|
Nếu có một tôn giáo nào đương
đầu với các nhu cầu của khoa học
hiện đại thì đó là Phật giáo.
Phật giáo không cần xét lại quan
điểm của mình để cập nhật hóa
với những khám phá mới của khoa
học. Phật giáo không cần phải từ
bỏ quan điểm của mình để xu
hướng theo khoa học, vì Phật
giáo bao hàm cả khoa học cũng
như vượt qua khoa học.
"Tôn
giáo của tương lai sẽ là một tôn
giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi
thần linh, giáo điều và thần học.
Tôn giáo ấy phải bao quát cả
phương diện tự nhiên lẫn siêu
nhiên, đặt trên căn bản của ý
thức đạo lý, phát xuất từ kinh
nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực
trên trong cái nhất thể đầy đủ ý
nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được
các điều kiện đó". [Albert
Einstein].
"Tôi
càng ngày càng cảm thấy đức
Thích Ca Mâu Ni gần gủi nhất
trong tính cách và ảnh hưởng của
Ngài, Ngài là Đường lối, là Chân
lý và là Lẽ sống." [Giám mục
Milman].
Phật
giáo là một phương thức làm sao
để đạt được lợi lạc cao nhất từ
cuộc sống. Phật giáo là một tôn
giáo của trí tuệ mà ở đấy kiến
thức và thông minh chiếm ưu thế.
Đức Phật không thuyết giảng để
thâu nạp tín đồ mà là để soi
sáng người nghe. [Một Văn Hào
Tây Phương"].
"Đức
Phật là hiện thân của tất cả các
đức hạnh mà Ngài thuyết giảng.
Trong thành quả của suốt 45 năm
dài hoằng pháp, Ngài đã chuyển
tất cả những lời nói của Ngài
thành hành động; không nơi nào
Ngài buông thả cái yếu đuối của
con người hay dục vọng thấp hèn.
Luân lý, đạo đức căn bản của đức
Phật là toàn hảo nhất mà thế
giới chưa bao giờ biết đến. [Giáo
sư Max Miller, Học giả người Đức].
Không
một lời thô bạo nào được thấy
thốt ra từ nơi đức Phật trong
cơn tức giận, chưa từng có một
lời thô bạo được thấy trên môi
đức Phật kể cả trong lúc tình cờ.
[Tiến Sĩ S. Radhakrishnan] .
Điều
đáng chú ý nhất nơi đức Phật là
sự kết hợp gần như độc nhất của
một đầu óc khoa học trầm tĩnh và
thiện cảm sâu xa của lòng từ tâm.
Thế giới ngày nay ngày càng
hướng về đức Phật, vì Ngài là
người duy nhất tiêu biểu cho
lương tâm của nhân loại. [Moni
Bagghee, "Đức Phật Của Chúng
Ta"].
Các
bạn thấy rõ Ngài là một nhân vật
đơn giản, chân thành, đơn độc,
một mình tự lực phấn đấu cho ánh
sáng, một nhân vật sống chứ
không phải là thần kỳ, tôi cảm
thấy có một Người, đó là Ngài.
Ngài đã gửi bức thông điệp cho
nhân loại hoàn vũ. Có nhiều tư
tưởng tuyệt diệu hiện đại của
chúng ta rất gần gũi tương đồng
với thông điệp của Ngài, tất cả
những đau khổ, bất mãn trong
cuộc sống, theo Ngài dạy: là do
lòng ích kỷ. Lòng ích kỷ có ba
dạng: - Một là tham vọng thỏa
mãn cảm giác; - Hai là tham vọng
muốn bất tử; - Ba là tham vọng
thành công và trần tục. Con
người trước khi có thể trở nên
thanh tịnh, người đó phải ngưng
sống theo giác quan hoặc cho
riêng chính mình.
Rồi
con người đó mới trở thành một
bậc đại nhân... Đức Phật, qua
nhiều ngôn ngữ khác nhau, năm
trăm năm trước Chúa Christ, đã
dạy con người đức tính vị tha.
Trong một số chiều hướng Ngài
rất gần gũi với chúng ta hơn, và
đáp ứng được nhu cầu của chúng
ta. Đức Phật cũng tỏ ra sáng
suốt hơn Chúa Christ trong sự
quan tâm phục vụ con người và ít
mơ hồ đối với vấn đề trường tồn
bất tử của kiếp nhân sinh. [H.G.
Wells].
2.
Trí tuệ siêu việt của Đức Phật
Lần
đầu tiên trong lịch sử thế giới,
đức Phật tuyên bố sự giải thoát,
mỗi con người có thể đạt được do
chính bản thân mình trong đời
sống của mình trên thế giới mà
không cần đến sự giúp đỡ của
Thượng đế hay thánh thần nào.
Ngài nhấn mạnh về giáo lý như
lòng tự tin, thanh tịnh, nhã
nhặn, giác ngộ, an lạc và lòng
thương yêu nhân loại. Ngài cũng
nhấn mạnh đến sự cần thiết của
kiến thức, vì không có trí tuệ
thì siêu linh nội tâm không xâm
nhập trong đời sống của Ngài
được. [Giáo Sư Eliot, "Phật giáo
và Ấn Độ giáo"].
Đức
Phật không chỉ nhận thức được sự
thực tối cao, Ngài còn biểu lộ
kiến thức cao cả của Ngài, kiến
thức cao hơn tất cả kiến thức
của các "Thần linh và Người".
Kiến thức của Ngài rất rõ ràng
và độc lập không liên can gì đến
thần thoại và hoang đường. Tuy
nhiên, nơi đây lại còn cho thấy
một hình thức vững vàng, tự nó
biểu lộ được một cách rõ ràng và
hiển nhiên để cho con người có
thể theo Ngài. Vì lý do đó, đức
Phật không đòi hỏi phải tin
nhưng hứa hẹn kiến thức. [George
Grimm, "Giáo Lý của đức Phật"].
Lần
đầu tiên trong lịch sử loài
người, đức Phật khuyến dụ, khẩn
cầu và kêu gọi con người không
nên làm hại một sanh mạng, không
nên dâng lời cầu nguyện, lời ca
tụng, hay hy sinh (sanh mạng)
cho các Thần linh. Với tất cả
tài hùng biện trong sự thuyết
giảng của Ngài, đấng Vô Thượng
Sư có lần hùng hồn tuyên bố là
Thần linh, nói cho đúng, cũng
cần đến sự giải thoát cho chính
họ. [Giáo Sư Rhys Dadis].
Đức
Phật không giải thoát con người,
nhưng Ngài dạy con người phải tự
chính mình giải thoát lấy mình,
như chính Ngài đã tự giải thoát
lấy Ngài. Con người chấp nhận
giáo lý của Ngài là chân lý,
không phải giáo lý này đến từ
nơi Ngài, nhưng vì lòng xác tín
cá nhân, thức tỉnh bởi những lời
Ngài dạy, trỗi dậy bởi ánh sáng
trí tuệ của chính mình. [Tiến Sĩ
Oldenburg, Một học giả Đức].
Dường
như người thanh niên bất diệt,
hiền lành, ngồi khoanh chân trên
hoa sen thanh tịnh với bàn tay
phải dơ lên như khuyên nhủ như
trả lời: "Nếu con muốn thoát
khỏi sự đau khổ và sợ hãi, con
hãy luyện tập trí tuệ và từ bi".
[Anatole France].
Sự
khác biệt giữa đức Phật và một
người bình thường giống như sự
khác biệt giữa một người bình
thường và một người mất trí. [-
Một Văn Hào].
Nếu
chúng ta hỏi, chẳng hạn, có phải
vị trí một hạt nhân điện tử lúc
nào cũng giữ nguyên không thay
đổi, chúng ta phải trả lời "không";
nếu chúng ta hỏi có phải vị trí
của một hạt nhân điện tử thay
đổi theo thời gian, chúng ta
phải trả lời "không"; nếu chúng
ta hỏi có phải hạt nhân đó đang
di động, chúng ta phải trả lời "không".
Đức Phật cũng đã giải đáp như
vậy khi có người hỏi tình trạng
bản ngã của con người sau khi
chết; nhưng những câu trả lời
như trên không phải là những câu
trả lời quen thuộc theo truyền
thống khoa học ở thế kỷ 17 và
18. [J.Robert Oppenheimer].
Nếu
một vấn đề nào đó cần được đề ra,
vấn đề đó phải được giải quyết
trong hài hòa và dân chủ theo
đường lối dạy bảo của đức Phật.
[Tổng thống Nehru].
3.
Cống hiến của Đức Phật với nhân
loại:
Trong
thế giới giông tố và xung đột,
hận thù và bạo lực, thông diệp
của đức Phật sáng chói như vầng
thái dương rực rỡ. Có lẽ không
bao giờ thông diệp của Ngài lại
thiết yếu hơn như trong thời đại
của thế giới bom nguyên tử,
khinh khí ngày nay. Hai ngàn năm
trăm năm qua đã tăng thêm sanh
khí và chân lý của thông điệp
này. Chúng ta hãy nhớ lại bức
thông điệp bất diệt này và hãy
cố gắng thi triển tư tưởng và
hành động của chúng ta trong ánh
sáng giáo lý của Ngài. Có thể
chúng ta phải bình thản đương
đầu cả đến với những khủng khiếp
của thời đại nguyên tử và góp
phần nhỏ trong việc khuyến khích
nghĩ đúng (Chánh tư duy) và hành
động đúng (Chánh nghiệp). [Tổng
thống Nehru].
Trên
quả địa cầu này, Ngài đem ý
nghĩa những chân lý giá trị
trường cữu và thúc đẩy đạo đức
tiến bộ không chỉ cho riêng Ấn
độ mà cho cả nhân loại. Đức Phật
là một nhà đạo đức vĩ đại kỳ tài
chưa từng thấy có trên hoàn vũ.
[Albert Schweizer, một nhà lãnh
đạo triết học Tây Phương].
Sự
thanh tịnh của tâm linh và lòng
thương yêu tất cả sinh vật đã
được dạy dỗ bởi đức Phật. Ngài
không nói đến tội lỗi mà chỉ nói
đến vô minh và điên cuồng có thể
chữa khỏi bởi giác ngộ và lòng
thiện cảm. [- Tiến Sĩ
Radhakrisnan, "Đức Phật Cồ Đàm"].
Đức
Phật không phải là của riêng
người Phật tử, Ngài là của toàn
thể nhân loại. Giáo lý của Ngài
thông dụng cho tất cả mọi người.
Tất cả các tôn giáo khai sáng
sau Ngài, đều đã mượn rất nhiều
các tư tưởng hay của Ngài. [Một
học giả Hồi Giáo].
Khi
chúng ta đọc những bài thuyết
giảng của đức Phật, chúng ta cảm
kích bởi tinh thần hợp lý của
Ngài. Con đường đạo đức của Ngài
ngay trong quan điểm đầu tiên là
một quan điểm thuần lý. Ngài cố
gắng quét sạch tất cả những màng
nhện giăng mắc làm ảnh hưởng đến
cái nhìn và định mệnh của nhân
loại. [Tiến Sĩ S.Radhakrisnan, "Đức
Phật Cồ Đàm"].
Đức
Phật là người cha nhìn thấy đàn
con đang vui chơi trong ngọn lửa
thế tục nguy hiểm, Ngài dùng mọi
phương tiện để cứu các con ra
khỏi ngôi nhà lửa và hướng dẫn
chúng đến nơi an lạc của Niết
bàn. (Giáo sư Lakshimi Narasu, "Tinh
Hoa Của Phật giáo").
4.
Giáo pháp của Đức Phật:
Đọc
một chút về Phật giáo là đã biết
rằng hai ngàn năm trăm trước đây,
người Phật giáo đã hiểu rõ xa
hơn và đã được thừa nhận về
những vấn đề tâm lý hiện đại của
chúng ta. Họ đã nghiên cứu những
vấn đề này từ lâu và đã tìm thấy
câu trả lời. [Tiến Sĩ Graham
Howe].
Phật
giáo chưa bao giờ ép ai theo dù
dưới hình thức nào - hoặc ép
buộc ý tưởng và niềm tin đối với
người không thích, hoặc bằng bất
cứ một sự tâng bốc nào, bằng lừa
gạt hay ve vãn, hầu đoạt được
thắng lợi để gia nhập vào quan
điểm riêng tư của mình. Những
nhà truyền giáo của đạo Phật
không bao giờ thi đua để dành
người quy nạp vào Đạo như nơi
chợ búa. [Tiến sĩ G. P.
Malasekara].
Chỉ
nói về Phật giáo thôi, ta có thể
xác nhận là tôn giáo này thoát
khỏi tất cả cuồng tín. Phật giáo
nhằm tạo trong mỗi cá nhân một
sự chuyển hóa nội tâm bằng cách
tự chiến thắng lấy mình. Nhờ đến
sức mạnh và tiền bạc hay cả đến
sự chinh phục để tác động mọi
người vào đạo thì sao? Đức Phật
chỉ rõ một con đường giải thoát
duy nhất để cho cá nhân tự quyết
định nếu muốn theo tôn giáo này.
[Giáo Sư Lakshmi Nasaru, "Tinh
Hoa của Phật giáo"].
Không
thể cho rằng Phật giáo bị suy
yếu, ngay hiện tại, vì Phật giáo
bắt nguồn trên những nguyên tắc
cố định chưa bao giờ bị sửa đổi.
( Gertrude Garatt].
Mặc
dù người ta có thể được thu hút
từ nguyên thủy bởi sự khoáng đạt
của tôn giáo này nhưng người ta
chỉ có thể tán dương giá trị
thực sự của Phật giáo khi người
ta phán xét kết quả tạo ra của
tôn giáo này thông qua đời sống
của chính mình từ ngày này qua
ngày khác. [- Tiến Sĩ Edward
Conze, Một học Giả Phật giáo Tây
Phương].
Phật
giáo là một tôn giáo tự giác, ít
lễ nghi. Một hành động được thực
thi với chính sự suy tư thì tự
nó đã điều kiện hóa để không còn
là một nghi lễ. Phật giáo nhìn
bề ngoài có vẻ nhiều nghi lễ
nhưng thực ra không phải như vậy.
[- Tiến sĩ W.F.Jayasuriya, "Tâm
lý và Triết lý Phật giáo"].
Là
Phật tử hay không phải là Phật
tử, tôi đã quan sát mọi hệ thống
của các tôn giáo trên thế giới,
tôi đã khám phá ra không một tôn
giáo nào có thể vượt qua được về
phương diện vẻ đẹp và sự quán
triệt, Bát chánh đạo và Tứ diệu
đế của đức Phật. Tôi rất mãn
nguyện đem ứng dụng cuộc đời tôi
theo con đường đó. [Giáo sư Rhys
Davids].
Trên
những giải đất mênh mông của thế
giới, vận mệnh nhân loại vẫn còn
tồn tại. Rất có thể trong sự
tiếp xúc với khoa học Tây phương
và cảm hứng bởi tinh thần lịch
sử, giáo lý căn bản của Đức Cồ
Đàm được phục hưng và thuần
khiết, có thể chiếm một vị trí
phần lớn trong hướng đi của vận
mệnh nhân loại. [- H.G.Well].
Lý
thuyết của Phật pháp vẫn đứng
vững ngày nay không bị ảnh hưởng
bởi tiến trình của thời gian và
sự tăng trưởng kiến thức, vẫn
giữ nguyên như lúc ban đầu bầy
tỏ. Dù cho kiến thức khoa học
tăng tiến đến thế nào trên chân
trời trí óc của con người, trong
phạm vi Giáo pháp (Dhamma) cũng
vẫn có chỗ để thừa nhận và đồng
hóa các khám phá xa hơn nữa. Về
phương diện thu hút của lý
thuyết nầy không dựa vào các
khái niệm giới hạn của các tư
tưởng sơ khai, về phương diện
khả năng cũng không bị lệ thuộc
vào những phủ định của tư tưởng.
(Jan 17, 2010)
|