|
Ngày xưa có vị tỳ kheo
Cất am sườn núi cheo leo non
ngàn
Lánh xa bụi bặm trần gian
Một lòng thiền định, đạo vàng
chuyên tu
Nơi đây thanh tịnh bốn mùa
Trăng soi suối ngọc, gió lùa cửa
không.
Dưới chân núi có con sông
Có đò đưa khách bềnh bồng sang
ngang.
Mỗi lần có dịp hạ san
Để đi hóa độ xóm làng đó đây
Thời sư phải đáp đò này
Con đò độc nhất ngày ngày lại
qua,
Lái đò là một lão bà
Tay chèo còn khỏe, tuy già vẫn
vui.
*
Một hôm hành khách tới nơi
Ngạc nhiên nào thấy tăm hơi bà
già
Thay vào là một dáng hoa
Một cô thiếu nữ mặn mà xinh tươi
Duyên nét mặt, đẹp nụ cười
Hỏi ra mới biết là người phương
xa
Tới đây xin với lão bà
Trước là ở trọ, sau là tiếp tay
Giúp bà đưa khách sông này
Bà nhìn người đẹp nhận ngay
chẳng từ.
*
Thế rồi trên bến sông xưa
Khách sang đò bỗng sớm trưa rộn
ràng
Thăm sư, lễ Phật, viếng am
Ngắm phong cảnh đẹp thênh thang
hữu tình
Ngắm thêm cô lái đò xinh
Dáng người yểu điệu, thân hình
thướt tha
Khiến cá lặn, khiến chim sa,
Êm đềm tiếng ngọc, mặn mà lời
hoa,
Mái chèo theo cánh tay ngà
Lướt trên mặt nước loang ra sóng
vàng,
Sóng đưa hành khách sang ngang
Một vùng sông nước mơ màng thăng
hoa.
*
Sáng nay sư phải đi xa
Khi sư xuống núi cũng qua đò này,
Tiền đò hành khách nơi đây
Sang sông chỉ phải trao tay một
đồng,
Riêng sư khi trả tiền công
Cô đòi sư những hai đồng! Lạ
thay!
Ngạc nhiên sư hỏi cô ngay:
"Sao tôi phải trả tiền này gấp
đôi?"
Mỉm cười cô khẽ trả lời:
"Sang sông khách đáp đò tôi hàng
ngày
Kẻ qua, người lại chốn đây
Nào đâu lạ lẫm như thầy hôm nay,
Thầy vừa đáp chuyến đò này
Lại luôn nhìn ngắm tôi ngay từ
đầu
Nên thầy phải trả trước sau
Gấp đôi người khác cũng đâu lạ
gì!"
Sợ lôi thôi, cãi làm chi
Sư đành vội trả phứt đi hai đồng.
Chiều về am, phải qua sông
Sư nào dám ngó bóng hồng xinh
tươi
Xuống đò ngồi khuất xa rồi
Gầm đầu, cúi mặt xuống nơi lòng
đò.
Đò trôi qua bến êm ru
Kỳ này chắc mẩm thày tu hết
phiền.
Nào ngờ khi khách trả tiền
Nhận xong cô lái đò liền cám ơn,
Riêng sư cô khẽ nói thầm:
"Xin thầy trả gấp bốn lần người
ta!"
*
Ngạc nhiên sư hỏi cho ra:
"Tại sao buổi sáng tôi qua đò
rồi
Cô đòi tôi trả gấp đôi
Nói rằng tôi lỗi vì ngồi ngắm cô,
Chiều nay suốt lúc qua đò
Tôi đâu liếc mắt nhìn cô chút
nào
Lòng đò tôi cứ trông vào
Cô đòi gấp bốn! Tại sao lạ đời?"
Nghiêm trang cô lái trả lời:
"Sáng nay thầy chỉ nhìn nơi phía
ngoài
Nhìn bằng cặp mắt thường thôi,
Chiều nay thầy lại nhìn tôi toàn
phần
Không bằng mắt, mà bằng Tâm
Tâm nhìn khắp cả châu thân trong
ngoài
Cớ sao thầy lại kêu nài
Lời tôi nói vậy có sai đâu nào!"
*
Sóng vàng chợt vỗ dạt dào
Sư nghe vừa dứt bỗng đâu bật
cười
Hình như đã ngộ thêm rồi
Ngước trông sóng nước êm trôi
dập dình
Quay nhìn cô lái đò xinh
Cô đà biến mất bóng hình còn đâu!
Kể từ ngày đó về sau
Chỉ còn bà lão bạc đầu mà thôi
Mái chèo bà lão ngược xuôi,
Con đò lờ lững đưa người sang
sông.
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
chuyển thơ
(phỏng theo bản văn xuôi trong
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO)
===
Đọc thêm
ĐT sưu tầm:
Lá Thư Từ Bên Kia Thế Giới !
(Nguyên Phong dịch)
Bác sĩ Elizabeth Kübler-Ross,
người tiền phong trong lãnh vực
nghiên cứu về hiện tượng hồi
sinh cho biết:
“Con người sợ chết như con nít
sợ ma, họ đã nhìn cái chết một
cách sợ hãi, ghê tởm và cố gắng
phủ nhận nó vì nó làm gián đoạn
sự liên tục của đời sống. Nhưng
nếu họ biết chấp nhận sự chết
một cách bình thản, giản dị thì
họ sẽ thấy chết là một sự kiện
tự nhiên cũng như lúc sinh ra
vậy. Bất kỳ lúc nào chung quanh
chúng ta, sống và chết cũng luôn
luôn tiếp diễn. Lá cây rụng để
nhường chỗ cho những mầm non
xuất hiện, hết mùa đông lại có
mùa xuân. Một hiện tượng tự
nhiên và cần thiết như thế không
lẽ lại chẳng bao hàm một ý nghĩa
thâm sâu nào đó? Phải chăng
chính vì có sự chết mà sự sống
hiện hữu, có sự xây dựng thì
cũng phải có sự hủy diệt, đâu có
gì tồn tại vĩnh viễn. Người ta
không thể hiểu được ý nghĩa đích
thực của sự sống nếu họ không
chịu chấp nhận sự chết, và đã
đến lúc người ta phải nghiên cứu
cặn kẽ các sự kiện này chứ không
thể chấp nhận những lý thuyết mơ
hồ nào đó được.”
Sau đây là tài liệu được trích
lại từ cuốn La Revue Spirite:
Bác sĩ Henri Desrives là một
khoa học gia hoạt động, vui vẻ
và yêu nghề. Như mọi nhà trí
thức khác, ông sống một cuộc đời
rất thực tế và không buồn lưu ý
đến những điều mà khoa học chưa
giải thích được. Ông không tin
rằng có một linh hồn tồn tại sau
khi chết vì thể xác chỉ là sự
kết hợp của các vật chất hữu cơ
và trí thông minh chẳng qua chỉ
là sản phẩm của các tế bào thần
kinh. Khi thể xác đã hư hoại thì
trí thông minh cũng không thể
tồn tại. Một hôm khi bàn chuyện
với các con về đề tài đời sống
sau khi chết, ông hứa sẽ liên
lạc với các con nếu quả thật có
một đời sống bên kia cửa tử.
Cậu con trai Piere Desrives,
cũng là một y sĩ, đã nói: “Nếu
đã chết, làm sao cha có thể liên
lạc với con được?”
Bác sĩ Henri suy nghĩ một lúc
rồi trả lời: “Cha không tin có
một đời sống hay cõi giới nào
ngoài đời sống này nhưng nếu sau
khi chết mà cha thấy được điều
gì thì cha sẽ tìm đủ mọi cách để
liên lạc với các con.”
Vài năm sau, bác sĩ Desrives từ
trần, các con ông vì bận việc
nên cũng không để ý gì đến buổi
bàn luận đó nữa.
Khoảng hai năm sau, một nhóm
nhân viên làm việc trong bệnh
viện lập bàn cầu cơ chơi, bất
ngờ cơ bút đã viết: “Xin cho gọi
bác sĩ Piere Desrives đến vì tôi
là cha cậu đó và tôi có mấy lời
muốn nhắn nhủ với các con tôi.”
Được thông báo, bác sĩ Piere
không tin tưởng mấy nhưng nhớ
lại lời dặn của cha, ông bèn gọi
các em đến tham dự buổi cầu cơ
này. Một người cầm giữ đầu một
sợi dây, đầu kia cột vào một cây
bút chì và chỉ một lát sau cây
bút đã tự động chạy trên các
trang giấy thành bức thư như sau:
Các con thân mến,
Cha rất hài lòng đã gặp đủ mặt
các con nơi đây. Gần một năm
nay, cha có ý trông đợi để kể
cho các con về những điều ở cõi
bên này mà cha đã chứng kiến
nhưng không có cơ hội nói lại
cho các con biết.
Như các con đã biết, hôm đó sau
khi ở bệnh viện về, cha thấy
trong người mệt mỏi lạ thường,
cha bèn lên giường nằm và dần
dần lịm đi luôn, không hay biết
gì nữa. Một lúc sau cha thấy
mình đang lơ lửng trong một bầu
ánh sáng trong suốt như thủy
tinh. Thật khó có thể tả rõ cảm
tưởng của cha khi đó, nhưng
không hiểu sao cha thấy trong
mình dễ chịu, linh hoạt, thoải
mái chứ không bị gò bó, ràng
buộc như trước. Các con biết cha
bị phong thấp nên đi đứng khó
khăn, vậy mà lúc đó cha thấy
mình có thể đi đứng, bay nhảy
như hồi trai tráng. Cha có thể
giơ tay giơ chân một cách thoải
mái, không đau đớn gì. Đang vẫy
vùng trong biển ánh sáng đó thì
bất chợt cha nhìn thấy cái thân
thể của cha đang nằm bất động
trên giường. Cha thấy rõ mẹ và
các con đang quây quần chung
quanh đó và phía trên thân thể
của cha có một hình thể lờ mờ
trông như một lùm mây màu xám
đang lơ lửng. Cả gia đình đều
đang xúc động và không hiểu sao
cha cứ thấy trong mình buồn bực,
khó chịu. Cha lên tiếng gọi
nhưng không ai trả lời, cha bước
đến nắm lấy tay mẹ con nhưng mẹ
con không hề hay biết và tự
nhiên cha ý thức rằng mình đã
chết. Cha bị xúc động mạnh,
nhưng may thay lúc đó mẹ con và
các con đều lên tiếng cầu nguyện,
tự nhiên cha thấy mình bình tĩnh
hẳn lại như được an ủi. Cái cảm
giác được đắm chìm trong những
lời cầu nguyện này thật vô cùng
thoải mái dễ chịu không thể tả
xiết. Lớp ánh sáng bao quanh cha
tự nhiên trở nên sáng chói và cả
một cuộc đời của cha từ lúc thơ
ấu đến khi trưởng thành bỗng
hiện ra rõ rệt như trên màn ảnh.
Từ việc gần đến việc xa, ngay cả
những chi tiết nhỏ nhặt nhất
cũng đều hiện ra rõ rệt trong
tâm trí của cha. Hơn bao giờ hết,
cha ý thức tường tận các hành vi
của mình, các điều tốt lành, hữu
ích mà cha đã làm cũng như các
điều xấu xa, vô ích mà cha không
tránh được. Tự nhiên cha thấy
sung sướng về những điều thiện
đã làm và hối tiếc về những điều
mà đáng lẽ ra cha không nên làm.
Cả một cuốn phim đời hiện ra một
cách rõ rệt cho đến khi cha thấy
mệt mỏi và thiếp đi như người
buồn ngủ.
Cha ở trong tình trạng vật vờ,
nửa ngủ nửa thức này một lúc khá
lâu cho đến khi tỉnh dậy thì
thấy mình vẫn lơ lửng trong một
bầu ánh sáng có màu sắc rất lạ
không giống như màu ánh sáng lần
trước. Cha thấy mình có thể di
chuyển một cách nhanh chóng, có
lẽ vì không còn xác thân nữa.
Cha thấy cũng có những người
đang di chuyển gần đó nhưng mỗi
lần muốn đến gần họ thì cha lại
có cảm giác khó chịu làm sao.
Một lúc sau cha đi đến một nơi
có đông người tụ họp. Những
người này có rung động dễ chịu
nên cha có thể bước lại hỏi thăm
họ một cách dễ dàng. Một người
cho biết tùy theo các rung động
thích hợp mà cha có thể tiếp xúc
được với những người ở cõi bên
này. Sở dĩ cha không thể tiếp
xúc với một số người vì họ có sự
rung động khác với “tần số rung
động” (frequency) của cha. Sự
giải thích có tính cách khoa học
này làm cha tạm hài lòng. Người
nọ cho biết thêm rằng ở cõi bên
này tần số rung động rất quan
trọng, và tùy theo nó mà người
ta sẽ lựa chọn nơi chốn mà họ
sống. Cũng như loài cá ở ngoài
biển, có loài sống gần mặt nước,
có loài sống ở lưng chừng và có
loài sống dưới đáy sâu tùy theo
sức ép của nước thì ở cõi bên
này, tùy theo tần số rung động
mà người ta có thể tìm đến được
các cảnh giới khác nhau. Sự kiện
này làm cha cảm thấy vô cùng
thích thú vì như vậy quả có một
cõi giới bên kia cửa tử và cõi
này lại có nhiều cảnh giới khác
nhau nữa.
Khi xưa cha không tin những quan
niệm như thiên đàng hay địa ngục
nhưng hiện nay cha thấy quan
niệm này có thể được giải thích
một cách khoa học qua việc các
tần số rung động. Những tần số
rung động này như thế nào? Tại
sao cha lại có những tần số rung
động hợp với một số người? Người
nọ giải thích rằng tùy theo tình
cảm của con người mà họ có những
sự rung động khác nhau; người có
tình thương cao cả khác với
những người tính tình nhỏ mọn,
ích kỷ hay những người hung ác,
không hề biết thương yêu. Đây là
một điều lạ lùng mà trước nay
cha không hề nghĩ đến. Cha bèn
đặt câu hỏi về khả năng trí thức,
phải chăng những khoa học gia
như cha có những tần số rung
động đặc biệt nào đó, thì người
nọ trả lời rằng, khả năng trí
thức hoàn toàn không có một giá
trị nào ở cõi bên này cả. Điều
này làm cho cha ít nhiều thất
vọng. Người nọ cho biết rằng cái
kiến thức chuyên môn mà cha
tưởng là to tát chẳng qua chỉ là
những mảnh vụn của một kho tàng
kiến thức rất lớn mà bên này ai
cũng có thể học hỏi được.
Người nọ nhấn mạnh rằng, điều
quan trọng là con người biết làm
gì với những kiến thức đó. Sử
dụng nó để phục vụ hay tiêu diệt
nhân loại? Sử dụng nó vào mục
đích vị tha hay ích kỷ? Sử dụng
nó để đem lại niềm vui hay để
gây đau khổ cho người khác? Thấy
cha có vẻ thất vọng, người này
bèn đưa cha đến một thư viện lớn,
tại đây có lưu trữ hàng triệu
cuốn sách mà cha có thể tham cứu,
học hỏi. Chưa bao giờ cha lại
xúc động như vậy. Có những cuốn
sách rất cổ viết từ những thời
đại xưa và có những cuốn sách
ghi nhận những điều mà từ trước
tới nay cha chưa hề nghe nói đến.
Sau một thời gian nghiên cứu,
cha thấy cái kiến thức mà mình
vẫn hãnh diện thật ra chẳng đáng
kể gì so với kho tàng kiến thức
nơi đây. Đến khi đó cha mới thấm
thía điều người kia nói về khả
năng trí thức của con người và
bắt đầu ý thức về tần số rung
động của mình.
Nơi cha đang sống có rất đông
người, đa số vẫn giữ nguyên tính
nết cũ như khi còn sống ở thế
gian. Có người hiền từ vui vẻ,
có người tinh nghịch ưa chọc phá
người khác, có người điềm đạm,
có kẻ lại nóng nảy. Quang cảnh
nơi đây không khác cõi trần bao
nhiêu; cũng có những dinh thự đồ
sộ, to lớn; có những vườn hoa mỹ
lệ với đủ các loại hoa nhiều màu
sắc; có những ngọn núi rất cao
hay sông hồ rất rộng. Lúc đầu
cha ngạc nhiên khi thấy những
cảnh vật này dường như luôn luôn
thay đổi, nhưng về sau cha mới
biết cảnh đó hiện hữu là do sức
mạnh tư tưởng của những người
sống tại đây. Điều này có thể
giải thích giống như sự tưởng
tượng ở cõi trần. Các con có thể
tưởng tượng ra nhà cửa dinh thự
trong đầu óc mình, nhưng ở cõi
trần sức mạnh này rất yếu, chỉ
hiện lên trong trí óc một lúc mà
thôi. Bên này vì có những rung
động đặc biệt nào đó phù hợp với
sự rung động của tư tưởng làm
gia tăng thêm sức mạnh khiến cho
những hình ảnh này có thể được
thực hiện một cách rõ ràng,
chính xác và lâu bền hơn.
Các con đừng nghĩ rằng những
người bên này chỉ suốt ngày rong
chơi, tạo ra các hình ảnh theo ý
muốn của họ; mà thật ra tất cả
đều bận rộn theo đuổi các công
việc riêng để chuẩn bị cho sự
tái sinh. Vì mọi tư tưởng bên
này đều tạo ra các hình ảnh nên
đây là môi trường rất thích hợp
để người ta có thể kiểm soát, ý
thức rõ rệt hơn về tư tưởng của
mình. Vì đời sống bên này không
cần ăn uống, làm lụng nên người
ta có nhiều thời giờ theo đuổi
những công việc hay sở thích
riêng. Có người mở trường dạy
học, có kẻ theo đuổi các nghành
chuyên môn như hội họa, âm nhạc,
kiến trúc, văn chương thơ phú,
v.v...
Tóm lại, đây là môi trường để họ
học hỏi, trau dồi các khả năng
để chuẩn bị cho một đời sống mai
sau. Phần cha đang học hỏi trong
một phòng thí nghiệm khoa học để
sau này có thể giúp ích cho nhân
loại. Càng học hỏi, cha càng
thấy cái kiến thức khi xưa của
cha không có gì đáng kể và nền y
khoa mà hiện nay các con đang
theo đuổi thật ra không lấy gì
làm tân tiến lắm nếu không nói
rằng rất ấu trĩ so với điều cha
được biết nơi đây. Hiển nhiên
khoa học phát triển tùy theo khả
năng trí thức của con người, mỗi
thời đại lại có những sự phát
triển hay tiến bộ khác nhau nên
những giá trị cũng vì thế mà
thay đổi.
Có những giá trị mà thời trước
là khuôn vàng thước ngọc thì đời
sau lại bị coi là cổ hủ, lỗi
thời; và như cha được biết thì
những điều mà ngày nay đang được
người đời coi trọng, ít lâu nữa
cũng sẽ bị đào thải. Tuy nhiên
cái tình thương, cái ý tưởng
phụng sự mọi người, mọi sinh vật
thì bất kỳ thời đại nào cũng
không hề thay đổi, và đó mới là
căn bản quan trọng mà con người
cần phải biết. Càng học hỏi cha
càng thấy chỉ có những gì có thể
tồn tại được với thời gian mà
không thay đổi thì mới đáng được
gọi là chân lý. Cha mong các con
hãy suy ngẫm về vấn đề này, xem
đâu là những giá trị có tính
cách trường tồn, bất biến để
sống theo đó, thay vì theo đuổi
nhũng giá trị chỉ có tính cách
tạm bợ, hời hợt.
Cha biết rằng mọi ý nghĩ, tư
tưởng, hành động đều có những
rung động riêng và được lưu trữ
lại trong ta như một cuốn sổ. Dĩ
nhiên khi sống ở cõi trần, con
người quá bận rộn với sinh kế,
những ưu phiền của kiếp nhân
sinh, không ý thức gì đến nó nên
nó khép kín lại; nhưng khi bước
qua cõi bên này thì nó từ từ mở
ra như những trang giấy phô bày
rõ rệt trước mắt. Nhờ vậy mà cha
biết rõ rằng hạnh phúc hay khổ
đau cũng đều do chính ta tạo ra
và lưu trữ trong mình. Cuốn sổ
lưu trữ này là bằng chứng cụ thể
của những đời sống đã qua và
chính nó kiểm soát tần số rung
động của mỗi cá nhân. Tùy theo
sự rung động mà mỗi cá nhân
thích hợp với những cảnh giới
riêng và sẽ sống tại đó khi bước
qua cõi giới bên này. Do đó,
muốn được thoải mái ở cõi bên
này, các con phải biết chuẩn bị.
Cha mong các con hãy bắt tay vào
việc này ngay. Các con hãy rán
làm những việc lành, từ bỏ những
hành vi bất thiện. Khi làm bất
cứ việc gì, các con hãy suy gẫm
xem hậu quả việc đó như thế nào,
liệu nó có gây đau khổ hay tổn
thương cho ai không? Đừng quá
bận rộn suy tính những điều hơn
lẽ thiệt mà hãy tập quên mình.
Đời người rất ngắn, các con
không có nhiều thời giờ đâu.
Khi còn sống, đã có lúc cha dạy
các con phải biết đầu tư thương
mại để dành tiền bạc vào những
trương mục tiết kiệm, những bất
động sản, những chứng khoán...
nhưng bây giờ cha biết rằng mình
đã lầm. Một khi qua đến bên đây,
các con không thể mang những thứ
đó theo được. Danh vọng, địa vị,
tài sản vật chất chỉ là những
thứ có tính cách tạm bợ, bèo bọt,
đến hay đi như mây trôi, gió
thổi, trước có sau không.
Chỉ có tình thương mới là hành
trang duy nhất mà các con có thể
mang theo mình qua cõi giới bên
này một cách thoải mái, không sợ
hư hao mất mát. Tình thương
giống như đá nam châm, nó thu
hút những người thương nhau thực
sự, để họ tiến lại gần nhau, kế
hợp với nhau. Nó là một mãnh lực
bất diệt, mạnh mẽ, trường tồn và
chính nhờ lòng thương này mà
người ta có thể tìm gặp lại nhau
trải qua không gian hay thời
gian. Chắc hẳn các con nghĩ rằng
người cha nghiêm nghị đầy uy
quyền khi trước đã trở nên mềm
yếu chăng? Này các con, chỉ khi
nào buông xuôi tay bước qua thế
giới bên này, các con mới thực
sự trải nghiệm được trạng huống
của mình, tốt hay xấu, hạnh phúc
hay đau khổ, thích hợp với cảnh
giới thanh cao tốt lành hay
những nơi chốn thấp thỏi xấu xa.
Hơn bao giờ hết, cha xác định
rằng điều cha học hỏi nơi đây là
một định luật khoa học thật đơn
giản mà cũng thật huyền diệu. Nó
chính là cái nguyên lý trật tự
và điều hòa hằng hiện hữu trong
vũ trụ. Sự lựa chọn để sống
trong cảnh giới mỹ lệ đẹp đẽ hay
tăm tối u minh đều do những tần
số rung động của mình mà ra cả
và chính mình phải chịu trách
nhiệm về cuộc đời của mình hay
lựa chọn những nơi mà mình sẽ
đến.
Khi còn sống cha tin rằng chết
là hết, con người chỉ là sự cấu
tạo của các chất hữu cơ hợp lại,
nhưng hiện nay cha biết mình đã
lầm. Cha không biết phân biệt
phần xác thân và phần tâm linh.
Sự chết chỉ đến với phần thân
xác trong khi phần tâm linh vẫn
hoạt động không ngừng. Nó đã
hoạt động như thế từ thuở nào
rồi và sẽ còn tiếp tục mãi mãi.
Hiển nhiên cá nhân của cha không
phải là cái thể xác đã bị hủy
hoại kia mà là phần tâm linh vẫn
tiếp tục hoạt động này, do đó
cha mới cố gắng liên lạc với các
con để hoàn tất điều mà cha đã
hứa với các con khi xưa.
Cha nghiệm được rằng sự sống
giống như một dòng nước tuôn
chảy không ngừng từ nơi này qua
nơi khác, từ hình thức này qua
hình thức khác. Khi trôi chảy
qua những môi trường khác nhau
nó sẽ bị ảnh hưởng những điều
kiện khác nhau; và tùy theo sự
học hỏi, kinh nghiệm mà nó ý
thức được bản chất thiêng liêng
thực sực của nó. Cũng như sóng
biển có đợt cao, đợt thấp thì
đời người cũng có những lúc
thăng trầm, khi vinh quang tột
đỉnh, lúc khốn cùng tủi nhục,
nhưng nếu biết nhìn lại toàn vẹn
tiến trình của sự sống thì kiếp
người có khác chi những làn sóng
nhấp nhô, lăng xăng trên mặt
biển đâu.
Chỉ khi nào biết nhận thức về
bản chất thật sự của mình vốn là
nước chứ không phải là sóng thì
các con sẽ ý thức được tính cách
trường cửu của sự sống. Từ đó
các con sẽ có một quan niệm rõ
rệt rằng chết chỉ là một diễn
tiến tất nhiên, một sự kiện cần
thiết có tính cách giai đoạn chứ
không phải một cái gì ghê gớm
như người ta thường sợ hãi. Điều
cần thiết không phải là trốn
tránh sự chết hay ghê tởm nó,
nhưng là sự chuẩn bị cho một sự
kiện tất nhiên phải đến một cách
thoải mái, ung dung vì nếu khi
còn sống các con đã đem hết khả
năng và phương tiện của mình để
giúp đời, để yêu thương mọi loài
thì lúc lâm chung, các con chẳng
có gì phải luyến tiếc hay hổ
thẹn với lương tâm cả. Trước khi
từ biệt các con, cha muốn nói
thêm rằng hiện nay cha đang sống
một cách thoải mái, vui vẻ và an
lạc chứ không hề khổ sở.
Nguyên Phong dịch
|