|
Đạo
Phật và tôi:
CON ĐƯỜNG ĐI TÌM CÁI TRÍ-HUỆ
Bùi Thế Trường
Mục đích: làm sao cố đạt được cái tâm thanh
tịnh, để có được cái trí huệ như các chư Phật?.
Đối tượng: Nên cần quan tâm đến các yếu tố gây
trở ngại và ảnh hưởng mạnh đến trí huệ phát
sinh như: vọng niệm, chấp thủ và phân biệt
chấp trước, nếu muốn đạt mục đích sau cùng là
có được cái tâm thanh tịnh.
Kinh Hoa Nghiêm có ghi lời Phật dạy: “tất cả
chúng sinh đều có những khả năng và trí huệ y
như Đức Phật, nhưng lại không có khả năng nào
và hoàn toàn khác hẵn đối với chư Phật”? tại
sao?, là vì do các yếu tố gây trở ngại như
vọng niệm là ý niệm không thực có và huyễn
hoặc, và chấp thủ là cho ý niệm tự cho là của
mình và ôm giữ chặt không buông, hay có ý nghĩ
phân biệt chấp trước là mang cái ý nghĩ nào
giống mình thì chấp nhận, còn khác mình thì
chẳng thèm để ý và bát bỏ, nên tất cả đều che
lấp mất mất cái khả năng trên và kết qủa là
không giống như Chư Phật. Vậy muốn tu theo Đạo
Phật, muốn giống như Chư Phật, thì nên theo
đúng lời chỉ dạy của Đức Phật thì ta phải giải
trừ và buông bỏ mọi vọng niệm và mọi chấp thủ
hay mọi ý nghĩ phân biệt trong ta.
Tại sao cần loại bỏ các yếu tố gây trở ngại để
làm gì?
Để được có cái tâm thanh tịnh và khi đạt được
tâm thanh tịnh đó là ta cãm nhận ta có một sự
an lạc thật sự. Sau một thời gian tu luyện lâu
dài khi đã đạt được tâm thanh tịnh, ta sẽ có
cái trí huệ phát sinh. Khi sự kiện trên đã có,
thì ta có được trạng thái gọi là ngộ hay giác
ngộ. Giác ngộ cũng có mức độ cao thấp, lâu hay
mau tùy theo kết quả của sự đạt được tâm thanh
tịnh sâu hay cạn do qúa trình tu luyện cố gắng
mỗi ngày. Lúc đó ta có thể thấy rõ nhiều vấn
đề để giải quyết trong đới sống hằng ngày
thuộc phạm vi hữu hình và đi xa hơn được cãm
nhận trong phạm vi vô hình có được sau một
thời gian dài tu luyện. Khi đó người có trí
huệ sẽ biết về hiện tại, qúa khứ cũng như
tương lai của chính mình và của mọi pháp chung
quanh, đồng thời thấy rõ một cách xuyên suốt
về chân lý của luật nhân qủa.
Nếu con người không có sự giác ngộ thì dễ bị
tạo lỗi làm chồng chất gọi là tạo nghiệp khổ.
Tất cả mê hoặc và nghiệp khổ là con đường dẫn
đến lục đạo luân hồi. Muốn thoát khỏi chúng là
nhờ có giác. Có giác ta mới có nhận thức thế
nào gọi là đúng hay gọi là sai, sai thì tránh,
đúng thì phải theo nên không tạo nghiệp, không
sống trong và hành động trong mê hoặc. Phá mê
khai ngộ là chân lý quan trọng mà chúng ta cần
nhớ và luôn thức tỉnh để nhớ và thực hành.
Chúng ta cũng biết có được trí huệ khi có được
từ giới và từ định. Khi lòng không thanh tịnh,
khi tâm còn mê hoặc, khi tâm chưa được định,
thì không bao giờ có trí huệ. Khi phiền não
còn, khi kiến tư còn thì tâm thanh tịnh không
còn. Khi dứt sạch kiến tư phiền não, mê hoặc,
ta được tâm thanh tịnh, ta có đượccái trí huệ,
cũng gọi là cái chính giác, gọi là đắc lậu tận
thông. Nếu những điều kiện trên không có đủ để
tạo cái chính giác, thì cái giác có được gọi
không phải là chánh, mà danh từ dung để chỉ
cho nó là “tà tri tà kiến”
Mục đích tối thượng của sự tu luyện theo Phật
giáo là gì?
Đó là đạt đến cái trí tuệ gọi là trí tuệ vô
thượng. Tiếng Ấn gọi là”Anuttara –Sanyak-sambhodi”
là trí tuệ của sự hoàn hảo tối thượng, trong
nhà Phật gọi là “Vô thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác”. Cái trí tuệ vô thượng nầy, theo Đức
Phật, là một phần cốt yếu trong chân tính của
mọi người mà ai cũng có sẵn, chớ không phải là
cái mà con người không có và cần phải vay mượn
hay thủ đắc cho kỳ được. Nhưng sở dĩ, con
người tự mình không thấy cái trí tuệ vô thượng
đó, là vì do sự vô minh dày-đặc che lấp. Vậy
nên làm sao phá vỡ cái vô minh đó, là thấy
được cái cốt yếu của cái chân tính sẵn có nơi
con người, cũng giống như con nhộng cần cắn
phá ổ kén để thấy bầu trới thênh thang ngỏ hầu
khi được trở thành bướm để bay lượn trong
không gian bao la mênh mông đó.
Tại sao phải cần có trí huệ vô thượng?
Trong Kinh Vô Lượng Thọ, Đức Phật chỉ dạy, với
trí huệ vô thượng thì con người có khả năng
nhất quán là chuyển khổ đau thành phúc lạc,
nên vì có trí huệ vô thưọng, con người có it
hay không có những nghiệp qủa xấu, do bởi do
nhân là ý hay hành được trí huệ soi sáng giúp
ta thấy đâu là sai, đường nào là đúng, để ta
đi, và đi đúng, mà kết qủa là hưởng được niềm
vui, hay gọi là có được sự an lạc thật sự. Nếu
không có nó, ta sẽ đi sai đường và chuốc lấy
sự khổ đau ray rứt khôn nguôi. Đưc Phật bảo:
“Vô minh là nguyên nhân của sự đau khổ, còn
trí huệ là nguồn gốc của sự an lạc và hanh
phúc”.
Trong Kinh Vô Lượng Thọ, có nói về mục tiêu
của việc tu hành là tu tâm thanh tịnh, tâm
bình đẳng và tâm giác. Tâm thanh tịnh thì tâm
không có mọi tham luyến, vì nếu có sự tham
luyến bất cứ hình thức hay mức độ nào, đều làm
cho tâm bị ô nhiễm. Khi tâm ô nhiễm là mất đi
tâm thanh tịnh. Khi bị sống trong nghịch cảnh,
người không tốt quanh ta, họ nói xấu hay trêu
trọc hay dựng chuyện hại ta, họ gây nơi ta gây
lòng oán hờn tức giận thì tức nhiên tâm ta bị
ô nhiễm, mà kết qủa hiển nhiên là tâm không
được thanh tịnh. Khi sống trong môi trường mà
xung quanh không phải là người, là những thú
vật nhỏ và lớn, làm ta không hài lòng, do bởi
ta có lòng khinh chúng là loài côn trùng, loài
thú hoang dại, sự không hài lòng như thế làm
tâm bị nhiễm ô, kết qủa tức nhiên tâm không
được thanh tịnh. Nói tóm lại, dù hoàn cảnh nào,
dù gặp bất cứ duyên tốt hay xấu, hài lòng hay
không, thì tâm luôn không bị ngoại cảnh làm ô
nhiễm, thì đó là đạt được cái công phu của bực
chân tu.
Còn tâm bình đẳng là sao? là đối với người hay
vật, kể cả con dế, ta không coi ta hơn chúng,
hay chúng là thú vật nhỏ thấp, mà xem ta và
chúng cũng giống ngang nhau như ta. Hay đối
với những người, có căn cơ thấp kém, ta không
nên có tư tưởng phân biệt cao thấp, mà coi họ
với ta cùng ngang nhau. Vì sao? Vì tất cả
chúng ta trong nhiều đời kiếp kiếp, đều đi qua
tất cả pháp giới, từ giới nhỏ nhất như con
giun, con kiến, đến giới ngã quỷ, súc sanh,
các nơi đó chúng ta đã sống và đã trải qua.
Nay được may mắn làm thân người, vì do căn cơ
cao thấp, vì do tiền căn chưa trả hết, nên đối
với con người , con vật hay con dế , con kiến,
tất cả đếu là đồng loại với ta từ muôn kiếp,
nên phải coi họ giống như ta, bình đẳng như ta.
Được vậy là ta đạt đươc cái tâm bình đẳng. Tâm
bình đẳng là Tâm của Phật. Tâm của Phật là
chân tâm. Đó là chân lý. Hiểu như vậy thì làm
gì có cái gọi là giai cấp, mà Công sản chủ
trương giai cấp đấu tranh. Giai cấp đấu tranh
chủ nghĩa nói lên cái hiểu biết nông cạn, của
những kẻ căn cơ thấp kém, ấu trỉ và hẹp hòi
tâm trí, chỉ gây tạo nên tâm bất bình đẳng và
đầy vô minh, với tâm như vậy chỉ làm băng hoại
tất cả nền móng căn bản đạo đức con người, căn
bản của xã hội, và biến con người thua cả loài
thú. Trở lại hiện tại của chế độ CS tai Việt
Nam, cùng là người Việt, cùng giồng máu, nếu
bất cứ ai chẳng may có chút của cải, có hoc
hành nhất là đi du học nước ngoài, có kiến
thức, có văn hóa, có biết phân biệt đúng sai,
tất cả đều bị đem ra đấu tố, đem giết hết, như
trong vụ CCRD, đánh tư sản mại bản, mục đích
là chỉ còn lại trong xã hội một thảm cỏ dại
chỉ ăn hại đất, và họ rêu rao là để tạo ra
thiên đàng xã hội chủ nghĩa, mà thực tế cái
thiên đàng nầy do những tên đảng viên CS dốt
nát, mà bản chất lại rất hèn hạ, đánh khinh bỉ,
trong họ tràn đầy tham nhũng thúi tha, chúng
bán nước, bán đất, bán biển,bán biên giới, bán
TS HS, bán rừng, bán tài nguyên, bán đàn bà
trẻ em vị thành niên, bán thanh niên trai
tráng, làm xã hội băng hoại, phá đạo, phá đời,
xã hội không có luật lệ chỉ có luật rừng tùy
tiện, tư oai tự tác, thô bỉ hèn hạ nhất, bỏ tù
bất cứ ai có biết và thấy các đê hèn của chúng,
chúng hành sử còn thua xa cả loài thú vì loại
thú từ ngàn xưa tới giờ, chúng chưa giết hại
đồng loài của chính chúng, chúng thua cả thời
kỳ tiền sử, thời kỳ ăn lông ở lỗ chúng thua
qúa xa cả ngàn ngàn dậm trong lịch sử của nhân
loại loài người. Sự phân tách trên, để nói chủ
nghĩa CS không thể nào sửa đổi được.
Tâm giác ngộ ra sao?. Nếu không có chút nào
cái tâm giác ngộ nơi ta, thì ta cứ mãi mãi đọa
lạc trôi nổi trong luân hồi. Trên con đường
đến cái trí huệ được phát sinh là do tâm thanh
tịnh, kết hợp với trì giới và thiền định, thì
mỗi chặng đường, tại mỗi nơi mỗi ngả, mỗi khúc,
ta luôn tự kiễm chứng nơi tâm ta xem tâm giác
của ta đáp ứng như thế nào, đúng sai ra sao.
Trên con đường đó, nếu có sai bao nhiêu, ta
phải sửa chữa bấy nhiêu, luôn luôn cải thiện
cho tốt hơn, nếu không làm thế, thì làm gì có
được cái tâm giác chân chính. Chính cái tâm
giác chân chính, nó giúp ta nhận thấy được qủa
báo nhản tiền.
Yếu tố cần cho sự thanh tịnh là gì?
Thanh tịnh là một yếu tố để có được cáì trí
huệ. Tuy nhiên, nó không phải là một yếu tố ắc
có và đủ. Nó lại tùy thuộc vào 2 yếu tố then
chốt khác, đó là Trì giới, thiền định rồi mới
đến tuệ. Ba yếu tố nầy là ba ẩn số của một
phương trình, chúng liên quan mật thiết nhau,
thông nhau như bình thông nhau. Một yếu tố tốt
thì 2 yếu tố kia cũng được tốt. Trái lại, và
ngược lại. Nghiã là khi trì giới không tuân
thủ đúng giới luật thì thanh tịnh không có, và
huệ chẳng hiện. Nghĩa là huệ hiển lộ khi 2
giới kia được tu luyện thuần thục sau một thời
gian dài. Bởi vì trì giới là phương tiện giúp
hành gỉả mau đạt tâm ổn định và sự thanh tịnh.
Còn thiền định thì giúp hành giả trong lộ
trình tiến tới để mau đạt cái trí huệ. Nên tất
cả giáo lý kinh điển của Đức Phật, gồm ba tạng
kinh như kinh Tạng, Luận, Luật đều lấy 3 yếu
tố trên làm nền tảng, làm mốc để nhắm tới là
thiền định, trì giới và định tuệ. Và khi một
điều đạt được thì đạt được cả ba điều. Dĩ
nhiên, không thể nói rằng đạt được sự thanh
tịnh tốt, khi sự trì giới thiếu sót, hay thiền
định chưa được tiến bộ. Vì tính chất như bình
thông nhau nên bất cứ sự chểnh mảng của một
hay hai yếu tố đều kéo lùi mọi cố gắng đạt
được của những cái khác. Sự thanh tịnh được
thành tựu khi 2 yếu tố kia cũng thành tựu viên
mãn.
Cái quan trọng nhất của tâm thanh tịnh là cho
những ai có chân trí tuệ, có tín tâm thanh
tịnh sẵn có trong họ như là bẫm sinh, thì đầu
óc họ thanh tịnh, không suy nghĩ loạn xạ,
buông bỏ hết mọi duyên, không cần trì tụng
kinh nữa, chỉ cần một câu niệm Phật, họ đạt
đạo gọi là vô thượng đạo, không ai theo kịp.
Mục đích của các tông phái Phật giáo ra sao?
Thế nên tât cả các tông phái của Phật giáo
cũng nhắm đạt được cái đích của 3 điều trên.
Như Thiền Tông, giúp nhìn thấy cái chân tính
trong sáng của mình và thức tỉnh con người để
mau đạt được gíac ngộ, đó là “minh Tâm kiến
Tính”. Mât tông đòi hỏi mức tu luyện tâm trí
cao hơn, nên cần phải có trình độ tu tập cao,
cho một số ít người có đủ điều kiện. Tịnh độ
Tông là làm sao cho tâm trí luôn được tịnh hóa
nghĩa là thanh tịnh và thức tỉnh. Về sự tu tập
thì giữa Mật Tông và Tịnh độ cũng có sự khác
biệt ở chổ nầy: Tịnh độ dạy ta tu luyện tâm
trí thanh tịnh qua việc tránh xa mọi ô trược;
trái lại, Mật Tông thì dạy chúng ta tịnh hoá
tâm trí ngay tại giữa ô trược dù bị nhận chìm
trong ô trược nhưng không bị nhiễm ô bởi ô
trược, giống như các giống sen vươn lên từ bùn
lầy, mà lại cho bông toả ngát hương thơm, đến
đổi bùn lầy hôi thúi, trong thời gian được
trồng sen mùi hôi thúi của bùn cũng mất hết.
Cón các tông phái khác như Thiên Thai Tông,
Tam Luận Tông, Pháp tướng Tông thì hầu hết các
Tông nầy đều học và hành giáo lý của Đức Phật
để sửa chữa mọi sai lầm về tâm, về ý và về
hành cho đúng theo lời chỉ dạy của Đức Phật.
Còn mục đích các hình tượng trong các chùa
chiền nhắn gởi chúng sinh điều gì?
Sau đây là vấn đề cần biết, bởi vì có Tỳ kheo
luôn luôn tỏ ra chống đối mọi lễ bái, ngay cả
các nghi lễ đó đã có vào thời Đức Phật hiện
tiền. Bởi lẽ, nếu không có Tin thì làm sao đạt
được cái Nguyện và Hạnh. Tín không cao thì
không đủ Nguyện. Không đủ Nguyện thì Hạnh
không đủ có. Tu hành không Hạnh thì đừng tu là
tốt hơn. Tỳ kheo đã quên hẳn điều trên và đó
là một sự thất bại.Tôi đã xem trên internet,
thấy mà tội nghiệp cho Tỳ kheo nầy. Ngay cái
bản thân gọi là tỳ kheo mà cái hạnh tối thiểu
cần có của Tỳ kheo là như nhẫn nhục, khiêm
cung, v.v .. cũng không có lại còn tỏ ra qúa
nhiều ngã chấp chưa cải thiện gì hết mà lại
lên lớp dạy Đạo Phật trên net. Bởi lẽ, dưới
chế độ CS, họ biến mọi tôn giáo thành công cụ
phuc vụ ý đồ của đảng, hôm nay họ là công an,
ngày mai là tỳ kheo hay thành cái chi chi. Họ
đã phá mọi hình tượng cho là không giá trị, mê
tín, cố gây hoang mang, cố đánh mất mọi niềm
tin. ..vậy trong Đạo Phật hình tượng mang ý
nghĩa gì?
Tượng Đức Phật tượng trưng cho sự giác ngộ
viên mãn là tròn đầy không thiếu sót, là chân
tâm là giác ngộ nguyên thủy. Bồ Tát Quán Âm,
tượng trưng cho lòng từ bi bao la, là lòng bi
tâm và từ ái bao la vô tận. Bồ Tát Đại thế Chí
tượng trưng cho đại trí tuệ. Bồ Tát Văn Thù
tượng trưng cho trí tuệ cao xa, và lòng quan
minh chánh đại. Bồ Tát Phổ hiền tượng trưng
cho tâm đại nguyện thực hành giáo lý của Đức
Phật là tâm bi, tâm hiếu và trí huệ. Chư Phật
và các vị Bồ Tát là những vị không những làm
ta kính trọng ngưởng mộ trọn vẹn mà còn là mục
tiêu mà ta cố gắng theo đuổi nhắm tới để đạt
được cái phúc lạc hoàn hảo nhầt. Về tranh hay
tượng thì tranh tượng Đưc Phật tượng trưng cho
Phật Bảo, còn tranh tượng Bồ Tát tượng trưng
cho Tăng Bảo. Kinh sách tượng trưng cho Pháp
bảo. Việc ngắm tranh hay tượng của Chư Phật
hay các vị Bồ Tát là giúp ta nhớ những giáo lý
cao siêu mà các Ngài đã truyền đạy, và tự mình
cố gắng làm theo gương cac Ngài. Tât cả những
hình thức hiển bày trên nhắc ta là mọi điều
qúy báo đều có trong bản thân, và chúng ta
phải cố gắng làm cho chúng được sáng tỏ bằng
cách giải trừ vô minh, đạt giác ngộ. Đến đây
thì chúng ta mới hiểu rỏ câu nói với ý nghĩa
đầy thâm thúy: Chúng ta quy y Phât là không
phải chúng ta muốn được an trú cửa Phật, hay
trong Ngài, mà quy y Phât là phải từ bỏ cái
tâm vô minh và quay về nương tựa Phật tánh vốn
có của mình dù ta ở đâu, bát cứ nơi nào. Đó là
quy y tự tánh của mình. Đó là tự tánh Giác ngộ
vốn sẵn có. Đó là quay lưng lại với tâm vô
minh mà nương tựa vào tâm giác ngộ. Nên các
tranh hay tượng của Chư Phật hay các vị Bồ Tát
là điễm tựa của tinh thần Giác ngộ đích thực
mà ta cần phải có đươc cho chính ta, nhắc nhở
ta luôn nhớ trở về sự giác ngộ. Bởi lẻ, Đức
Phật thường nhắc nhở:” Hãy tự đốt đuốc lên mà
đi”. Chính các ngài đã dạy ta, trao lại cho ta
những tri kiến tối cần để ta tự giải quyết cho
chính ta như tránh khỏi đau khổ, phiền não,
hay vọng niệm để sau cùng có được những phúc
lạc trong cái tâm đầy thanh tịnh. Nhờ thế,
chúng ta mới qùy lạy Đức Phật, ví Ngài đã quá
thương chúng sinh, Ngài phải bỏ ra 49 năn
trường, rày đây mai đó, giảng dạy hoài cho
chúng sinh, hầu mong chúng sinh thoát khỏi
vòng luân hồi khổ não. Nhưng chúng sinh vẫn
quên lời dạy của Ngài nhiều hơn là nhớ và tiếp
tục ngụp lặn trong bể trầm luân. Đối với tôi,
tôi cho rằng, chân hạnh phúc của mỗi người là
khi được xây dựng trên nền mong vững chắc của
tâm thanh tịnh, thì lúc đó ai thưc hiện
đượccái tâm thanh tịnh đó chính là người hạnh
phúc nhất và an lạc nhất.
Muốn có được cái tâm thanh tịnh, ta cần hiểu
các vấn đề về tâm
Vậy chân tâm là gì?
Hiểu đạo Phật là làm sao hiểu về cái chân tính
hay chân tâm . Chân tâm là tâm chân thật,
trong sạch, không ô nhiễm bởi ý tưởng xấu. Tu
theo Đạo Phật là làm sao đạt tới việc chứng
ngộ chân tâm hay chân tính. Nên ngươi tu sĩ
cần phải an trụ chân tâm của mình. Đó là cách
làm cho tâm của mình luôn luôn ở trong trạng
thái yên lặng, an ổn và thanh thản, bình an.
Là làm cho tâm mình không bị ảnh hưởng bởi
ngoại cảnh, không bị điên đảo vì bên ngoài,
không bị ray rứt xáo trộn từ bên trong. Đức
Phật bảo tất cả chúng sinh đều có Phật tánh
hay chân tính hoặc chân tâm và trí huệ vô
thượng, vì thế không có sự khác biệt giữa các
chúng sinh trên đới nầy. Sở dĩ có sự khác biệt
giữa mọi người là vì con ngươi không nhận ra
cái chân tính, không nhận ra cái chân tánh là
do bởi do vô minh che lấp. Thế nên, Đức Phật
chỉ dạy là làm sao nhận ra cái chân tánh để
thấy cái trí tuệ nội tại, đó là cái hoàn hảo,
tối thượng của con người. Vì nếu không có trí
tuệ thì mọi nhận thức, mọi ý kiến, cùng mọi
hành vi đều hầu hết sai lầm, nên tự chuốc lấy
khổ đau. Vì có được trí huệ, thì ta giải quyết
mọi vấn đề trong ta và xung quanh ta một cách
hoàn hảo, hưởng nhiều niềm vui vì trí huệ là
nguồn gốc của phúc lạc. Trái ngược vô minh là
cội nguồn mọi đau khổ.
Đức Phật hay Các vị Bồ Tát không nói đến mọi
sự thông minh của chúng sanh, vì nó vốn không
xuất phát từ tâm thanh tịnh, mà nó xuất phát
từ sách vở, nhà trường. Dù những người đó rất
thông minh và không ngoan, như những khoa học,
những triết gia, những lãnh tụ tôn giáo. Nhưng
Đức Phật không xem tri kiến của họ là sự giác
ngộ đích thực, bởi vì tâm họ chứa nhiều hay
chưa giải trừ nhiều phiền não, họ còn chấp thủ
chấp trước, chấp ngã, chấp vào điều phải trái
đúng sai của người khác, chấp những gì không
giống y mình, lại còn có nhiều tham sân si và
kiên ngạo, kênh- kiệu. Đó là những tri kiến
biện thông trí biện luận để được thông suốt,
không phải là trí huệ chân thật. Tất cả nói
lên là họ chưa đạt được cái tâm thanh tịnh.
Khi tâm thanh tịnh chưa đạt được, thì mọi tri
kiến của họ vẫn mãi mãi không phải là những
tri kiến chân chính hay là những giác ngộ chân
chính. Đó là tri kiến biện.
Nên cái trí huệ chân thật trong nhà Phật có
đươc là do từ giới và từ định. Nếu tâm không
định, lòng không thanh tịnh, và sao lảng việc
trì giới, thì không có cái trí tuệ. Có thể
thấy phần nào trong cái tâm thanh tịnh là
trong đó không có những tư tưởng riêng tư
phiền não. Trong Kinh Kim Cang có ghi một câu
cần nhớ:” Tín Tâm Thanh Tịnh, tắc sanh thực
tướng”. Bây giờ, xin nhìn vào cuộc đới của Đức
Phật, ta học đươc những gì? Không đạo tràng
buông bỏ mọi ngã chấp, chỉ đi khất thực để
sống, ngũ dục và lục trần đều buông bỏ sạch,
danh lợi không nhiễm hóa đều buông bỏ sạch ,
vạn duyên đều buông xuống, suốt đời thuyết
pháp để giúp chúng sinh thoát khỏi cái vô minh
, để thoát khỏi vòng sinh tử, như thế mới có
tâm thanh tịnh. Trong kinh cũng có câu:” Duy
tâm sở hiện, duy thức sở biến” là “cảnh hiện
tùy tâm, cảnh biến tùy theo thức”, nghĩa là
tâm có thể chuyển cảnh giới, vạn pháp. Như
thế, cái tâm thật sự quan trọng biết dường
nào, còn tâm thanh tịnh không nhiễm ô lại quan
trọng nhất trong đời của mỗi người. Nếu sự
thông minh của chúng sanh được xuất phát từ
tâm thanh tịnh, thì chúng sanh đó có nhiều trì
huệ hơn, nhiều giác ngộ cao hơn, gặt hái nhiều
thành tựu chân thật hơn.
Khi tâm thanh tịnh có, thì trí huệ hiện ra,
đồng thời sự phần não bớt đi. Khi phiền não
càng bớt đi, thì trí tuệ càng gia tăng, nên sự
thanh tịnh cũng gia tăng theo. Tóm lại, phiền
não và thanh tịnh là tỉ lệ nghịch, khi cãm
thấy cái trí tuệ nhiều hay ít, sáng láng nhiều
hay ít, thì sự phiền não càng lúc càng giãm đi
đến tối thiểu. Sau một thới gian tu luyện lâu
dài, người tu có thể giải quyết nhiều vấn đề
trong cuộc đới nầy và thấy được hay cũng giải
quyết đươc nhiều việc ngoài thế gian. Việc
ngoài thế gian chỉ dành cho Đức Phật hay các
vị Bồ tát.
Nói một cách khác, làm sao có được cái tâm
thanh tịnh bằng những cụ thể có thể thực hành
được? Từng bước một, chúng ta sẽ thấy rằng,
những cái đeo đẳng ta làm ta vô minh, đó là
tánh vị kỷ (selfish mind) là vì mình, vì ta mà
thôi. Nếu bỏ được ta thấy biết bao lợi ích
thật mang đến cho mọi ngươi hạnh phúc. Nếu tâm
vị kỹ được dẹp bỏ, ta mới thấy được cái lợi
ích do trí huệ đem lại. Kế là cái chấp ngã, là
chấp mọi cái thuộc về ta, dù đó không phải là
của ta, vì chấp ngã nên tìm mọi cách để thuộc
về ta, như đất cát của dân, chánh quyền tìm
mọi cách tráo, lừa, hay bịp dưới nhiều hình
thức, để trưng dụng , bán cho ngoại bang kiếm
lời to, hay vì muốn giữ cái ghế, địa vị và
quyền lực, nên cứ bán đảo, bán biển, bán rừng
đầu nguồn, bán bauxite, bán biên giới, bán
trung tâm thương mại khắp tỉnh thành, để được
thu nhiều đầy túi của ta gọi là của cải ta.
Thực tế nêu trên cho thấy nếu chánh quyền mang
đầy ngã chấp thì tại hại vô lường. Khi nào từ
bỏ được cái tâm ngã chấp thì lúc đó ta mới có
khả năng xét đóan sự thật, gỉa, sự đúng sai,
sự phải trái, điều lợi hại. Và tiếp theo là
cái chấp tà kiến, cái lươn lẹo (dishonest) làm
cho tâm ta không bao giờ thanh tịnh. Khi ba
cái trên được bớt đi, hay bị tiêu diệt, thì
trí huệ hiện ra, và ta thấy rõ chiều sâu của
mọi việc, nhìn xuyên suốt mọi vấn đề, thật hư,
giả dối, phải trái, lợi ích, độc hại, v v. Nếu
qúy vị dọc tới đây, qúy vị tập thử, bỏ một cái
thôi, như chấp ngã, thì qúy vị sẽ cãm nhận
những gì tôi viết ra từ sự chỉ dạy của Đức
Phật hay các vị Bồ Tát là hoàn toàn đúng, là
có đươc cái tâm thanh tịnh. Như trong cuộc
sống gia đình, khi tâm mọi người được thanh
tịnh, thì đới sống trong gia đình được nhiều
hạnh phúc. Khi tâm không còn thanh tịnh nữa,
như cải lộn ấu đả liên miên, thì gia đình biến
thành địa ngục. Môt cụ thể khác, nếu bỏ chấp
ngã không được, thì nhiều vấn đề nan giải xãy
ra. Vì có chấp ngã, nên luôn tìm mọi cách, làm
mọi thứ, làm sao cái không phải của mình phải
thuộc về mình, như việc Chính phủ vay tiền
mượn ngân hàng quốc tế như trường hợp của
Vinashin, vì chấp ngã nên tự coi tiền vay mượn
kia như là của mình, chúng thản nhiên ôm nhau
chia chác làm nợ gần 5 tỷ Mỹ Kim, trong đó có
2 tên trốn ra nươc ngoài, còn Thủ Tướng thì
cười ruồi. Vì chấp ngã nên chấp luôn cái ngã
sở là cho những cái không phải của mình là
thuộc về mình, nên xã hội đảo điên từ trên
xuống dưới toàn là lũ ăn hại đưa đến việc bán
nước và mất nước. Trong một nước, toàn là
người chấp ngã, thì xã hội nghèo nàn, mất nước
là cái chắc.
Làm sao hàng phục được vọng tâm?
Vọng tâm là mặt trái của chân tâm như đồng
tiền có hai mặt. Nó được gọi là vọng khi ý
tưởng sai lạc, mọi sự sai lầm, tham sân si,
mọi chấp thủ, chấp ngã, chấp trước, thường
xuyên hiện diện kích động. Muốn cho vọng tâm
được hàng phục ta, nghĩa là đầu hàng
(surrender) ta, ta cần dứt khoát phải buông xả
bỏ. Muốn buông xả thì ta hiểu và nhớ lời Đức
Phật dạy: tất cả các Pháp đều không thật, pháp
đó gồm cả người và mọi sự vật. Vì không thật,
nên phải bỏ. Khì phải buông bỏ hết, nên lòng
ham muốn lại bớt đi. Khi lòng ham muốn bớt đi
hay không còn, thì vọng tâm cũng lắng động
xuống để rồi tự tan biến, và tâm trở nên thanh
tịnh. Hãy nhìn ra biển cả, thấy sóng ba đào.
Sóng là vọng tâm. Sóng: có lúc có, lúc không,
vô chừng, lúc to, lúc nhỏ, vô thường lúc yên,
lúc nổi. Sóng ba đào có khi có gió, biển lại
động, biển càng động, sóng càng to. Khi hết
gíó, thi biển hết động mặt biển bằng phẳng là
lúc mọi vọng tâm bị buông xả hết, thì sóng trở
thành nước biển. Sóng tượng trưng cho vọng
tâm, Nước biển là chân tâm. Vì thế, khi thấy
sóng ba đào , gợi ta nhớ đến sự điên đảo, do
vô minh che lấp, do mọi chấp có hay chấp
không, chấp ngã, chấp pháp hiện diện, và một
khi tất cả những thứ trên không cón nữa, biến
thành không, là lúc biển lặng, thì đó chính là
lúc ta được tâm thanh tịnh. Nếu trong nhà Phật
gọi sóng là Thể. Thể của sóng có thể thay đổi
hình dạng khác nhau, nhưng bản chất của sóng
là nước lại không thay đổi. Nước lại được gọi
là Tánh. Tánh có được khi có sự thanh tịnh.
Thể và Tánh là một, nhưng lại khác nhau về
trạng thái. Thế mới biết tâm thanh tịnh quan
trọng dường nào. Chỉ có tâm thanh tịnh mới trị
dứt khoát cái vọng tâm.
Còn Pháp là gì?
Là tất cả những gì có hình dáng, mà ta thấy
được, biết được, gọi là Pháp. Pháp là tất cả
mọi sự vật từ tinh thần, đến vật chất, từ hữu
hình đến vô hình, như ta, người, chúng sanh,
kiếp sống, vv ..đều gọi là pháp. Vì sao gọi
pháp là không? Vì tất cả đều do duyên hợp mà
thành. Vì do duyên hợp nên bản thể của chính
nó vốn là không, là chính nó không có tự thể,
gọi là vô ngã. Vì là vô ngã nên nó không có tự
tánh. Vì không có tự tánh, nên gọi nó là
không. Viết đến đây, nếu tôi ngừng tại đây, là
tôi phạm lỗi nặng, vì tôi tạo sự hiểu lầm cho
qúy vị về ý nghĩ chấp không. Qúy vị hỏi, ngã
là ta, là tôi, tại sao lại chấp không? Thân
tôi là không vì thân tôi là do tứ đại hợp
thành. Nên không tự thể, không tự tánh, nên
gọi là không. Nhưng tôi thấy thân tôi có, rờ
thấy nó, tại sao gọi là không? Thân có gọi là
tạm có, chớ không phải thật có. Có là do khi
đủ duyên hợp lại. Khi hết duyên, khi duyên tan
đi, thân nầy trở về cát bụi. Nghĩa xa hơn, khi
Đức Phật bảo, là khị mình còn mê, còn quá
nhiều vô minh thì không nên coi Phật Pháp là
không quan trọng, coi như không có, mà phải
coi luôn là chúng luôn có mặt, mà ta cần phải
nghe, phải học, phải thưc hành để hết cơn mê,
để hết vô minh, và được giác ngộ. Trái lại,
khi đã hết mê rồi, đươc giác ngộ rồi, thì
không cần giữ đến Pháp nữa, nghĩa là cũng
không cần coi Pháp là Có nữa. Cụ thể nhất, qúy
vị muốn qua sông, qúy vị cần bè hay ghe. Qua
được bên kia sông rồi, nên bỏ bè hay ghe đi.
Nếu chấp Có, nghĩa là bất cứ đi đâu ở bờ sông
mình qua được, cũng mang bè hay đội ghe trên
lưng, thì tự xét coi có trở ngại hay không?
Đức Phật bảo: “ không nên chấp pháp và những
gì không phải là pháp”. Này các Tỳ kheo, “giáo
Pháp của ta cũng giống như chiếc bè, chánh
Pháp còn nên xả bỏ, huống chi là những gì
không phải là Chánh Pháp”.
Yếu tính tự tánh có được của các Chư Phật.
Từ đó chúng ta mới hiểu thật sâu rằng Đức Phật
và các vị Bồ Tát thuyết pháp hoàn toàn là xuất
phát từ tự tánh, từ chân tâm, chứ không phải
là do lời nói của một người nào đó. Những lời
nói như thế là chân thật, không phải tùy tiện
mà nói. Khác với phàm phu khi họ nói với cái
ngã của họ, cho nên họ nói không thật chân
thật. Vì chư Phật, Bồ Tát đều vô ngã, ngay cả
trong thâm tâm của các vị cũng không có cái
gọi là kiến giải, không có ý niệm về ngã,
không chấp tướng, chấp chúng sanh, thọ giả.
Các vị thuyết pháp từ tự tánh, là thuyết pháp
chân thật. Nếu lời thuyết pháp xuất phát từ
tâm ý thức, gọi là ý thức của cá nhân, thì lời
nói của thuyết pháp đó không thể tin được. Đó
là bài học lớn nhất để ta suy ngẫm giữa các
chân tu và phàm phu, với những kẻ mượn lớp áo
tu hành trong xã hội đang băng hoại hiện tại.
Kết luận.
Tóm lại, là làm sao phải có đươc cái tâm thanh
tịnh. Hạnh phúc thay cho những ai có được cái
tâm thanh tịnh đó hiện hữu it hay nhiều, lâu
hay mau trong họ. Họ sẽ tự cãm nhận cái giá
trị thật sự qua sự chỉ dạy của Đức Phật và các
vị Bồ Tát khi đạt được cái tâm thanh tịnh.
Việc cãm nhận đó giống như ai có uống nước thì
mới cãm nhận cái vị của nước. Khi chúng ta
buông xã tât cả, buông bỏ hết tất cả, ta có
đươc tâm thanh tinh. Khi tâm được thanh tịnh
có, có nghiã là qúa trình trì giới và qúa
trình thiền định đã đạt đến mức tối hảo trên
con đường tu tập. Tâm càng thanh tịnh thì mọi
mê vọng, tham sân si, tà kiến và kiêu ngạo
biến đi. Từ đó trí huệ phát khởi. Nhờ có trí
huệ mà ta mới tự giải thoát được trọn vẹn
chính ta môt cách thật sự và trọn vẹn ý nghĩa
nhất. Như thế trạng thái đạt đạo đó được gọi
là như thị, như thị !
BÙI THẾ TRƯỜNG
Mùa Đông, Miệt dưới, 2011
|