|
Được
hướng dẫn bởi một lĩnh tụ thiết
tha sôi nổi, một viện nghiên cứu
mới hy vọng sáng tạo nên những
bài học từ Phật học để nghiên
cứu lòng vị tha và để làm cho
thế giới chúng ta trở thành một
nơi tốt đẹp hơn.
Ngược lại năm 2000, James Doty
đang sống một đời thượng lưu.
Ông lái một chiếc Ferrari để đi
làm và đang trong một chương
trình mua một hòn đảo riêng ở
Tân Tây Lan, một tòa nhà ở
Tuscany, và một căn chúng cư
trên đỉnh của tòa nhà. Một bác
sĩ giải phẩu thần kinh biến
thành một nhà nghiên cứu sinh
học, Doty đã thu thập được hơn
70 triệu đô la, ít nhất là trên
giấy tờ. Ở tuổi 45, ông đã dự
tính về hưu, hiến tặng một phần
lớn tài sản cho cơ quan từ thiện,
và chia thời gian giữa ba ngôi
nhà điền viên trong khi làm việc
thiện nguyện ở những xứ phát
triển.
Tháng vừa rồi, Doty đứng sau một
bục giảng tại Đại học Stanford ở
Palo Alto, California, giải
thích làm thế nào ông ta đã mất
tất cả trong một cuộc vở nợ
dot-com. “Trong vòng sáu tuần,
tôi đã phải nợ 3 triệu đô la,”
ông nói thế. Ông phải hôn giả
biệt hòn đảo riêng, tòa nhà, và
ngôi chúng cư. Nhưng ông quyết
định chống lại lời khuyên của
bạn bè và gia đình, để tiếp tục
những cuộc hiến tặng cổ phần mà
ông đã hứa hẹn trước khi vở nợ
cho một số trường đại học và
những cơ quan từ thiện sức khỏe.
(Bằng việc giữ lại chứng khoán
cho đến khi thị trường hồi phục,
người ấy nhận được gần 30 triệu
đô la căn bản). Doty nói rằng
mất đi tài sản vật chất khiến
ông trầm tư hơn. “Được tháo gở
một cách hoàn toàn khỏi những
thứ gì ấy mà bạn nghĩ là bạn cần
thiết là một việc thực tập thích
thú,” ông nói, giọng ông thoáng
vẻ cảm xúc. “Bạn nhận ra điều gì
ấy là…nó không định nghĩa bạn
như một con người.” Mặt ông đỏ
lên, ông dường như không thể
tiếp tục. Thính chúng hơi ngở
ngàng lúc đầu, rồi người ta bắt
đầu vỗ tay.
Đấy là một buổi nói chuyện bất
thường cho một hội nghị có tính
chất học thuật, nhưng nó cũng là
một hội nghị bất thường. Thính
chúng bao gồm những nhà tâm lý
học, triết học, kinh tế, thần
kinh học, thần học, tập trung
trong hai ngày để khánh thành
một trung tâm mới tại Stanford
cho sự nghiên cứu khoa học về từ
bi yêu thương. Doty là một người
đồng sáng lập và giám đốc, và
ông ta đã cung ứng 150.000 đô la
để cho nó bắt đầu. Chương trình
cũng nhận một triệu đô la cho
mỗi một người từ hai nhà đầu tư
ở Silicon Valley và 150.000 đô
la từ Đức Đạt Lai Lạt Ma, số
tiền nhiều nhất mà Ngài đã hiến
tặng cho một chương trình nghiên
cứu.
Trung tâm mới cho Nghiên cứu Từ
bi và Vị tha cùng Giáo dục (CCARE)
sẽ nghiên cứu cội nguồn sinh học
của thái độ nhân từ và khảo sát
có phải những sự thực tập tinh
thần phát sinh từ nhiều thế kỷ -
truyền thống cổ xưa của sự thiền
tập từ bi của Phật Giáo – nhưng
nếu cởi bỏ đi những hình thức
trang sức của tôn giáo – có thể
nuôi dưỡng lòng từ bi yêu thương
trong những người không tín
ngưỡng. Doty nói rằng ông ta
không phải là một Phật tử và
không thiền tập, nhưng ông nghĩ
những thực tập như thế có thể
tìm thấy nhiều lợi ích. Thí dụ,
vào đầu năm nay, ông đã bay đến
thủ đô Hoa Sinh Tân, để nói với
những tướng lĩnh quân đội về
việc điều nghiên những bác sĩ
tuyến đầu và những tuyên úy đau
khổ vì “lòng từ bi mõi mệt” –
một hình thức căng thẳng chấn
thương xãy ra bởi sự chăm sóc
những binh sĩ thương tích.
Làm tốt kỷ thuật trong lĩnh vực
này là một nhiệm vụ phức tạp,
lời cảnh cáo của đồng sáng lập
CCARE William Mobley, một nhà
thần kinh học và sẽ nhanh chóng
trở thành thủ lĩnh của khoa thần
kinh học tại Trường Đại học
California, San Diego. Một mặt,
Mobley nói, có nguy cơ vì tín
ngưỡng của những nhà nghiên cứu
can thiệp vào tính khách quan
của họ. “Những nhà khoa học đáng
lý là những người theo chủ nghĩa
hoài nghi chuyên môn, nhưng có
những người trong lĩnh vực …mà
sự quan tâm duy nhất của họ là
để nhìn thấy gương mặt của
Thượng Đế.” Và rồi thì có những
sự hạn chế hay nhược điểm trong
thí nghiệm, chẳng hạn như dựa
trên sự trần thuật của người nào
đấy về những gì xãy ra trên tâm
thức của họ qua thiền quán.
Mobley nói, thậm chí có những
nhà khoa học xua đuổi những việc
như thế khỏi tầm tay, là bị
hướng dẫn sai lầm– và ông ta đã
từng nghe từ hằng khối người
trong họ. “Không có điều gì hạn
chế đối với khoa học và tư tưởng
phê phán,” ông nói. “Chúng ta
không có những khí cụ tuyệt vời,
nhưng chúng đủ đề chúng ta bắt
tay vào việc.”
ĐỊNH NGHĨA TỪ BI YÊU THƯƠNG
Một điểm bắt đầu cho sự thẩm tra
khoa học là một định nghĩa rõ
ràng về đối tượng của sự nghiên
cứu. Tuy thế, hội nghị CCARE
hiện tại đã chỉ rõ rằng là khó
khăn để định nghĩa từ bi yêu
thương một cách rõ ràng. Nếu
những người tham dự đã từng chọn
lựa, họ có thể liệt kê một biểu
đồ vòng tròn của những hình thức
gối đầu nhau – thương cảm, thông
cảm, và vị tha, để gọi tên một
số - được đề đạt bởi những học
giả từ những lĩnh vực khác nhau.
Mặc dù, hầu hết những người tham
dự dường như dễ tiếp thu, nhưng
vị trí kề nhau của khoa học và
tín ngưỡng không phải là điều mà
mọi người muốn. “Toàn bộ sự
trích dẫn này của Đức Đạt Lai
Lạt Ma bên trái và bên phải làm
tôi cảm thấy hơi chóng mặt,” một
nhà khoa học lẩm bẩm.
Thực tế, hội nghị đã khai diễn
một sự khởi đầu tâm linh với một
màn độc tấu hồ cầm khó quên. Lời
Nguyện Cầu Cho Thế Giới Hòa Bình,
được trình diễn bởi tác giả
Michael Fitzpatrick, người đã
từng trình diễn cho Đức Đạt Lai
Lạt Ma. Thupten Jinpa, một cựu
tu sĩ Phật Giáo, là thông dịch
viên chính cho Đức Đạt Lai Lạt
Ma từ 1985, sau đấy đã diễn tả
lịch sử thể nghiệm lâu dài về từ
bi yêu thương trong triết lý
cùng tôn giáo và khuyến nghị
những nhà khoa học “tiếp cận
phạm trù này với sự cởi mở và có
thể là khiêm tốn.” Jinpa giải
thích, trung tâm khái niệm từ bi
yêu thương của Phật Giáo là sự
tin tưởng rằng khả năng để cảm
nhận – và nguyện ước để giải
thoát – sự khổ đau của người
khác là bẩm sinh. Năng lực để
cảm nhận từ bi yêu thương cho
gia đình và người thân đến một
cách tự nhiên, nhưng con người
phải trau dồi lòng từ bi yêu
thương thận trọng có suy nghĩ
cho “phạm vi quan tâm” rộng lớn
hơn,” Jinpa nói thế. “Hình thức
cao nhất của từ bi yêu thương
vượt qua mọi biên giới và bao
gồm tất cả chúng sinh.”
Nhà tâm lý học Paul Ekman, giáo
sư danh dự tại trường Đại Học
California, San Francisco, sự
nghiên cứu tiên phong của ông về
sự biểu lộ trên mặt và ngôn ngữ
thân thể là sự cảm hứng về một
chương trình truyền hình mới Hãy
Nói Dối với Tôi, nói về “sự
trùng hợp ngẫu nhiên” giữa quan
điểm của Charles Darwin cùng với
Phật Giáo về từ bi yêu thương và
đạo đức. Ekman lưu ý rằng trong
Sự Di Truyền của Loài Người,
Darwin viết rằng một trong những
đạo đức quý giá nhất của con
người “dường như sinh khởi một
cách tình cờ từ sự đồng cảm của
chúng ta trở nên nhạy cảm hơn và
phổ biến một cách rộng rãi hơn,
cho đến khi chúng được mở rộng
đến tất cả chúng sinh.” Ekman
tường thuật khi đọc thông điệp
này đến Đức Đạt Lai Lạt Ma (cùng
tác giả với Ngài một quyển sách
của năm vừa qua về cảm xúc và từ
bi yêu thương). Khi Ngài chắc
chắn là đã thấu hiểu một cách
đúng đắn, Đức Đạt Lai Lạt Ma
tuyên bố: “Tôi là một người theo
học thuyết Darwin,” Ekman gợi
lại.
Ekman cũng lưu ý rằng sự quán
sát của Darwin là cách nhìn
những nguyên nhân khổ đau làm
đau khổ những ai quán sát nó phù
hợp với đề cập của Phật Giáo
rằng từ bi yêu thương liên hệ
với cảm nhận rằng sự đau khổ của
những người khác như là không
thể chịu đựng nổi. Ý tưởng ấy
cũng trùng hợp với sự nghiên cứu
của nhà thần kinh học về nhận
thức Tania Singer (Đại học
Zurich, Thụy Sĩ), mà tác phẩm
của bà chỉ cho thấy rằng những
khu vực của não bộ liên hệ trong
nhận thức đau đớn cũng đáp ứng
khi người ta quán sát người khác
bị điện giật (Science, 20 tháng
Hai 2004). Singer diễn tả bằng
chứng mới hơn rằng một vùng nào
đấy, phần não hình chóp phía
trước (the anterior insula),
đóng một vai trò then chốt trong
sự thông cảm.
Nhưng, bà thêm, hoạt động như
vậy ám chỉ đến một cơ chế thần
kinh cho một khía cạnh duy nhất
của từ bi yêu thương, là điều mà
hầu hết những sự xác định đòi
hỏi không chỉ nhận thức khổ đau
của người khác mà cũng cảm thấy
có bổn phận phải làm điều gì đấy
về vấn đề ấy.
Felix Warneken ( thuộc Viện Max
Planck vì Sự Tiến Hóa của Nhân
Loại, Leipzig, Đức Quốc) nói
rằng, động cơ thứ hai xuất hiện
là bẩm sinh. Ông đã trình bày
một video thí nghiệm mà trong ấy
những đứa bé chỉ 18 tháng tuổi
đã tự động đến giúp đở khi ông
giả vờ vật vả với những việc làm
khác nhau – thí dụ, cố gắng tiến
gần đến một cây bút mà ông ta
đánh rơi trên sàn nhà. Ngay cả
những con khỉ vượn tinh tinh đôi
khi thể hiện sự giúp đở không
yêu cầu, Warneken và những đồng
nghiệp đã thấy điều ấy (Science,
3 tháng Ba 2006), khuyến nghị
rằng lòng vị tha tự động không
hẳn mang tính người một cách đặc
thù.
Triết gia Owen Flanagan (thuộc
Đại học Duke ở Durham, North
Carolina) thúc đẩy một cuộc thảo
luận sống động bằng việc hỏi từ
bi yêu thương có thể bị đánh giá
quá cao, có phải không? Những
nhà triết học, và tâm lý học
đương đại đã từng gợi ý rằng đạo
đức bao gồm nhiều tiêu chuẩn
khác nhau (Science, 18 tháng Năm
2007) và Flanagan lý luận rằng
đặt trọng tâm quá nhiều trên một
tiêu chuẩn đơn lẻ, chẳng hạn như
từ bi yêu thương, không có lợi
cho những thứ khác, như ý nghĩa
của sự công bằng và công lý, có
thể không nằm trong sự quan tâm
nhất của xã hội.
GIẢI THÍCH THIỀN TẬP
Cuộc sống Doty đã đẩy ông vào
vai trò của cả người ban ơn lẫn
nhận ơn, thì chắc chắn rằng từ
bi yêu thương hơn sẽ là điều tốt
đẹp. “Tôi lớn lên trong nghèo
khó và có một bà mẹ bệnh hoạn và
một người cha say sưa,” Doty nói
trong một buổi phỏng vấn gần đây
tại văn phòng của ông ở bệnh
viện El Camino, Palo Alto, nơi
ông trở lại là một bác sĩ giải
phẩu thần kinh. Khi ông vào tuổi
13, một người đàn bà địa phương
thương mến đã dạy ông thiền tập,
là điều mà ông nói đã cho sự tin
cậy và kiểm soát điều ông cần để
đạt đến nghề nghiệp chuyên môn
tầm cở và sự thành công về tài
chính. Doty nói rằn ông đã dừng
thiền tập ở trường đại học cộng
đồng khi đã đạt đến sự kiên nhẫn
ngoan cường của tinh thần.
Sau khi nghe Đức Đạt Lai Lạt Ma
thuyết giảng tại Stanford năm
2005 trong cuộc hội thảo với một
số nhà khoa học được giáo sư
Mobley tổ chức, Doty quyết định
nuôi dưỡng nhiều sự nghiên cứu
hơn trong lĩnh vực này. Sau
nhiều cuộc thảo luận với những
nhà nghiên cứu khác, Doty và
Mobley đã khai trương Trung tâm
mới cho Nghiên cứu Từ bi và Vị
tha cùng Giáo dục (CCARE) vào
tháng Giêng.
Vài nghiên cứu sơ bộ được bảo
trợ bởi chương trình này đang
được tiến hành, bao gồm một sự
nghiên cứu về hình dạng của não
bộ với người tu thiền tập sự và
những bậc lão làng cùng một sự
hợp tác nghiên cứu giữa những
nhà thần kinh học và kinh tế học
và điều ấy sẽ ở trong sự khảo
sát đầu tiên về những hiệu quả
của sự hiến tặng từ thiện đối
với những người tiếp nhận –
trong trường hợp này là những
sinh viên chưa tốt nghiệp đang
nhận tiền trợ cấp.
Nhà tâm lý học của Stanford,
Jeanna Tsai vừa hoàn thành một
nghiên cứu do CCARE tài trợ về
phương thức rèn luyện từ bi yêu
thương được Jinpa trình bày,
Jinpa hiện là một học giả thỉnh
giảng tại trường. Những sinh
viên chưa tốt nghiệp không có
kinh nghiệm bao quát về thiền
tập hay Phật Giáo học một lớp/
hai giờ một tuần, trong ấy trước
tiên những sinh viên học về
những căn bản thiền tập như tư
thế và kỷ thuật điều hòa hơi thở.
Tiếp theo, qua một khóa từ 6 đến
8 tuần, hướng dẫn viên hướng dẫn
sinh viên hình dung một người
thương một cách sinh động nhất
mà họ có thể và tập trung trên ý
thức quan tâm mà sinh viên cảm
nhận cho sự cát tường của người
này. Trong khóa học tiếp theo,
sinh viên tưởng tượng những
người mà họ biết ít tường tận
hơn hay thậm chí là không thích
và dần dần mở rộng sự quan tâm
này đến họ.
Tsai phân công một trăm sinh
viên chưa tốt nghiệp tình nguyện
một cách ngẫu nhiên để tiếp nhận
sự luyện tập từ bi yêu thương,
thực tập trong thiền quán chính
niệm, hay một lớp học trên một
sân khấu tiếp cận (*) – để kiểm
soát cho tình trạng khả dĩ, mà
nó đơn giản là học hỏi một
phương tiện mới hay một sự dấn
thân trong một hành động xã hội
– đủ để gợi ra những hành vi tử
tế ân cần. (Những người tự
nguyện được biết rằng họ đang
tham dự trong một nghiên cứu để
đánh giá một vài lớp học tư
tưởng về phát triển sức khỏe
tinh thần và vật lý.) Bản thăm
dò ý kiến trên mạng cho những sự
thay đổi trong những việc như sự
quan tâm thông cảm và khuynh
hướng để tiếp nhận quan điểm của
một người khác. Những người tham
gia cũng ghi chép những “sự kiện
tích cực và tiêu cực” hằng ngày
trong một quyển sổ, mà những nhà
nghiên cứu phối hợp cho bằng
chứng của giá trị cao hơn trước
đây trong những hành vi từ bi
yêu thương. Vào cuối chương
trình nghiên cứu, những người
tham gia đọc một lá thư của một
tù nhân đang tìm một đối tượng
đáp ứng và cho một cơ hội để hồi
âm/ hay góp tiền từ thiện cho
một chương trình nhầm chấm dứt
sự lạm dụng trong những trại
giam. Tsai nói rằng nhóm của bà
bây giờ đang phân tích những dữ
kiện lưu trử để thấy những người
tham gia chương trình huấn luyện
từ bi có viết thư như vậy hay
hiến tặng tiền từ thiện có hơn
những người không tham gia hay
không?
Một chương trình nghiên cứu
tương tự đang tiến hành để khảo
sát xem chương trình huấn luyện
từ bi yêu thương cho những sinh
viên y khoa có thể có cải thiện
cho những thái độ của họ ở
giường bệnh hay không? Nếu nó có
kết quả, nó sẽ làm sáng tỏ hy
vọng to lớn của Doty cho Trung
tâm nghiên cứu từ bi yêu thương
và vị tha (CCARE): đem một sự
thực hành tôn giáo đã có hàng
thế kỷ và rút từ trong ấy một
chương trình về thực tập tinh
thần mà không có ngụ ý tôn giáo
có thể chứng tỏ một cách khoa
học sự thay đổi cung cách con
người đối xử với nhau. Đấy là
một mệnh lệnh cao thượng, nhưng
không có niềm say mê của Doty,
nó sẽ không có một cơ hội đứng
vững.
(*) improvisational theater: tạm
dịch là “sân khấu tiếp cận’ –
một loại hình sân khấu, trong ấy
những diễn viên dùng kỷ thuật
diễn xuất (ca hát, nói chuyện,
và phản ứng) để biểu diễn một
cách tự phát. Diễn viên dùng
những gợi ý của khán giả (những
người có kinh nghiệm chuyên môn)
để hướng dẫn sự biểu diễn khi họ
sáng tạo những lời đối thoại,
dàn cảnh, và tình tiết ứng phó
ngay tức thời.
--
A Quest for Compassion
Greg Miller
Science 24 April 2009:
Vol. 324. no. 5926, pp. 458 –
459
Tuệ Uyển chuyển ngữ
05-12-2009
http://compassion.stanford.edu/news/042909.html
|