giả: Tỳ kheo
THÍCH TÂM QUANG
Ngày
xưa có một đệ tử của một triết gia Hy Lạp
được sư phụ ra lệnh trong ba năm cho tiền
bất cứ người nào chửi mình. Khi thời gian
thử thách này trôi qua, vị sư phụ nói với
ông, "Bây giờ con có thể đến thành Athens để
học về sự thông thái". Khi người đệ tử vào
thành Athens, ông gặp một người thông thái
ngồi tại cổng thành và chửi tất cả mọi người
đi qua. ông ta cũng chửi luôn người đệ tử,
khiến người đệ tử bật cười. "Tại sao ông
cười khi tôi chửi ông?" người thông thái hỏi.
Người đệ tử trả lời, "vì lẽ trong ba năm
trời, tôi đã phải trả tiền cho ai chửi tôi,
nay ông chửi tôi mà tôi không phải trả tiền".
Người thông thái nói, "Vào thành đi, tất cả
là của ông đó".
Những
cha cố Sa Mạc thế kỷ thứ tư, một loạt những
người lập dị, rút vào vùng Sa Mạc Scete, hy
sinh suốt đời, cầu nguyện, dạy câu chuyện
này để minh họa giá trị của khổ đau và gian
khổ. Tuy nhiên không phải chỉ có gian khổ
không thôi, nó mở cửa "thành phố trí tuệ"
cho người đệ tử. Nhân tố chính khiến cho
người đệ tử có thể đối trị hiệu quả với tình
thế khó khăn là khả năng chuyển đổi cách
nhìn, nhìn tình hình từ một điểm thuận lợi
khác. "Khả năng chuyển đổi cách nhìn có thể
là một trong những công cụ mạnh và hữu hiệu
nhất mà ta có để đối phó với vấn đề cuộc
sống hàng ngày". Đức Đạt Lai Lạt Ma giải
thích.
Khả
năng nhìn vào các sự việc từ những khía cạnh
khác rất ích lợi. Khi thực hành điều này, ta
có thể sử dụng một số kinh nghiệm, một số sự
việc bi thảm, để phát triển sự bình tĩnh của
tâm. Ta phải nhận thức được rằng mỗi hiện
tượng, mỗi sự việc, có những khía cạnh khác
nhau. Mọi sự có tính chất tương đối. Thí dụ,
trường hợp của tôi, tôi mất nước. Từ quan
điểm ấy điều đó thật là bi thảm- thậm chí
còn có những điều tệ hại hơn nữa. Sự tàn phá
đang xẩy ra trên đất nước chúng tôi. Tình
hình rất tiêu cực. Nhưng nếu tôi nhìn vào
cùng một sự việc dưới một góc độ khác, tôi
nhận thức được rằng là một người tị nạn, tôi
có một cách nhìn khác. Với tư cách là người
tị nạn tôi không cần phải có thủ tục, nghi
lễ, và nghi thức ngoại giao.
Nếu
mọi thứ vẫn vậy, nếu mọi thứ đều tốt đẹp,
rồi thì nhiều lúc bạn chỉ giả bộ, bạn đòi
hỏi. Nhưng khi bạn phải trải qua những tình
huống tuyệt vọng, đâu có thì giờ mà đòi hỏi.
Cho nên từ góc độ đó, kinh nghiệm bi thảm
này rất hữu ích cho tôi. Ngoài ra vì là
người tị nạn nên nó tạo rất nhiều cơ hội cho
tôi gặp được nhiều người. Những người từ
những truyền thống tôn giáo khác nhau, từ
những tầng lớp xã hội khác nhau, những người
lẽ ra tôi không thể gặp được nếu tôi vẫn ở
trong nước. Cho nên theo ý nghĩa ấy điều đó
rất ích lợi, rất ích lợi. "Dường như là khi
vấn đề phát sinh, cách nhìn của chúng ta trở
thành thiển cận.
Tất cả
sự quan tâm của chúng ta đều nhằm vào lo
nghĩ về vấn đề, và chúng ta có ý nghĩ là chỉ
mình chúng ta gặp phải khó khăn này. Điều
này hình như có thể dẫn đến sự quan tâm quá
mức cho bản thân làm cho vấn đề dường như
rất nặng nề. Khi điều này xẩy ra, tôi nghĩ
là nhìn sự việc bằng một nhãn quan rộng hơn
nhất định có ích - chẳng hạn, nhận thức được
rằng có nhiều người đã trải qua những kinh
nghiệm tương tự, thậm chí còn tệ hơn nữa.
Tập
thay đổi cách nhìn có thể giúp ích trong một
số bệnh tật hay khi đau đớn. Vào lúc đau đớn
phát sinh, đương nhiên lúc đó rất khó khăn,
tập hành thiền qui củ để lắng đọng tâm Nhưng
nếu bạn có thể so sánh, nhìn tình thế của
bạn dưới một khía cạnh khác, bằng cách nào
đó việc này. Nếu bạn chỉ nhìn vào một sự
việc, thì nó có vẻ càng ngày càng to hơn.
Nếu bạn tập trung quá gần, quá mạnh vào một
vấn đề khi nó xẩy ra, thì dường như là không
thể kiềm chế nổi. Nhưng nếu bạn so sánh sự
việc đó với một sự việc lớn hơn nào đó, nhìn
vào cùng một vấn đề từ một tầm xa, thì dường
như nó nhỏ lại và không quá lớn."
Ngay
trước một cuộc đàm thoại với Đức Đạt Lai Lạt
Ma, tôi tình cờ gặp viên quản lý một trung
tâm mà tôi từng làm việc. Trong nhiệm kỳ ở
cơ sở đó, tôi cãi lộn với ông nhiều lần vì
lẽ tôi tin là ông ta đã dàn xếp việc trông
nom bệnh nhân để lấy tiền. Khá lâu tôi dã
không gặp ông ta một thời gian, nhưng ngay
khi tôi gặp ông, chúng tôi tuôn ra hàng
tràng lý lẽ và tôi cảm thấy cơn tức và căm
ghét trào lên trong tôi. Vào lúc tôi được
đưa vào phòng khách sạn của Đức Đạt Lai Lạt
Ma cho cuộc thảo luận vào chiều hôm đó, tôi
bình tĩnh lại, nhưng vẫn cảm thấy một chút
khó chịu.
Tôi
bắt đầu, "Hãy nói về một người nào đó làm
người ta tức giận. Phản ứng tự nhiên của
người ta là bị xúc phạm, phản úng tức khắc
là giận dữ. Nhưng trong nhiều trường hợp,
không phải chỉ là vấn đề tức giận ngay lúc
bị xúc phạm. Sau này người ta có thể nghĩ
đến sự việc này, thậm chí rất lâu sau này,
và mỗi khi nghĩ đến,thì giận dữ và cứ như
thế mỗi lần. Làm sao Ngài có thể đối trị với
loại tình thế như vậy?"
Đức Đạt Lai Lạt Ma gật
đầu một cách tư lự, rồi nhìn tôi. Tôi băn
khoăn không biết Ngài có cảm thấy tôi không
đưa ra đề tài này vì lý do học thuyết thuần
túy hay không.
Ngài
nói, "Nếu bạn nhìn vào một góc độ khác thì
chắc chắn việc làm cho bạn tức giận có nhiều
khía cạnh tích cực, phẩm chất tích cực. Nếu
bạn xem xét một cách cẩn trọng, bạn sẽ thấy
hành động làm bạn tức giận, cho bạn một số
cơ hội, một cái gì đó lẽ ra không thể có
được về mặt khác, ngay từ quan điểm của bạn.
Vậy bằng nỗ lực, bạn có thể thấy nhiều góc
độ khác nhau đối với một sự việc. Điều này
sẽ giúp ích cho bạn." "Nhưng Ngài nghĩ sao
nếu Ngài tìm kiếm những khía cách tích cực
của một người hay sự việc mà không thấy gì
cả?"
"Ở đây,
tôi nghĩ rằng xử trí một tình huống, bạn cần
phải có một số cố gắng. Hãy dành thì giờ
nghiêm chỉnh tìm kiếm một cách nhìn khác về
tình huống đó. Không chỉ trên bề mặt mà thật
thẳng thắn và minh bạch.Bạn cần phải sử dụng
tất cả lập luận của bạn và nhìn vào tình
huống càng khách quan càng tốt. Chẳng hạn,
bạn phải suy nghĩ trên thực tế là bạn có
thực sự giận dữ một người nào đó mà bạn cho
rằng họ có tính tiêu cực 100 phần trăm. Cũng
giống như khi bạn bị một người nào đó lôi
cuốn mạnh mẽ thường có khuynh hướng cho
những người này có tính tích cực 100 phần
trăm. Nhưng sự nhận thức này không phù hợp
với thực tế. Nếu bạn thấy người bạn của quá
tuyệt vời, người đó định làm hại bạn trên
một phương diện nào đó, đột nhiên bạn sẽ
nhận thức sâu sắc là những người ấy không có
đức tính tốt 100 phần trăm. Cũng giống như
vậy, nếu kẻ thù của bạn, người mà bạn ghét,
thành thực xin được bạn tha thứ và tiếp tục
tỏ ý tốt với bạn, bạn không thể nào tiếp tục
cho rằng những người này là xấu. 100 phần
trăm Vậy nên, dù khi bạn giận dữ ai, bạn có
thể cảm thấy rằng người ấy không có tính
tích cực thì sự thực là không ai xấu 100
phần trăm. Họ cũng có những tính tốt nếu bạn
điều tra đủ. Cho nên, khuynh hướng nhìn
người hoàn toàn tiêu cực là do nhận thức của
riêng bạn căn cứ vào sự đoán định tinh thần
của riêng bạn, chứ không phải là bản chất
thực sự của cá nhân ấy.
"Cũng
vậy, một tình huống lúc đầu bạn nhận thức là
tiêu cực 100 phần trăm, có thể có những khía
cạnh tích cực. Nhưng tôi nghĩ rằng dù bạn có
khám phá ra một khía cạnh tích cực trước một
tình huống xấu, chỉ có thế thôi vẫn chưa đủ.
Bạn còn cần phải củng cố ý niệm ấy. Cho nên
bạn cần phải nhắc nhở mình về khía cạnh tích
cực ấy nhiều lần, cho đến khi cảm nghĩ của
bạn thay đổi.
Nói
chung, một khi bạn đã rơi vào tình huống khó
khăn, không thể thay đổi thái độ bằng cách
thực hiện môt suy xét đặc biệt một hay hai
lần. Đúng hơn là phài qua một tiến trình học
hỏi, rèn luyện, và làm quen với những quan
điểm mới giúp bạn có thể đối trị với khó
khăn."
Đức Đạt Lai Lạt Ma suy
nghĩ hồi lâu, giữ vững lập trường thực dụng
thường lệ của Ngài, Ngài nói thêm, "Tuy
nhiên nếu bất chấp những cố gắng của bạn,
bạn không tìm được những khía cạnh hay cách
nhìn tích cực trước hành động của ai đó, thì
lúc này con đường hành động tốt nhất là hãy
cố gắng quên nó đi." Thôi thúc trước lời nói
của Đức Đạt Lai Lạt Ma, tối khuya hôm đó,
tôi có gắng khám phá ra một số "góc độ tích
cực" của viên quản lý, những khía cạnh mà
ông ta không phải là xấu 100 phần. Điều đó
không khó; tôi biết ông là một người cha rất
thương con, chẳng hạn, ông cố gắng hết sức
nuôi nâng con cái. Và tôi phải công nhận
việc cãi lộn với ông cuối cùng đã đem lợi
ích cho tôi - chúng là phương tiện để tôi
quyết định bỏ không làm việc tại cơ sở này
nữa và cuối cùng dẫn tôi đến một công việc
vừa ý hơn. Trong khi những suy ngẫm này
không ngay lập tức dẫn đến sự ưa thích người
đàn ông này, nhưng chắc chắn chúng đã làm
cho tôi mất đi một số cảm nghĩ căm ghét bằng
chỉ một chút cố gắng. Trong chốc lát, Đức
Đạt Lai Lạt Ma đưa ra một bài học còn sâu
sắc hơn: Cách thay đổi hoàn toàn thái độ thù
nghịch với kẻ thù và biết cách quý mến kẻ
thù.
CÁCH
NHÌN MỚI VỀ KẺ THÙ
Phương
pháp chính của Đức Đạt Lai Lạt Ma để thay
đổi thái độ đối với kẻ thù liên quan đến sự
phân tách có hệ thống và hợp lý về phản ứng
thông thường của chúng ta với những kẻ làm
hại chúng ta. Ngài giảng giải:
"Trước
nhất hãy nhận xét thái độ đặc trưng đối với
địch thủ. Nói chung, đương nhiên, chúng ta
không mong muốn những điều tốt đẹp cho kẻ
địch. Nhưng dù kẻ địch không vui do những
hành động của bạn, thì ở đây bạn có gì vui
vẻ chứ? Nếu bạn suy nghĩ cẩn trọng, làm sao
có cái gì bất hạnh hơn thế? Mang gánh nặng
của cảm nghĩ thù nghịch và ác ý. Và bạn thực
ra có muốn như vậy không?
"Nếu
bạn trả thù kẻ địch thì hình như chỉ tạo
vòng lẩn quẩn tội ác. Nếu bạn trả đũa người
kia sẽ không nhận điều đó - họ sẽ trả đũa,
rồi bạn sẽ làm thế nữa, và cứ thế tiếp tục.
Và đặc biệt khi điều này xẩy ra ở mức cộng
đồng, nó sẽ tiếp tục từ thế hệ này đến thế
hệ khác. Kết quả lả cả hai phía đều khổ đau.
Rồi thì toàn bộ mục đích cuộc sống trở thành
hỏng. Bạn có thể nhìn thấy điều này trong
trại tị nạn, nơi đây sân hận được nuôi dưỡng
giữa nhóm này với nhóm kia. Nó xẩy ra từ khi
còn thơ ấu. Điều đó thật tệ hại. Cho nên,
giận dữ và sân hận giống như luỡi câu của
người câu cá. Hết sức quan trọng cho chúng
ta là không được dể mắc vào lưỡi câu ấy.
"Hiện
nay, nột số người coi căm thù mãnh liệt là
tốt cho quyền lợi quốc gia. Tôi nghĩ điều
này là tiêu cực. Rất thiển cận. Chống lại
lối suy nghĩ này là cơ sở của tinh thần bất
bạo động và hiểu biết."
Vì đã
không chấp nhận thái độ đặc trưng của chúng
ta đối với kẻ thù, Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp
tục đưa ra một cách nhìn khác đối với kẻ
địch, một nhãn quan mới có thể có một tác
động cách mạng trong đời sống của ta. Ngài
giảng giải:
Thường
thường trong Phật Giáo người ta chú ý nhiều
đến thái độ đối với địch thủ hay kẻ thù. Đó
là vì sân hận là chướng ngại vật lớn nhất
cho việc phát triển từ bi và hạnh phúc. Nếu
bạn có thể học cách phát triển kiên nhẫn và
khoan dung đối với kẻ thù của bạn, thì mọi
sự sẽ trở nên dễ dàng hơn nhiều - lòng từ bi
của bạn đối với người khác bắt đầu tuôn chảy
tự nhiên.
Vì vậy,
đối với người tu tập tinh thần, kẻ thù đóng
một vai trò thiết yếu. Như tôi biết từ bi là
cốt tủy đời sống tinh thần. Để bạn có thể
hoàn toàn thành công trong việc thực hành
tình thương và từ bi, sự tu tập về nhẫn nại
và khoan dung là rất cần thiết. Không có
tính dũng cảm chịu đựng tương tự với nhẫn
nại, thì cũng giống như không có tai họa nào
tồi tệ hơn sân hận, Cho nên, ta phải hết sức
cố gắng không nuôi dưỡng sân hận với kẻ thù,
mà tốt hơn là dùng cuộc đấu trí ấy làm cơ
hội nâng cao sự tu tập về nhẫn nại và khoan
dung.
Thật
ra, kẻ thù là điều kiện cần thiết để thực
hành nhẫn nại.
Không
có hành động của kẻ thù thì không thể có khả
năng thành công về nhẫn nại và khoan dung.
Bạn bè chúng ta thuờng không thử thách và
cho chúng ta cơ hội trau dồi nhẫn nại, chỉ
có kẻ thù của chúng ta mới cho chúng ta cơ
hội. Cho nên, từ lập trường ấy, chúng ta có
thể coi kẻ thù của chúng ta là những người
thầy lớn và tôn kính họ đã cho chúng ta cơ
hội quý báu tu tập nhẫn nại.
"Ngày
nay, có rất nhiều người trên thế giới, nhưng
chúng ta tương tác với khá ít người, và thậm
chí lại càng ít người gây khó khăn cho chúng
ta. Cho nên khi bạn có dịp may để thực hành
nhẫn nại và khoan dung, bạn nên đối xử với
lòng biết ơn. Thật là hiếm có. Chẳng khác gì
bỗng nhiên tìm ra được kho báu trong nhà bạn,
bạn nên vui vẻ và biết ơn kẻ thù đã cho bạn
cơ hội quý báu. Vì lẽ nếu bạn chưa bao giờ
thành công trong việc tu tập nhẫn nại và
khoan dung, chúng là những nhân tố chủ yếu
để chống lại cảm xúc tiêu cực, thì cũng là
do sự phối hợp những nỗ lực của chính bạn và
cơ hội mà kẻ thù mang lại.
"Đương
nhiên, ta vẫn còn cảm thấy, "Tại sao tôi
phải tôn kính kẻ thù của tôi, hay thừa nhận
sự đóng góp của họ, vì kẻ thù không có ý
muốn cho tôi cơ hội quý báu để tu tập nhẫn
nại, không có ý muốn giúp đỡ tôi? Và không
những họ không mong muốn hay có ý định giúp
tôi, nhưng họ còn có chủ ý hiểm độc làm hại
tôi! Cho nên đúng ra là phải căm ghét họ -
họ nhất định không đáng được kính trọng".
Thực tế là có tâm trạng sân hận ở phía kẻ
thù, ý đồ muốn hại chúng ta, biến hành động
của kẻ thù trở thành duy nhất. Mặt khác, nếu
điều đó chỉ đúng là một hành động làm hại
chúng ta, thì chúng ta phải căm ghét các bác
sĩ và coi họ là kẻ thù vì thỉnh thoảng họ đã
áp dụng các phương pháp đau đớn như phẫu
thuật Nhưng dầu vậy chúng ta vẫn không coi
những hành động đó là gây tai hại hay là
những hành động của kẻ thù vì ý đồ của các
bác sĩ là giúp đỡ chúng ta. Vì thế cho nên
đúng là chủ ý để hại chúng ta của kẻ thù
biến thành người duy nhất cho chúng ta cơ
hội quý báu để tu tập nhẫn nại."
Ý kiến
tôn kính kẻ thù của Đức Đạt Lai Lạt Ma vì cơ
hội phát triển mà họ cung cấp có thể hơi khó
chấp nhận vào lúc ban đầu. Nhưng tình trạng
này cũng tương tự như người tập tạ cho thân
hình mạnh khỏe và cân đối. Đương nhiên, hoạt
động nhấc tạ rất khó chịu lúc đầu vì tạ nặng.
Ta gắng sức, đổ mồ hôi, đấu tranh. Tuy vậy,
nó đúng là một hành động tranh đấu chống lại
sức kháng cự để rồi mang lại sức mạnh cho
chúng ta. Chúng ta có đánh giá cao dụng cụ
cử tạ tốt không phải vì bất cứ vui thích
trực tiếp nào chúng cung cấp, mà là vì lợi
ích cuối cùng mà ta nhận được.
Có lẽ
ngay cả việc Đức Đạt Lai Lạt Ma khẳng định
về tính hiếm hoi và "tính quý giá" của kẻ
thù cũng còn hơn chỉ là giải thích duy lý kỳ
khôi. Khi tôi nghe bệnh nhân của tôi mô tả
những khó khăn của họ với những người khác,
điều này trở nên quá rõ ràng - khi sự việc
đến, hầu hết mọi người không có hàng đoàn kẻ
thù hay đối thủ để tranh đấu, ít nhất ỏ mức
độ cá nhân. Thường thường, sự mâu thuẫn chỉ
hạn chế ở một số ít người. Có thể ông chủ
hay đồng nghiệp, hay người hôn phối cũ, anh
chị em ruột. Từ quan điểm trên, kẻ thù thực
rất hiếm - nguồn cung cấp rất giới hạn. Và
đó là sự tranh đấu, một tiến trình giải
quyết xung đột với kẻ thù - nhờ học hỏi,
quan sát, tìm ra những cách giải quyết khác.-
cuối cùng dẫn đến phát triển, hiểu biết sâu
sắc, và kết quả chữa trị bằng tâm lý thành
công.
Hãy
tưởng tượng sẽ ra sao suốt đời nếu ta không
bao giờ phải đối phó với kẻ thù, hay gặp trở
ngại nào cả từ lúc nằm nôi cho đến khi xuống
mồ, người nào gặp cũng nuông chiều chúng ta,
ủng hộ ta, nuôi dưỡng ta, (cho chúng ta đồ
ăn ngon dễ tiêu), làm cho chúng ta vui bằng
bộ mặt khôi hài và ấm thanh "yêu thương
quyến rũ". Nếu từ khi mới sanh chúng ta được
mang đi đây đó trong cái giỏ, (và sau này có
lẽ trong cái kiệu) Chưa bao giờ gặp phải sự
thách nào, chưabao giờ bị thử thách - nói
tóm lại, nếu mọi người tiếp tục coi chúng ta
như trẻ nhỏ. Điều đó lúc đầu có vẻ tốt.
Trong mấy tháng đầu của cuộc đời có thể là
thích đáng. Nhưng nếu cứ tiếp tục triền miên
như thế thì nó chỉ đi đến chế hồ như trở
thành một loại của một khối sền sệt, một
loại quái đản thực sự - với sự phát triển
tinh thần và xúc cảm của miếng thịt bê con.
Chính sự tranh đấu của đời sống làm cho ta
thành người. Và do đó chính các kẻ thù của
chúng ta thử thách chúng ta, cho chúng ta
sức kháng cự cần thiết để phát triển.
THÁI
ĐỘ NHƯ THẾ CÓ THỰC TIỄN KHÔNG?
Thực
hành cách tiếp cận những vấn đề của chúng ta
một cách hữu lý và học cách suy xét về những
khó khăn hay về kẻ thù từ những cách nhìn
khác dường như là một công cuộc theo đuổi
đáng giá, nhưng tôi băn khoăn không hiểu đến
một mức độ nào thì điều này có thể thực sự
mang đến sự thay đổi cơ bản về thái độ. Tôi
nhớ có một lần đọc tài liệu về một cuộc
phỏng vấn mà Đức Đạt Lai Lạt Ma nói về việc
tu tập tinh thần hàng ngày của Ngài là tụng
kinh, tụng tám câu kệ nói về huân luyện tâm,
viết vào thế kỷ thứ Mười Một của Langri
Thangpa, một vị thánh người Tây Tạng. Trong
đó có những câu như sau:
Bất cứ
lúc nào kết giao với ai, cầu mong tôi sẽ tự
cho mình là người thấp nhất và coi người kia
là cao thượng nhất trong thấm tâm tôi ..
Khi
tôi thấy những chúng sanh bản chất ác độc,
bị thúc ép bởi tội lỗi hung bạo và ưu phiền,
cầu mong tôi được coi họ như những người
hiếm có này là thân thiết như thể tôi tìm
được một kho báu quý giá.
Khi
những người khác, vì đố kị, đối xử xấu với
tôi, sỉ nhục, phỉ báng tôi và những điều
tương tự, cầu mong tôi chịu thua và xin để
cho họ chiến thắng. ... Khi người mà tôi
được lợi lạc với niềm hy vọng lớn lao, làm
cho tôi hết sức đau đớn, xin cho tôi được
coi người ấy như Vị Giáo Chủ tối thượng của
tôi!...;
Tóm lại, xin cho tôi được trực tiếp hay gián
tiếp đem lợi ich và hạnh phúc cho tất cả
chúng sanh, và xin cho tôi được ấm thầm chịu
đựng điều tai hại và khổ đau của tất cả
chúng sanh.
Sau khi đọc các câu trên, tôi hỏi Đức Đạt
Lai Lạt Ma, "Tôi biết Ngài suy ngẫm nhiều về
lời cầu nguyện này, nhưng thực sự Ngài có
nghĩ rằng ngày nay có thể áp dụng được không?
Ý tôi muốn nói là bài kệ đó đã được viết bởi
một nhà sư sống trong tu viện - ở nơi mà
việc xấu nhất có thể xẩy ra là có người kháo
chuyện về Ngài hoặc nói dối về Ngài hay có
thể thỉnh thoảng là một đòn mạnh hay vỗ mặt.
Trong trường hợp ấy, có thể là dễ dàng "dâng
chiến thắng" cho họ- nhưng xã hội ngày nay,
điều tai hại hay đối xử xấu mà ta nhận được
từ những người khác gồm có nào là hiếp dấm,
hành hạ, giết người vân vân... Từ quan điểm
ấy, thái độ trong lời cầu nguyện ấy dường
như thực không thể áp dụng được." Tôi cảm
thấy một chút tự mãn, vì đã có nhận xét mà
tôi nghĩ khá xác đáng, một nhận xét thông
minh lắm..
Đức Đạt
Lai Lạt Ma im lặng hồi lâu, Ngài nhíu mày
suy nghĩ, Ngài nói, "Có thể có một điều gì
đó trong cái mà ông vừa nói". Rồi Ngài tiếp
tục thảo luận các trường hợp cần sửa đổi lại
thái độ cần phải có biện pháp đối phó mạnh
trước sự gây hân của của người khác nhằm
ngăn chặn điều tổn hại cho mình hoặc người
khác.
Tôi đã
suy tư về cuộc đàm thoại với Ngài vào buổi
tối hôm đó rất khuya. Hai Hai vấn đề nổi lên
một cách rõ ràng. Trước tiên, điều làm tôi
chú ý là Ngài sẵn sàng lạ thường khi tìm một
cái nhìn mới về niềm tin và sự tu tập riêng
Ngài - trong trường hợp này, chứng tỏ Ngài
sẵn lòng đánh giá lại lời cầu kinh đã được
ấp ủ trong lòng chắc chắn đã sống với Ngài
qua nhiều năm tu tập. Vân đề thứ hai là ít
truyền cảm hơn. Tôi đã khắc phục được ý
nghĩa kiêu ngạo của riêng tôi.! Tôi chợt
nghĩ là tôi đã gợi ý với Ngài là lời cầu
nguyện có thể không thích hợp vì nó không
theo kịp được với thực tế phũ phàng của thế
giới ngày nay. Nhưng chẳng phải đến sau này
tôi mới nghĩ về người tôi đang nói chuyên
với - một người đã hoàn toàn mất nước do sự
xâm lăng tàn bạo nhất trong lịch sử. Một
người đã phải sống lưu vong trong gần bốn
thập niên trong khi cả nước đặt niềm hy vọng
và mơ ước tự do vào người ấy. Một người có
tinh thần trách nhiệm sâu sắc, với tâm lòng
từ bi, lắng nghe dòng người tị nạn luôn kể
những chuyện giết chóc, hãm hiếp, tra tân,
và triệt hạ phẩm giá của người dân Tây Tạng
bởi người Trung Hoa. Hơn một lần tôi đã nhìn
thấy vẻ quan ngại mênh mang và nỗi buồn trên
nét mặt của Ngài khi nghe những chuyện như
thế được kể lại bởi những người đã đi bộ
vượt dãy Hi Mã Lạp Sơn (vượt núi băng rừng
trong một cuộc hành trình hai năm), chỉ để
thoáng nhìn thấy Ngài. Và những chuyện nhu
vậy không phải chỉ có tính chất bạo lực vật
chất không thôi. Thường, những chuyện này
nhắc đến ý đồ phá hoại tinh thần người dân
Tây Tạng. Một người tị nạn Tây Tạng từng kể
cho tôi nghe về "trường học" Trung Hoa mà
anh ta bị bắt buộc theo học lúc con nhỏ lớn
lên tại Tây Tạng. Buổi sáng dành cho việc
truyền bá và nghiên cứu cuốn "sách đỏ" của
Mao Trạch Đông. Buổi chiều dành để báo cáo
các công việc được phân công làm ở nhà." Bài
tập về nhà" thường được chế ra nhằm thủ tiêu
tinh thần Phật Giáo vốn đã đã ăn sâu trong
lòng người Tây Tạng. Thí dụ, biết người Phật
Giáo cấm sát sinh và có niềm tin là mỗi sinh
vật đều là "sinh vật hữu tình" quý giá như
nhau, một thầy giáo đã phân công cho học trò
nhiệm vụ phải giết một loại gì đó và phải
mang đến trường ngày hôm sau. Học sinh được
chấm điểm. Mỗi con vật chết được cho giá trị
điểm nào đó - con ruồi một điểm, con sâu -
hai điểm, con chuột năm điểm, con mèo - mười
điểm - vân vân.(Khi tôi kể chuyện này với
một người bạn mới đây, người bạn tôi đã lắc
đầu với vẻ ghê tởm và trầm ngâm nói một mình."
Tôi không biết học sinh được bao nhiêu điểm
khi người học sinh giết cả thầy giáo khốn
nạn này!")
Nhờ sự
tu tập tinh thần như việc tụng 8 câu kệ về
việc huân luyện tâm, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã
có thể đi đến chấp nhận thực tại của tình
hình nhưng vẫn tiếp tục tích cực vận động tự
do và nhân quyền cho Tây Tạng trong 40 năm.
Đồng thời Ngài vẫn giữ một thái độ nhún
nhường và từ bi với người Trung Hoa, điều đó
đã truyền cảm cho hàng triệu người trên thế
giới. Và nơi đây tôi đưa ra ý kiến là lời
cầu nguyện ấy có thể không thích hợp với
những "thực tại" của thế giới ngày nay. Tôi
vẫn còn đầy lúng túng mỗi khi nghĩ đến cuộc
đàm thoại này.
KHÁM
PHÁ NHỮNG CÁCH NHÌN MỚI
Cố
gắng áp dụng phương pháp thay đổi cách nhìn
của Đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi tình cờ bát gặp
một kỹ thuật khác vào một buổi chiều. Trong
thời gian sửa soạn cho tác phẩm này, tôi có
tham dự một vài buổi thuyết giảng của Đức
Đạt Lai Lạt Ma tại bờ biển Miền Đông. Trở về
nhà tôi đi bằng chuyến bay bay thẳng vể
Phoenix. Như thường lệ, tôi lấy chỗ ngồi
cạnh lối đi Mặc dầu mới tham dụ buổi học tập
về tinh thần, nhưng tôi ở tronmg tâm trạng
khá kỳ cục khi bước vào máy bay đã đầy người.
Tôiphát hiện chỗ ngồi của tôi lại ở hàng ghế
ở giữa - kẹp giữa một người đàn ông với khổ
người to lớn có thói quen phiền toái là để
cánh tay to sụ vào thành ghế của tôi và một
thiếu phụ trung niên mà mới trông tôi đã
không thích ngay vì bà ta đã chiếm chỗ ngồi
bên cạnh lối đi của tôi. Có một điều gì nơi
thiếu phụ này thực ra đã làm tôi khó chịu-
giọng nói bà ta quá the thé, điệu bộ quá
hống hách, tôi không chắc chắn lắm. Ngay sau
khi máy bay cất cánh, bà ta bắt đầu chuyện
trò không ngớt với người đàn ông ngồi dãy
ghế đằng trước. Người đàn ông này hóa ra là
chồng bà, và tôi đã lịch sự đề nghị đổi chỗ
cho ông ta. Nhưng cả hai đều không chịu vì
cả hai muốn ngồi hàng ghế bên cạnh lối đi
Tôi càng trở nên khó chịu. Hoàn cảnh ngổi
năm tiếng liền bên cạnh người đàn bà này
dường như không chịu đựng nổi.
Nhận
ra là tôi phản ứng quá mạnh với một người
đàn bà mà tôi chưa từng biết, tôi quyết định
là phải có "sự chuyển đổi" - theo tiềm thức
hẳn là bà đã nhắc tôi nhớ đến một người nào
đó trong lúc tôi còn thơ ấu - cảm giác hờn
ghét - hướng về mẹ tôi vẫn chưa được giải
đáp hay lắm hoặc một điều gì đó. Tôi cố tìm
kiếm trong óc nhưng không thể tìm ra được
ứng viên thích hợp - bà ta không nhắc cho
tôi tìm được ai trong quá khứ.
Tôi
chợt nảy ra ý nghĩ rằng đây là cơ hội tốt để
thực hành việc phát triển lòng nhẫn nại. Cho
nên, tôi bắt đầu thực hành kỹ thuật mường
tượng kẻ thù của tôi ngồi trên ghế bên cạnh
lối đi như một ân nhân quí mến, được đặt
cạnh tôi để dạy tôi nhẫn nại và khoan dung.
Tôi hình dung chuyện này thật ngon với một
nhiệt tình- xét cho cùng, khi kẻ thù' biến
mất bạn không thể có gì nhẹ người hơn được-
tôi mới gặp người phụ nữ này và bà ta cũng
chưa làm gì hại tôi cả. Sau khoảng 20 phút,
tôi đầu hàng- bà vẫn làm tôi khó chịu! tôi
cam phận bực bội trong phần còn lại của cuộc
hành trình. Hờn dỗi, tôi nhìn trừng trừng
vào tay của bà ta đang ngấm ngầm xâm phạm
trên thành ghế của tôi. Tôi ghét mọi thứ về
thiếu phụ này. Tôi lơ đãng nhìn chằm chằm
vào móng ngón tay cái của bà thì chợt nghĩ
là :. Phải chăng tôi ghét móng ngón tay cái
này? Không thực đúng. Móng tay ấy cũng bình
thường thôi. Không có gì đặc biệt. Tiếp đến
tôi liếc nhanh vào mắt bà và tụ hỏi.: Phải
chăng thực sự tôi ghét con mắt ấy? Vâng, tôi
đã ghét (Đương nhiên, không có lý do xác
đáng- l một hình thái ghét bỏ thuần túy).
Tôi nhắm vào gần hơn nữa. Phải chăng tôi
ghét cái con ngươi ấy? Không. Phải chăng tôi
ghét cái giác mạc, cái tròng mắt, hay cái
màng cứng mắt ấy. Không, phải chăng thực sự
tôi ghét con mắt ấy? tôi phải thừa nhận là
không. Tôi cảm thấy đang ở trên cái gì đó.
Tôi chuyển tới đốt ngón tay, ngón tay, hàm,
và khuỷu tay. Với một sự ngạc nhiên, tôi
nhận ra có những chỗ của người đàn bà ấy tôi
không ghét. Tập trung vào chi tiết, vào
những đặc diểm, thay vì tổng quát quá mức,
dẫn đến một sự thay đổi tinh tế trong tâm,
một sự mềm lòng Sự thay đổi cách nhìn xé tan
thành kiến lúc đầu của tôi, đủ phóng khoáng
cho tôi thấy bà ta chỉ là một chúng sinh
bình thường khác. Khi tôi nghĩ như vậy, thì
đột nhiên bà quay sang với tôi và trò chuyện.
Tôi không nhớ đã nói những chuyện gì- hầu
hết là chuyện phiếm- nhưng khi chuyến bay
kết thúc, giận hờn và khó chịu của tôi đã
tiêu tan. Cứ cho là như vậy, bà tuy không
phải là người bạn mới tốt nhất của tôi, song
bà cũng không còn là con người tội lỗi chiếm
ghế bên cạnh lối đi của tôi- bà chỉ là một
chúng sinh khác, giống như tôi, bà đi vào
dòng đời với khả năng tốt nhất của bà.
TÂM TRÍ UYỂN
CHUYỂN
Khả
năng cách nhìn, khả năng xem xét khó khăn
của mình từ những góc độ khác, được nuôi
dưỡng bởi đắc tính uyển chuyển của tâm. Lợi
ích tột bậc của một tâm trí uyển chuyển là
nó cho phép chúng ta nhìn bao quát tất cả
đời sống- để sống một cách trọn vẹn và có
nhân tính. Sau một buổi thuyết giảng dài
trước công chúng tại Tucson vào một buổi
chiều, Đức Đạt Lai Lạt Ma quay về khách sạn.
Trong khi Ngài chậm rãi bước về phòng, một
giải mấy đỏ tía giăng mắc bầu trời, thu ánh
sáng chiều tà và làm nổi bật hẳn lên dãy núi
Catalina, toàn thể được tô điểm bằng gam màu
tía mênh mang. Ấn tượng thật hùng vĩ. Không
khí ấm áp, đầy hương thơm của cấy cối sa mạc,
của cấy xô thơm, ngọn gió hiu hiu thổi, mang
hơi ẩm, báo hiệu hẹn cơn bão Sonoran đang
thả sức tung hoành. Đức Đạt Lai Lạt Ma ngừng
lại. Ngài lặng lẽ quan sát phía chân trời
hồi lâu, ngắm nhìn toàn cảnh, và cuối cùng
bình luận về cái đẹp của cảnh tượng. Ngài
bước đi vài bước rồi lại ngừng lại, khom
mình ngắm một nụ hoa oải hương nhỏ xíu trên
cấy nhỏ. Ngài nhẹ nhàng mơn trớn nụ hoa, chú
ý đến hình thức mảnh mai của nó, băn khoăn
thành tiếng về tên của cấy này. Điều làm tôi
chú ý là khả năng hoạt động của Ngài. Nhận
thức của Ngài hình như hành động quá dễ dàng
từ ngắm nhìn trọn vẹn phong cảnh tới cái tập
trung vào một nụ hoa nhỏ bé, một sự thưởng
thức đồng thời tổng thể khung cảnh cũng như
chi tiết nhỏ nhất. Một khả năng bao trùm tất
cả những khía cạnh và toàn bộ các lĩnh vực
của cuộc sống.
Mỗi
người trong chúng ta đều có thể mở mang sự
uyển chuyển giống như vậy trong tâm. Điều đó
xẩy ra ít ra cũng ở một chừng mực nào đó
trực tiếp do những nỗ lực bằng cách mở rộng
cách nhìn và cố gắng thận trọng trên những
quan điểm mới. Kết quả cuối cùng là sự tỉnh
thức đồng thời về một bức tranh lớn cũng như
hoàn cảnh cá nhân chúng ta. Quan điểm kép
này, cùng một lúc nhìn vào "Thế Giới Lớn" và
"Thế Giới Nhỏ " của chúng ta hồ như có thể
thực hiện chức năng phân loại giúp chúng ta
phân biệt cái gì là quan trọng, cái gì là
không quan trọng trong cuộc sống.
Chính
trường hợp của tôi, chỉ cần một ít thúc đẩy
của Đức Đạt Lai Lạt Ma trong quá trình các
cuộc đàm thoại với Ngài, trước khi tôi bắt
đầu phá vỡ được cách nhìn hạn chế của tôi.
Do bản tính và huân luyện, tôi thường hay
giải quyết giải quyết các vấn đề trên lập
trường có động lực cá nbân - tiến trình tâm
lý chỉ diễn ra trong địa hạt tâm. Cách nhìn
vào xã hội học hay chính trị chưa bao giờ
thu hút tôi quan tâm nhiều. Trong một cuộc
đàm luận với Đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi bắt đầu
hỏi Ngài về ý nghĩa quan trọng của việc đạt
được một tầm nhìn rộng lớn hơn.Vì đã uống
một vài tách cà phê trước đó, cuộc đàm thoại
của tôi bắt đầu trở nên sôi nổi, và tôi bắt
đầu nói đến khả năng thay đổi cách nhìn như
một tiến trình nội tâm, một cuộc theo đuổi
đơn độc, chỉ căn cứ trên quyết định có ý
thức của cá nhân để tiếp nhận quan niệm khác.
Giữa lúc lúc đàm luận về tinh thần, Đức Đạt
Lai Lạt Ma dứt khoát ngắt lời tôi và nhắc
nhở tôi, "Khi bạn nói về việc áp dụng một
tầm nhìn rộng lớn hơn, điều này gồm có cả sự
làm việc hợp tác với người khác. Khi bạn có
những khủng hoảng có tính cách toàn cầu
chẳng hạn, nhu môi sinh hay những vấn đề về
cơ cấu kinh tế hiện đại, điều này đòi hỏi
một nỗ lực phối hợp giữa nhiều người, với
một tinh thần trách nhiệm và cam kết. Điều
này bao trùm nhiều hơn một cá nhân hay một
vấn đề riêng tư".
Tôi
khó chịu vì Ngài đã chuyển sang đề tài có
tính cách thế giới trong khi tôi cố gắng tập
trung vào đề tài cá nhân (tôi thật ngượng
ngùng mà thừa nhận, thái độ này về chính chủ
đề mở rộng quan điểm )
"Nhưng
tuần này, tôi nài nỉ, "trong cuộc đàm thoại
của chúng ta và trong các bài giảng công
cộng của Ngài, Ngài có nói nhiều đến tầm
quan trọng tcủa sự đem lại thay đổi cá nhân
từ bên trong, nhờ sự biến đổi bên ngoài.
Chẳng hạn, Ngài có nói đến tầm quan trọng
của việc phát triển lòng từ bi, lòng nhiệt
tình, khắc phục giận dữ và sân hận, trau dồi
nhẫn nại và khoan dung..."
"Phải,
đương nhiên sự thay đổi phải do nơi cá nhân.
Nhưng khi bạn tìm kiếm giải pháp cho toàn bộ
các vấn đề, bạn cần có khả năng giải quyết
những vấn đề ấy từ lập trường của một cá
nhân cũng nhu từ mức độ xã hội nói chung.
Cho nên khi bạn nói về linh động, về việc có
một tầm nhìn rộng lớn hơn vân vân..., điều
này đòi hỏi khả năng đề cập đến các vấn đề
từ nhiều mức độ khác nhau: mức độ cá nhân,
mức độ cộng đồng, và mức độ toàn cầu.
"Bây
giờ, chẳng hạn, vì tại cuộc nói chuyện tại
trường Đại Học tối hôm nọ, tôi nói về sự cần
thiết phải giảm bớt giận dữ và sân hận nhờ
sự trau dồi kiên nhẫn và khoan dung. Giảm
thiểu sân hận giống như giải trừ quân bị
trong nội tâm. Nhưng, tôi cũng nói rõ trong
cuộc nói chuyện đó, sự giải trừ quân bị
trong nội tâm phải đi đôi với sự giải trừ
quân bị bên ngoài. Đó là điều rất, rất quan
trọng. May mắn thay, sau khi Đế Quốc Sô Viết
sụp đổ, ít nhất vào thời gian này, không còn
đe dọa hủy diệt hạt nhân. Cho nên tôi nghĩ
rằng, bây giờ là lúc rất tốt, một sự bắt đầu
rất tốt - Chúng ta không nên bỏ lỡ cơ hội
này! Bây giờ tôi nghĩ rằng chúng ta phải
củng cố lực lượng hòa bình chân chính. Không
phải là không có chiến tranh nếu vũ khí vẫn
được sản xuất giống như sự răn đe vũ khí hạt
nhân. Nhưng chỉ không có chiến tranh không
thôi vẫn không phải là hòa bình chân chính
lâu dài cho thế giới. Hòa bình phải phát
triển trên sự tin cậy lẫn nhau. Và vì vũ khí
là những trở ngại to lớn nhất cho việc phát
triển lòng tin cậy lẫn nhau, tôi nghĩ đã đến
lúc phải tính cách loại bỏ những vũ khí ấy.
Điều đó rất quan trọng. Đương nhiên chúng ta
không thể hoàn tất điều đó một sớm một chiều
được. Tôi nghĩ rằng biện pháp thực tế là đi
từng bước một. Nhưng dầu sao, tôi nghĩ chúng
ta phải làm rõ mục tiêu chủ yếu của chúng ta:
Toàn thể thế giới đều phải giải trừ quân bị.
Cho nên ở một mức độ nào đó chúng ta nên cố
gắng thực hiện sự mở mang hòa bình nội tâm,
nhưng cũng đồng thời rất quan trọng là cố
gắng thực hiện việc giải trù quân bị và hòa
bình bên ngoài, đóng góp phần nhỏ nhoi của
mình bằng bát cứ cách nào mà chúng ta có thể
làm được. Đó là trách nhiệm của chúng ta."
TẦM
QUAN TRỌNG TRONG VIỆC TƯ DUY LINH HOẠT
Có một
mối quan hệ qua lại giữa tâm trí uyển chuyển
và khả năng thay đổi cách nhìn. Một tâm trí
linh hoạt uyển chuyển giúp chúng ta giải
quyết vấn đề từ nhiều cách nhìn, và ngược
lại, chú tâm cố gắng quan sát một cách khách
quan những vấn đề từ nhiều cách nhìn hồ như
có thể được xem là rèn luyện tính linh hoạt
cho tâm. Trong thế giới ngày nay, cố gắng
phát triển lối tư duy linh hoạt không phải
chỉ là bài thực tập tự buông thả cho những
người trí thức biếng nhác - Nó có thể là một
vấn đề sống còn. Thậm chí trên nấc thang
tiến hóa, muôn loài cũng hết sức linh động,
cũng hết sức thích ứng với những thay đổi
môi sinh, để tồn tại và phát triển mạnh.
Cuộc sống ngày nay có đặc điểm là thay đổi
bất ngờ, đột ngột, và đôi khi dữ dội. Một
tâm trí uyển chuyển có thể giúp chúng ta hòa
hợp với những sự thay đổi bên ngoài đang xẩy
ra chung quanh chúng ta. Nó cũng có thể giúp
chúng ta hòa nhập tất cả những mâu thuẫn nội
tâm, tính không nhất quán và mâu thuẫn trong
tư tưởng. Nếu không trau dồi tâm trí mềm dẻo,
cái nhìn của chúng ta trở nên cứng nhắc và
mối quan hệ của chúng ta với thế giới trở
thành có đặc điểm sợ hãi. Nhưng bởi áp dụng
một phương pháp linh hoạt và mềm dẻo trước
cuộc sống, chúng ta có thể giữ bình tĩnh
ngay cả đến khi trong những hoàn cảnh hết
sức bất an và xáo trộn. Đó là nhờ nỗ lực để
đạt được một tâm trí linh hoạt mà ta có thể
nuôi dưỡng sức bật trong tinh thần con người.
Từ khi
tôi biết Đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi hết sức
ngạc nhiên về mức độ linh hoạt rộng lớn của
Ngài, khả năng tiếp nhận hàng loạt quan
điểm.Người ta có thể cho rằng vai trò độc
đáo của Ngài có thể là do hầu hết Phật Tử
trên thế giới đã đặt Ngài vào một vị trí hồ
như là Người Bảo Vệ Đức Tin.
Với ý
định đó tôi hỏi Ngài, "Có bao giờ Ngài thấy
mình quá cứng rắn trong quan điểm, hay quá
hẹp hòi trong suy tư không?"
"...
Ngài hắng giọng suy nghĩ hồi lâu trước khi
trả lời dứt khoát."Không, tôi không nghĩ như
vậy. Thực ra, là ngược lại. Đôi khi tôi quá
linh động đến nỗi tôi bị buộc tội là không
có đường lối kiên định." Ngài bật cười lớn.".
Một người nào đó đến gặp tôi và trình bày
một số ý kiến, và tôi xem lý lẽ mà họ nói
rồi đồng ý, tôi thường nói với họ, "Ồ, thật
tuyệt vời!". Nhưng người kế tiếp đến với tôi
với quan điểm tương phản, thì tôi cũng xem
vào lý do họ nói và tôi cũng đồng ý. Đôi khi
vì vậy tôi bị phê bình, và phải luôn được
nhắc nhở: "Chúng ta đã cam kết về đường lối
hành động, vậy nên vào lúc này, hãy giữ đúng
vấn đề ấy".
Từ câu
nói trên không thôi, người ta có thể có cảm
tưởng Đức Đạt Lai Lạt Ma không quả quyết,
không có nguyên tắc chỉ đạo. Thực tế, điều
đó không thể là sự thật. Rõ ràng là Đức Đạt
Lai Lạt Ma có niềm tin căn bản làm nền tảng
cho tất cả hành động của Ngài. Tin vào lòng
tốt tiềm ẩn của tất cả loài người. Tin vào
giá trị của từ bi. Một đường lối thân ái.
Một ý thức con người bình đẳng với tất cả
sinh vật.
Nói về
tầm quan trọng của linh hoạt, mềm dẻo và
thích nghi, tôi không muốn có ý đề nghị
chúng ta trở nên thành người hay thay đổi ý
kiến - hấp thụ bất cứ niềm tin mới nào tình
cờ xuất hiện chung quanh ta vào lúc đó, thay
đổi đặc tính của ta, hấp thụ một cách thụ
động bất cứ khái niệm nào phơi bày trước
chúng ta. Những giai đoạn sinh trưởng và
phát triển cao hơn tùy thuộc vào những giá
trị tiềm ẩn hướng dẫn chúng ta. Hệ thống giá
trị cung cấp sự tiếp tục và gắn bó với nhau
cho đời sống của chúng ta, và do đó chúng ta
có thể đánh giá những kinh nghiệm của mình.
Hệ thống giá trị có thể giúp chúng ta quyết
định mục tiêu nào thực sự đáng giá và những
theo đuổi nào là vô nghĩa.
Cấu
hỏi là làm sao ta có thể kiên trì trước sau
như một và duy trì toàn bộ giá trị tiềm ẩn
mà vẫn giữ được linh hoạt. Đức Đạt Lai Lạt
Ma dường như đã đạt được điều đó trước nhất
bằng cách rút gọn hệ thống niềm tin thành
một ít nhân tố căn bản: 1) Tôi là một con
người, 2) Tôi muốn có hạnh phúc không muốn
khổ đau, 3) Những người khác, cũng giống như
tôi, muốn được hạnh phúc và không muốn đau
khổ. Nhân mạnh về những vấn đề chung mà Ngài
chia sẻ với người khác chứ không phải những
khác biệt, dẫn đến cảm tưởng liên hệ tới tất
cả mọi người, và dẫn dắt Ngài tin vào từ bi
và vị tha. Sử dụng cùng một cách giải quyết
vấn đề này, có thể được bổ ích rất nhiều mà
chỉ cần bỏ thì giờ suy nghĩ hệ thống giá trị
của chính chúng ta và rút gọn chúng thành
yếu tố căn bản. Chính khả năng rút gọn hệ
thống giá trị của chúng ta thành những yếu
tố căn bản nhất, và hướng điểm thuận lợi ấy,
cho chúng ta sự tự do và linh hoạt lớn nhất
để đối trị lại hàng loạt vấn đề mà ta phải
đương đầu hàng ngày.
TÂM SỰ QUÂN
BÌNH
Phát triển cách giải quyết linh hoạt vào
cách sống không những là phương tiện giúp
cho chúng ta đối phó với những vấn đề hàng
ngày - mà còn trở thành nền tảng cho yếu tố
chủ chốt của một đời sống hạnh phúc:
sự
quân bình.
Vào
một buổi sáng ngồi thoải mái trên một cái
ghế, Đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích giá trị
của một đời sống quân bình.
"Cách
vào đời quân bình và khéo léo, cẩn thận
tránh cực đoan, trở thành một nhân tố rất
quan trọng trong việc điều khiển cuộc sống
hàng ngày của con người. Chẳng hạn, khi
trồng một cấy non hay một loại cấy nào đó,
chính giai đoạn đầu bạn phải hết sức khéo
léo và nhẹ nhàng. Ẩm quá nhiều ẩm ướt sẽ làm
chết cấy, quá nhiều ánh nắng cũng phá hoại
cấy Quá ít cũng phá hoại cấy. Cho nên điều
cần thiết là bạn phải có một môi trường quân
bình thì cấy non mới lớn mạnh. Hay, để cơ
thể lực, quá nhiều hay quá ít bất cứ một thứ
gì cũng có thể gây hậu quả tiêu cực. Chẳng
hạn, quá nhiều chất đạm tôi nghĩ cũng không
tốt, quá ít cũng không tốt.
"Phương
cách uyển chuyển và khéo léo, cẩn thận tránh
cực đoan, áp dụng cho sự phát triển tinh
thần đúng mức cũng như cảm xúc. Chẳng hạn,
nếu chúng ta thấy mình trở nên cao ngạo,
vênh váo ta đây quan trọng căn cứ vào những
thành tựu hay đức tính có thật hoặc tưởng là
thật của mình, thì thuốc giải độc là suy
nghĩ nhiều hơn nữa về vấn đề và khổ đau của
mình, trầm ngâm về khía cạnh bất toại nguyện
của cuộc sống. Điều này sẽ giúp cho bạn hạ
thấp mức độ cao ngạo của tâm, đưa bạn trở
lại thực tại nhiều hơn nữa. Trái lại nếu bạn
thấy suy ngẫm về bản chất bất toại nguyện
của cuộc sống, khổ đau và đau đớn vân vân...,
làm cho bạn không thể chịu đựng nổi bởi toàn
bộ sự việc, thì lại có sự nguy hiểm đi vào
cực đoan khác. Trong trường hợp này bạn có
thể trở nên hoàn toàn nản chí, bát lực, chán
chường và nghĩ rằng: "ôi, tôi không thể làm
gì được, tôi vô giá trị. Cho nên trong những
hoàn cảnh như vậy, điều quan trọng là bạn có
thể nâng cao tâm bằng cách nghĩ đến những
thành quả của bạn, những tiến bộ mà bạn đã
đạt được từ hồi nào đến giờ, và những đức
tính tích cực khác để bạn có thể nâng cao
tinh thần thoát khỏi tình trạng nản chí hay
mất tinh thần. Vậy điều cần thiết nơi đây hồ
như là cách thức giải quyết thật quân bình
và khéo léo.
"Không
những cách giải quyết này hữu ích cho sức
khỏe thể chất và cảm xúc, mà nó còn áp dụng
cho sự phát triển tinh thần của con người,
Vì chẳng hạn, truyền thống Phật Giáo có
nhiều kỹ thuật và cách tu tập khác nhau.
Nhưng rất quan trọng là phải thật khéo léo
trong việc đem áp dụng những kỹ thuật khác
nhau, và không đi đến cực đoan. Ta cũng cần
phải có một cách giải quyết quân bình và
khéo léo. Khi tu tập Phật Giáo, rất quan
trọng là phải có một cách giải quyết phối
hợp, kết hợp cả nghiên cứu và học hỏi với
thực hành về tư duy sâu lắng và thiền định.
Điều này rất quan trọng để không có sự bất
quân bình nào giữa kiến thức trí tuệ hay lý
thuyết và thực hành thực tiễn. Nếu không, sẽ
có một nguy cơ quá nặng suy nghĩ bằng trí óc
sẽ hủy hoại sự tu tập về suy tư nhiều hơn.
Nhưng nếu quá nặng vào sự tu tập mà không có
nghiên cứu sẽ hủy hoại sự hiểu biết. Cho nên
phải có sự quân bình...
Sau
một hồi suy nghĩ, Ngài nói thêm, " Ví vậy
nói một cách khác trong việc thực hành Pháp,
sự tu tập tinh thần, ở một ý nghĩa nào đó
giống bộ ổn áp. Chức năng của bộ ổn áp là để
ngăn ngừa đột biến điện áp giữ cho bạn nguồn
điện ổn định và liên tục."
Tôi
xen vào ." Ngài nhân mạnh đến sự quan trọng
của việc tránh cực đoan, nhưng nếu không đi
đến cực đoan thì cái gì có thể làm cho cuộc
sống trở nên lý thú và có hương vị? Bằng
cách tránh mọi cực đoan trong cuộc sống, bao
giờ cũng chọn con đường "trung đạo" phải
chăng chỉ dẫn đến một cuộc sống vô vị tẻ
nhạt"
Lắc
đầu Ngài trả lời "không", "tôi nghĩ bạn cần
phải hiểu nguồn gốc hay cơ sở của sự hành xử
cực đoan. Hãy lấy thí dụ theo đuổi của cải
vật chất-nhà cửa, đồ đạc, quần áo vân vân...
Một mặt, nghèo khó có thể được xem là cực
đoan và chúng ta có quyền tranh đấu để vượt
qua điều đó, như vậy sẽ bảo đảm sự đầy đủ
vật chất của chúng ta. Mặt khác, quá xa hoa,
theo đuổi của cải quá mức là một cực đoan
khác. Mục đích chủ yếu của chúng ta trong
việc tìm cầu nhiều của cải hơn là cảm giác
thỏa mãn, cảm giác hạnh phúc. Nhưng chính là
cơ sở việc tìm cầu nhiều hơn nữa là cảm
tưởng không đầy đủ, cảm tưởng chưa vừa lòng.
Cảm tưởng chưa vừa lòng, muốn có nhiều,
nhiều hơn nữa, không phát xuất từ niềm khao
khát vốn có về các đồ vật mà chúng ta tìm
kiếm mà còn từ tình trạng tinh thần của
chúng ta.
"Cho
nên tôi nghĩ rằng khuynh hướng đi đến cực
đoan thường được kích thích bởi cảm tưởng
chưa vừa lòng tiềm ẩn. Và đương nhiên có
những yếu tố khác nữa dẫn đến cực đoan.
Nhưng tôi nghĩ rằng quan trọng là phải công
nhận điều đó trong khi đi đến cực đoan dường
như hấp dẫn hay hứng thú trên bề mặt, thực
ra nó có thể có hại. Có nhiều thí dụ về nguy
cơ đi đến cực đoan của hành xử cực đoan. Tôi
nghĩ rằng bằng cách quan sát những tình
huống này, bạn sẽ có thể thấy những hậu quả
của việc đi đến cực đoan, là bạn, chính bạn
cuối cùng sẽ đau khổ. Thí dụ, ở thế gian này,
nếu chúng ta đánh cá quá mức, không để ý gì
đến hậu quả về lâu dài, không có tinh thần
trách nhiệm, rồi thì dẫn đến kiệt quệ số
lượng cá. Hay cách hành xử về nhục dục.
Đương nhiên có ham muốn tình dục về sinh học
để sinh sản và vân vân..., và sự thỏa mãn
đạt được từ hoạt động tình dục. Nhưng nếu
hành vi tình dục trở nên cực đoan, không có
trách nhiệm thích đáng, nó sẽ dẫn đến nhiều
vấn đề, lạm dụng, như lạm dụng tình dục và
loạn luân."
"Ngài
nói thêm vào cảm tưởng chưa vừa lòng, có thể
có nhiều nhân tố khác dẫn đến cực đoan..." "Đúng,
tất nhiên rồi" Ngài gật đầu.
"Ngài
có thể cho một thí dụ?"
"Tôi
nghĩ tư tưởng hẹp hòi có thể là một nhân tố
khác dẫn đến cực đoan"
"Tư
tưởng hẹp hòi trong ý nghĩa nào?
"Thí
dụ đánh cá quá mức có thể dẫn đến làm kiệt
quệ số lượng cá, có thể, chẳng hạn là một ví
dụ về suy nghĩ hẹp hòi, trong ý nghĩa này ta
chỉ nhìn vào tương lai trước mắt mà không
lưu ý gì đến bức tranh rộng lớn hơn. Nơi đây
ta có thể sử dụng giáo dục và kiến thức để
mở rộng tầm nhìn của một người để họ trở nên
ít hẹp hòi hơn về quan điểm của mình.
Đức Đạt Lai Lạt Ma lấy
sâu chuỗi của Ngài từ bàn kế bên, lần tràng
giữa hai bàn tay khi Ngài vừa lặng lẽ ngẫm
nghĩ về vấn đề đang thảo luận. Lướt nhìn vào
sâu chuỗi rồi đột nhiên Ngài tiếp tục, " Tôi
nghĩ có nhiều cách mà thái độ tâm địa hẹp
hòi dẫn đến suy nghĩ cực đoan. Nó sinh ra
vấn đề. Chẳng hạn, Tây Tạng là một quốc gia
Phật Giáo từ nhiều thế kỷ. Đương nhiên điều
đó dẫn đến cảm nghĩ của người Tây Tạng về
Phật Giáo là một tôn giáo tốt nhất, và có
khuynh hướng nghĩ rằng có lẽ tốt nhất là tất
cả nhân loại trở thành Phật Tử. Ý tưởng ai
cũng trở thành Phật Tử hoàn toàn là cực
đoan.
Và loại suy nghĩ cực đoan
này gây ra vấn đề. Nhưng nay, chúng tôi bỏ
Tây Tạng ra đi, chúng tôi có dịp tiếp xúc
với các truyền thống tôn giáo khác và học
hỏi về chúng. Điều này đưa đến gần gũi hơn
trong thực tại- hiểu rằng giữa nhân loại có
nhiều khuynh hướng tinh thần khác nhau. Thậm
chí nếu chúng ta cố gắng làm cho toàn thể
thế giới thành Phật Giáo là điều không thực
tế. Nhờ sự tiếp cận với truyền thống khác,
bạn nhận thức được những điều tích cực của
họ. Nay, khi đối đầu với tôn giáo khác,
trước tiên cảm nghĩ tích cực, cảm nghĩ thoải
mái sẽ phát sinh. Chúng ta sẽ cảm thấy nếu
người đó thấy truyền thống khác, thích hợp
hơn, hữu hiệu hơn, thế thì điều đó là tốt!
Cũng giống như đi vào một tiệm ăn- chúng ta
có thể ngồi vào bàn rồi gọi các món ăn hợp
với khẩu vị của chúng ta. Chúng ta có thể ăn
những món ăn khác, nhưng không ai tranh luận
về việc này cả!
"Cho
nên, tôi nghĩ bằng cách chủ ý mở rộng tầm
nhìn của chúng ta, chúng ta thường có thể
khắc phục được loại suy nghĩ cực đoan dẫn
đến hậu quả tiêu cực."
Bằng ý
kiến này, Đức Đạt Lai Lạt Ma đeo chuỗi tràng
hạt vào cổ tay, thân mật vỗ vai tôi, và đứng
lên chấm dứt cuộc thảo luận. |
|