| |
Bùi Thế
Trường
Chúng ta thật lòng mong được
sung sướng và hạnh phúc, thế mà “lại và bị”
nào phiền não cho đến khổ đau quấy rầy mãi
mãi. Vì sao? Vì những tà kiến căn bản của
chúng ta với liên hệ thế giới bên ngòai hòan
toàn sai lạc nên đưa tới những rối ren như
thế (Đức Đạt Lai Lạt Ma 14, 2004).Vì rằng
chúng ta nghĩ rằng mọi vật trên đời đều là
thật. Ta là thật. Ngã là thật. Tiền của mọi
vật chất là thật. Hạnh phúc là thật. Danh
vọng địa vi là thật.Thiên đàng và địa-ngục
cũng là thật nữa. Chúng ta ôm giữ chặt tất
cả bằng đôi tay, bằng niềm tin, không cho
mất. Nếu bị mất, dù chỉ một phần nhỏ, hay bị
hăm dọa đánh mất, vì bất cứ lý do gì, đều
làm cho ta đau khổ khôn nguôi. Đó là những
gì ta nghĩ và những gì làm ta tự đau khổ lấy.
Kinh Lăng già Đức Phật đã dạy: “Tâm là Tông,
mà Không là cửa của Pháp”. Như vậy thì con
đường vào hố thẳm, nếu chúng ta muốn vào thì
cần buông tay, nghĩa là bỏ hết, mà nhảy vào
cửa “Không”. Đó là cách mà ta sẽ có được cái
an lạc. Làm sao mà nhảy qua khi không thấy
cửa? Cứ buông hai tay mà nhảy qua. Nhảy qua.
Nhảy qua đi. Nếu đi vào bằng cửa bằng đôi
chân, mà hai tay thì không buông, thì không
đi tới đâu. Và như thế chúng ta vẫn còn khổ
não mãi. Vì sao? Vì chúng ta đứng trên
lập trường nhân quả nhị nguyên, nên không
tránh khỏi những mâu thuẩn tự nó mà ra, là
vì nhờ duyên mà vào được, thì ắt phải không
tránh được sự hũy-diệt, khi duyên tan lìa.
Vậy chúng ta cần có “cái nhìn” thì mọi vấn
đề được hóa giải ngay. Đó là buông cả
hai tay mà nhảy vào hố thẳm, nghĩa là phải
quyết tâm và dứt khóat. Buông bỏ hết. Bỏ hết.
BỐN VIÊN NGỌC
QUÍ
Khi Đức Phật đắc đạo, cái
quan trọng nhất mà Đức Phật quán thấy là vạn
pháp ở trên cỏi đời nầy đếu do các duyên hợp
lại mà thành khi duyên đủ vạn vật hiện ra in
tuồng như có, khi duyên tan hết đi, vạn vật
biến mất in tuồng như không, chứ không do
một Vị nào như Thần Linh hay Chúa Tể sáng
tạo ra để có hay không, lại cũng chẳng do
mọi sự may rủi tham dự vào nó. Đó được gọi
là thuyết DUYÊN KHỞI. Duyên khởi dịch từ
tiếng Phạn là Paticca Samuppada. Paticca là
tùy thuộc. Samuppada là sinh khởi. Ví dụ cụ
thể là nếu có đủ hơi nóng (tùy thuộc) thì
hơi nước bốc hơi lên (sinh khởi), và nếu có
đủ lạnh (tùy thuộc) thì hơi nước trên hợp
lại thành nước rơi xuống
(sinh khởi). Như cây mạ nếu
đủ ánh sáng, phân bón, nước, thời gian và
môi trường tốt (tùy thuộc)…thì cho ta hạt
lúa (sinh khởi).
Nói về thuyết Duyên Khởi thì
cũng phải nói về “Thập nhị nhân duyên” (12
nhân duyên). Thuyết duyên khởi thì trình bày
tính chất chung của mọi hiện tượng trong vũ
trụ. Còn mười hai nhân duyên là để giải
thích về sự hình thành, sự họai diệt của
Nghiệp, của đau khổ của con người và của cả
cuộc đời.
Về Thâp nhị nhân duyên, cái
cửa thứ nhất dẫn đến với nhân duyên gọi là
nhân duyên môn cũng gọi là Pháp. Pháp là mọi
hiện tượng, mọi sự vật, sinh ra từ những
duyên khác nhau: chúng đều không có tự tánh.
Duyên thì có hai nguồn gốc: nôi duyên và
ngọai duyên. Ngọai nội duyên là gì? Thí dụ
cái châu đựng hoa, thì ngọai duyên gồm có:
đất sét, dụng cụ, lửa nóng để hầm chậu, công
nhân khuân vát, củi để đốt, người thợ nắn
chậu, dụng cụ và màu sắc để sơn phết. Còn
nội duyên gồm có: vô minh, hành, thức, danh
sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, hữu, sanh, lão
tử. Mỗi thứ trên, phải có đủ nội hay ngọai
hợp thành mới có, nghĩa là phải có nhân rồi
mới có sinh ra. Do các nhân duyên khác nhau
làm nên, chúng không có cái tự tánh. Vì
không có tự tánh, nên không thể nào có tha
tánh. Bởi tính chất của tha tánh là không có
tự tánh. Thế nên, sự kiện các pháp có được
là do ngọai duyên và nôi duyên mà ra hoặc
thành hay họai.
Vì, mọi nhân duyên vốn đều là
không. Nên những pháp do nhân duyên sanh ra
cũng đều là không. Những pháp gọi là hữu vi,
do nhân duyên sanh ra, cũng đều là không.
Nếu hữu vi pháp là không thì mọi cái ngã nào
của chúng cũng đều là không. Các hữu vi pháp
như “ 5 uẩn”, “thập nhị thập”, “thập bát
giới” cũng đều là không, nên chẳng có cái
ngã nào trong chúng.Cũng vậy, Đức Phật dạy:
“Này các tỳ kheo, có cái ngã thì mới có
những thứ thuộc về ngã. Nếu không có cái nầy
thì làm gì có cái kia”. Có thể hiểu là nếu
không có vật gì có thể cháy thì làm gì có
đám cháy
Cần nhấn mạnh là hữu vi pháp
là không, thì vô vi pháp “Niết bàn” cũng là
không. Nếu ngũ uẩn vốn là không thì ai có
thể đạt tới Niết bàn? Còn Niết bàn thì thuộc
về Vô sanh pháp. Mà hữu sanh pháp không thể
thành lập, thì làm sao các vô sanh pháp lại
được thành lập? Hữu sanh pháp là vật có sự
sanh khởi, còn vô sanh pháp là vật không có
sự sanh khởi. Cả hữu sanh lẫn vô sanh
pháp mà cái ngã của chúng vẫn vốn là không.
Ngài Long Thọ (Nàgàrjuna) cho rằng 12 nhân
duyên vốn cũng là “không” Thế nên
không thể nào dùng tâm thức hoặc các yếu tố
nội tại để giải thích thực tại của vũ trụ.
Trong thuyết Duyên khởi, các
vạn pháp nương gá nhau bởi do trùng trùng
duyên hợp tạo nên, trong một liên hệ chằng
chịt, một cách mật thiết. Nên cái nầy có thì
cái kia cũng có. Cái nầy mất thì cái kia
cũng mất. Cái nầy sinh thì cái kia sinh. Hay
nói cách khác, khi nguyên nhân mất thì qủa
cũng mất. Khi nhân không còn thì qủa cũng
không. Khi nhân phát sinh thì quả sẽ sinh.
Vì tương quan lẫn nhau trong liên hệ nhân
duyên như vậy, nên trong một có tất cả, hay
trong một pháp là có tất cà các pháp. Một mà
không còn thì tất cả cũng không còn. Dù ở
trong một tương quan nương gá nhau như thế,
mà bản chất của các pháp hợp thành vẫn vốn
là không.
Trong Kinh Tạp A Hàm, có ghi:”
Đúc Phật nói: Các Tỳ Kheo, xưa kia, khi ta
chưa thành Chánh giác, ta nghĩ: Cuộc đới nầy
là do những nổi khổ ràng buộc: sinh, già,
bịnh, chết. Ta tự hỏi: Do đâu có già chết?
Do nhờ sự tư duy chính đáng,
mà ta biết như vầy: Nhờ có sinh mà có già
chết. Do sinh làm duyên mà có già chết. Ta
laị nghĩ thêm: Làm thế nào không có già chết?
Không sinh thì không già chết. Sinh bi diệt
thì già chết cũng bị diệt. Lại nghĩ thêm về
12 nhân duyên là Vô minh sinh Hành, Hành
sinh Thức, Thức sinh Danh sắc, Danh
sắc sinh Lục căn, Lục căn sinh Xúc, Xúc sinh
Thọ, Thọ sinh Ái, Ái sinh Thủ, Thủ sinh Hữu,
Hữu sinh Sinh, Sinh sinh Lão tử.
Trong 12 nhân duyên, ta thấy
vô minh là đầu mối của mọi đau khổ, từ vô
minh mà sinh ra hành, thức cho đến tử.
Nếu Diệt vô minh dẫn đến diệt hành. Diệt
hành dẫn đến diệt thức. Diệt thức dẫn đến
diệt danh-sắc. Diệt danh sắc dẫn đến
diệt lục-căn. Diệt lục-căn dẫn đến diệt
lục-xúc. Diệt lục-xúc dẫn đến diệt thọ. Diệt
thọ dẫn dẫn đến diệt ái. Diệt ái dẫn đến
diệt thủ. Diệt thủ dẫn đến diệt hữu. Tận
diệt hữu dẫn đến diệt sanh. Diệt sanh dẫn
đến diệt lão, tử ( khổ nảo, ai óan, đau khổ,
buồn rầu và thất vọng)
Dù rằng kiếp con người chỉ
tòan là những nổi khổ đau chổng chất từ lúc
sinh ra cho đến lúc chết. Đức Phật đã bảo
“Nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước bể cả.
Nhưng mang được thân làm người thì quả thật
là may mắn và hạnh phúc, vì rằng con người
có suy nghĩ, có trí tuệ, có quyết tâm nên
rất dễ tu hành tiến bộ.
Đức Phật thường nhắc nhở dù
đời có đầy khổ đau, nên xem tất cả khổ đau
là chất liệu cần thiết để bồi đấp cái đạo
đức làm người. Đã là người nên luôn tìm cách
học hỏi, bồi đấp làm cho tâm hồn và đời sống
được trong sạch tốt tươi hơn, để có một cuộc
đời tốt hơn trong cuộc sống đau khổ và bất
trắc nầy.
Trong Kinh Tạp A hàm, có ghi:
Một con rùa sống vô lượng kiếp, một trăn măm
mới trồi đầu lên một lần, trên mặt biển và
hy vọng tìm được bọng cây trôi bồng bềnh
trên biển để bám vào bộng cây đó. A
Nam bạch Phật: Thưa Thế Tôn, con rùa có gặp
được bọng cây đó không? -Không thể gặp, A
Nam. Vì sao? Vì con rùa nếu ở biển Đông, thì
bọng cây trôi giạt theo gió tới biển Tây,
biển Bắc hay biển Nam. Phật giải thích thêm:
Dù bọng cây trôi giạt tứ phương, nhưng còn
có chút hy vọng để con rùa gặp nó, dù rằng
rất ít oi. Nhưng làm kẻ phàm phu đầy vô minh
lại trôi giạt trong ngũ-thú thì rất là khó
khăn ngàn lần hơn con rùa có chút hy vọng
gặp bọng cây.”
Để diệt khổ trong cuộc đời,
Đức Phật dạy bài học tại vườn Lộc Uyển về tứ
Diệu Đế là: Khổ đế là quả của đau khổ. Mà
nhân của Khổ là Tập đế. Chúng sanh cần biết
nguyên nhân gây ra kết quả của những đau khổ.
Phương pháp để diệt nguyên nhân của đau khổ
gọi là Đạo đế. Khi nguyên nhân đã diệt, thì
tâm được an lạc, được thanh tịnh, và giải
thóat đó gọi là Diệt đế.
Cái đau khổ có một vị trí
quan trọng trong cuộc sống của con người, là
động lực thúc đẩy con người nên tu hành, nên
cải thiện tâm hồn và đạo đức để vươn lên
thành con người có giá trị thật sự. Cái đau
khổ cuộc đời như là bể mênh mông. Cái thân
xác mình hiện mang đau khổ như là chiếc bè.
Hãy dùng thân xác chiếc bè nầy để vượt qua
bể khổ mênh mong đó mà đến bến bờ thanh tịnh,
an lạc.
Có thể nói, trong cái lý
duyên khởi đưa đến cái lý tìm nguyên nhân
của sự sinh tử và con đường thóat ly sinh tử.
Trong duyên khởi nầy có bốn
viên ngọc quý:
1—Viên ngọc quý mang tên
KHÔNG.
Cái lý của Không gọi là duyên
hợp. Duyên hợp lại được hiểu là vạn pháp
trên đời nầy là đều do các duyên nương gá
nhau mà thành. Vì nương gá nhau mà thành nên
nó không có cái tự-ngã riêng biệt. Theo duy
thức học, không tư ngã là không trường tồn
bất biến. Còn Pháp là tất cả sự vật từ tinh
thần cho đến vật chất: hữu tình, vô tình,
hữu vi, vô vi vv . Vì không có tự ngã riêng
biệt nên vạn pháp được gọi là KHÔNG. Vì
không có cái tự ngã riêng biệt nên mặc dù là
có, dù dưới hình thức nào, cái có đó vốn
thật không phải là cái có. Từ con người, bụi
cây, núi non, sông biển, và cả vũ trụ, đều
phải do duyên hợp mà thành, và vạn pháp cũng
phải nương dựa lẫn nhau để mà sinh tồn. Sinh
tồn để có, mà in tuồng như là có. Vã lại,
không có một vật nào tự nó có hay tự cô lập
chính nó để được có. Trong Kinh Hoa Nghiêm
thì gọi cái vạn pháp có được là do “trùng
trùng duyên khởi trong không gian nhiều
chiều” mà cấu tạo thành, cái thành của vạn
pháp được coi như là mộng, huyễn mà thôi.
Những người học đạo thường
hiểu Không như không có chi cả. Hiểu như thế,
tức là nhầm lẫn phương tiện và cứu cánh, lấy
bịnh làm thuốc. Vậy đừng sợ rơi vào Không.
Dù có rơi vào không đi nữa thì vẫn chưa gọi
là chuyện dữ. Chỉ mong sao coi tất cả cái Có
là Không, chứ đừng lấy cái Không làm sự thật,
vì bản tánh của chúng vốn là Không (D.Suzuki,
2001)
“Không” được hiểu thâm sâu
hơn ngay bản thân con người khi Đức Phật đã
giảng cho năm vị đệ tử đang thắc mắc về tự
ngã như sau: “Hởi sa môn! Sắc thân nầy không
phải là tự ngã, vì nếu là tư ngã thì sắc
thân nầy không còn lệ thuộc vào bịnh tật, vì
người ta bảo sắc thân như vầy: sắc thân thế
nầy cho ta, và đừng thế nầy cho ta! (ví như:
đừng bịnh gí cả, và trẻ đẹp mãi). Thật vậy,
kể cả khoa học ngày nay dù có tiến bộ trong
việc bảo vệ sức khỏe của con người, nhưng
không bảo vệ được sự tàn tạ của già nua,
bịnh tật và chết chóc (họai diệt)..:”
Vì sắc thân không phải là tự ngã, nên lệ
thuộc vào bịnh tật. Kể cả Cảm giác, tri giác,
ý thức và tinh thần, đều không phải là tự
ngã nữa. Vã lại, ngã là cái gì trường tồn
bất biến, mà thâm tâm ta lại thay đổi từng
sát na rất nhanh chóng, nên không thể gọi là
tự ngã. Cái ta hay cái ngã mà người đời gọi
là linh hồn, cũng là giã, không có thật.
Hình hài và tâm linh lại không hề có chủ
thật. Cảm giác và cả tư tưởng cũng không hề
có cái ta làm cảm hứng và cái ta làm cá thể
suy tư. Khi các pháp được kết hợp khi đủ
nhân duyên cần thiết thì cái ý niệm về cá
thể xuất hiện, cá thể ở đây chỉ cho vọng
tưởng hiện bày mà không phải là thật thể (Tỳ
Kheo Ni: Như Thanh, 1993).
Đức Phật dạy thêm: “Mọi vật
trên trần thế nây, không có vật nào có caí
ngã riêng biệt cả. Tất cả các pháp có được
cũng chỉ là những hợp tướng tạm thời của
nhiều phần tử duyên hợp lại với nhau. Lúc
nào duyên hết thì hợp tướng phải tan rã. Đó
là lý vô ngã vậy (Abatman).
Đạo lý thâm uyên của nhà Phật
được xây dựng trên thuyết vô ngã nấy.
Ngã là gì? Hay nói rõ hơn là
tự ngã là nghĩa gì? Theo Ba la môn,
cái ngã hay tự ngã là gồm có ba nghĩa nơi
chính nó: đồng nhất, bất biến và tự tại (Thich
Thanh Từ, 1990). Vì tự tại và bất biến nên
nó nghĩ rằng nó trường tồn ẩn náo trong thân
xác, dù cho thân xác nầy hũy họai, nó vẫn
tồn tại, không bị chi phối, đồng nhất vì
không biến đổi. Ngược lại là Duy vật phái,
phái nầy chủ trương con người vốn do vật
chất hợp thành, một khi thân xác tan họai
thì không còn caí chi khác nữa, dù gọi là
linh hồn. Hai lối chấp ở trên đều đem đến
cho xã hôi nhiều tai hại hơn, nhất là về
những giá trị đạo đức.
Như vậy thì vô ngã là không
có cái đồng nhất, bất biến và tự tại. Con
người vô ngã đã đành, mà tất cả vạn pháp
cũng là vô ngã hết. Vì sao? Vì vạn
pháp chịu một định luật chung, sinh diệt
không ngừng nghĩ, nương gá nhau mà thành,
không độc lập. Vì là vô ngã, nên không có
cái tôi ở sau mọi cá thể. Vì cái tôi không
có, nên trong duyên khởi Đức Phật không nói
về ai, về người nào, mà chỉ nói những duyên
tạo thành nương gá mà thôi. Ví như nói về
sinh, bịnh, lão, tử, chứ không nói ai là
sinh, bịnh, lão tử; như nói về vô minh, chứ
không nói ai là người vô minh. Ngã vốn là
không thì làm gí có cái liên quan đến cái
ngã?
Như vậy, theo lý duyên khởi
thì mọi vật trên thế gian nầy đều là giã
danh, hay nói một cách khác là sự tập hợp
của nhiều phần tử không có tự tánh với danh
tánh cũng chỉ là những quy ước. Ví dụ như
trong ngũ uẩn gồm: sắc, thọ, tưởng, hành,
thức. Năm uẩn nầy hợp thành con người mà
không có cái tôi đứng sau chúng gì cả. Nhiều
người nghĩ cái tôi qua chử “chính mình” lại
cũng là một sự sai lầm do trí-thức tạo nên,
do vô minh mà có. Trong tuyết Vô ngã của
Phật giáo, thuyết “Không” không phải là kết
quả của các phân tách tâm lý, mà là kết quả
của một trực giác hưng phấn do kết quả của
thiền quán mà thành, trong đó hòan tòan
không có một suy lý nào được dùng đến (D.Suzuki,
2001).
Không là viên ngọc quý được
thấy trong hầu hết các bài kinh kệ từ Tiểu
thừa cho đến Đại thừa, được Đức Phật thuyết
pháp.
a-
Không là cội nguồn của sự giác ngộ.
Cái “Không” rất ư là quan
trọng trong việc giác ngộ. “Ưng vô sở trụ,
sinh nhi kỳ tâm”. Tâm “không trụ” vào đâu,
nghĩa là tâm trong sạch như không, thì tâm
không còn phiền não. Đối với các pháp niệm
niệm mà lòng không trụ vào đâu thì khỏi bị
buộc ràng.Ta có cái tâm thật trong sạch,
thanh tịnh, là đạt được sư an lạc rồi.
Khi Đức Phật còn tại thế,
trong hàng Phật tử theo Phật có Ông
Suddhipanthaka, người học trước quên sau,
học xong bửa nay lại quên bài hôm trước. Căn
cơ Ông thật là chậm tiêu. Dù theo Cù Đàm rất
lâu, những bạn đồng môn đều được chứng quả,
riêng Ông thì không chứng đắc được điều gì,
lại chẳng nhớ một câu kinh, bài kệ, chẳng
hiểu được điều gì. Bị người anh quở trách:”
Tu như thế thì ở nhà nấu cơm gánh củi còn
hơn là đi tu”
Quá tủi thân, Ông dứng khóc.
Đức Phật trong tịnh xá đi ra thấy vậy, dừng
bước và hỏi Ông: Vì sao con khóc ? Bạch Thế
Tôn, vì người anh của con thấy con u-tối, tu
học không nổi, nên muốn con về nhà có ích
hơn là đi tu.
Đức Phật cầm tay Ông, dẫn Ông
vào tịnh xá và ôn tồn dạy:” Nếu con có thiện
chí tu hành, ta chỉ dạy con phương pháp tu.
Con chỉ cần nhớ hai chử mà thôi. Nầy
Suddhipanthaka, lắng nghe và nhớ kỹ hai chữ
“Tảo Tuệ” này.
Quá mừng, Ông đảnh lể Đức
Phật và quyết tâm thực hành lời chỉ giáo.
Nhưng than ôi, thương thai cho Ông, Ông học
được chử Tảo thì quên chử Tuệ. Ông học được
chử Tuệ thì quên mất luôn chử Tảo.
Đôi khi Ông lại quên luôn cả
hai chử. Nhưng quyết tâm và sợ Đức Phật buồn
vì ra sức chỉ dạy Ông, Ông quên cả ăn, bỏ
luôn cả ngủ,
tuần đầu thì nhớ được chử Tảo,
lại quên chử Tuệ. Hai tuần sau, lại nhớ chử
Tuệ, lại quên đi chử Tảo. Đến cả tháng sau
và sau nữa, Ông mới nhớ được cả hai là Tảo
Tuệ. Thật là khổ cho Ông.
Đi đâu Ông cũng lẫm bẫm hai
chử đó, nhưng lại chả hiểu ý nghĩa là gì?
Tại sao Đức Phật lại dạy hai chử ấy, có tác
dụng gì? Ông vui vẻ hối hã tìm Phật và bạch
thưa Phật: “Đến hôm nay, con mới thuôc hai
chử Tảo Tụê rồi. Kính xin Đức Phật chỉ dạy
cho con cái nghĩa của hai chử ấy.
Đưc Phật cười rất hiền hòa và
dạy Ông. Nầy Suddhipanthaka, Tốt lắm: “Tuệ
là chổi. Tảo là quét. Con dùng chổi trí tuệ
mà quét sạch mọi phiền não nơi tự tâm con đi”.
Rồi Ông quyết tâm làm theo
lời Phật dạy. Ông quan sát nơi lòng Ông, gạn
lọc những phiền não, tẩy trừ những ý niệm
xấu xa, quét sạch mọi thứ xấu ở trong để
được trong sạch và thanh tịnh. Sau một vài
tuần quét dọn sạch sẽ, Ông cảm thấy lòng
rỗng rang thanh thóat, một sự an lạc tràn
đầy, mọi vật hiện ra an bình và sáng rõ. Vui
mừng quá, Ông đi tìm Phật.
-Bạch thế Tôn, Con đã dùng
chổi trí tuệ và quét sạch mọi phiền não. Con
cãm thấy đầy an lạc và thanh thản nơi con
Phật mĩm cười hiền hòa khen
ngợi:
- Đúng vậy, Con đã trừ nhơ
rồi. Con đã giác ngộ.
b-
Nhờ Không, mà chúng sanh được giải thóat.
Vì sao? Đạo Phật chủ trương
là cảnh tỉnh sự tự giác của chúng sanh hơn
là sự ngăn cấm. Nghĩa là đánh lên hồi chuông
thức tỉnh để mọi người biết đâu mà hối lỗi,
đâu để kiểm điểm lại mình, và đâu để cải
thiện đời sống. Tất cả cố quay về mọi xuất
phát từ đáy lòng mà không có những sự ép
buộc, hay dụ dỗ phải theo. Tự do chọn lựa là
nấc thang giúp chúng sanh bước tới sự giác
ngộ và giải thóat. Thêm nữa, khi quy–y tam
bảo và giữ ngũ giới, có nghĩa là nếu ta
không phạm một giới thì tư ta giải thóat cho
ta được một lần. Giữ không phạm hai hay ba
giới thì ta tự giải thóat cho chính ta tới
hai hay ba lần. Ngược lại, nếu có giết người,
trộm cấp, lang chạ, dối trá, rược chè be bét,
điêu ngoa, thì người phạm tự hạ nhân phẩm
của mình, chứ Đức Phật không ngăn cấm, rồi
bị xã hội khinh khi, và ngục tù chờ đợi (Thich
Thanh Từ, 1990).
Một hôm nọ, có môt Ông lão
thuộc gio`ng Phạm Chí đến hỏi Phật:
“Bạch Ngài, lâu nay con đến
chúng Ni Kiền Tử, Chúng Mạc Dà Lê, chúng Tán
Nhã Đa, vv.. ai ai cũng cho đạo mình là thâm
diệu hợp lý. Giờ đây, Thế Tôn nói Pháp của
Ngài là giải thóat, an lạc, nên con không
bíết phải theo bên nào?
-
Đừng theo ai cả. Ông hãy đem
“Bát chánh đạo” của ta mà so sánh với các
giáo pháp khác. Khi đó, Ông nhận xét bên nào
có lợi ích thiết thực cho chính Ông, cho
chính mọi người, rồi Ông hãy theo.
-
Dạ. Ông lão đáp.
Đức Phật thường nhắc nhở
chúng sanh rằng: “Ta không có quyền ban phúc
hay giáng họa cho ai. Ta chỉ là Ông thầy đưa
đường dẫn lối cho chúng sanh vượt qua mọi
tai ách, là vị lương y chửa lành bịnh đau
khổ cho chúng sanh, nếu chúng sanh làm đúng
theo điều ta chỉ dạy.”
Thế nên, chúng sanh đừng nên
ngồi ù-lỳ, buông thả theo ngũ dục, mà chờ
đợi sự cứu vớt của Phật của Thầy. Đừng bao
giờ nghĩ và làm như vây. Chúng sanh cũng
đừng làm bất cứ điều gì dù cho là dữ hay
lành, với những viện cớ để che đậy tội ác
của hành động mình. Điều đó, chính chúng ta
tạo lấy ngục thất, tự chúng ta chui vào địa
ngục của hành động mình làm. Mê cũng là ta,
giải thóat cũng chính là ta. Mình có cái tự
do cởi trói cho chính mình, giải thóat cho
chính mình. Không thể cầu cứu nơi ai, hay
những gì bên ngòai giải thóat cho ta được.
Chỉ có ta biết sửa đổi những quan điểm sai
lầm của ta, tự nhiên ta được giác ngộ vây.
Chỉ có ta có định hướng, ta
bước tới, định hướng theo đúng lời chỉ dạy
hướng đi của Bụt thì ta mới bước tới đúng
chổ được. Nếu không thì chỉ lang thang,
quanh quẩn.
Một hôm, một người Bà la Môn
đến hỏi Phật:
- “Này Sa môn Cù Đàm, đệ tử
của Ngài rất đông, chẳng biết có đạt được
Niết bàn hết chăng”?
-Có một số đạt được, một số
chưa đạt.”
- Tại sao có kẻ đạt được Niết
bàn, người khác lại không?
- Này Ông, Ông biết thành
Vương xá không?
- Thưa Ngài, Tôi biết.
- Nếu có người đến hỏi ông
con đường nào đi đến thành Vương xá, chắc
Ông sẽ trả lời: “Theo con đường thẳng, xuyên
qua đám rừng già, đến ngã ba, rẽ qua phải,
đi thẳng theo con đường ấy, đến một vườn hoa
xinh đạp, rồi khỏi vườn hoa ấy là tới thành
Vương xá. Người ấy đi đúng theo sự chỉ dẫn
của Ông, vậy họ có đến được thành vương xá
không?
- Thưa Ngài có.
Lại có người khác hỏi đường
về thành Vương xá. Ông cũng chỉ như vây.
Nhưng người nầy khi đi đến ngã ba, thì quẹo
trái, và cứ lầm lũi mà đi. Vậy người nầy có
đến thành Vương xá không?
- Thưa Ngài. Làm sao họ đến
đươc.
- Cũng một Ông chỉ đường, mà
có người đến được thành Vương
xá và có người không đến
thành Vương xá là sao?
- Cũng vây tôi chỉ dạy rành
rẽ lối đi đến Niết bàn, mà đệ tử tôi, có
người thực hành đúng, có người thực hành
không đúng, mới có sự sai biệt như vây.
Nhưng lỗi ấy không phải là tại tôi.
Đức Phật đã dành sự tự do
chọn lựa cho ta, tự do tu tập cho ta, tự do
vươn lên cho ta. Ngài không hạn chế, không
bắt chẹt chúng ta, không dùng quyền lực hay
cấp bực nào cả bắt ta phải theo. Không,
không tất cả. Nhờ Không mà có tất cả.
Tự mình ý thức, tự mình mình gặt cái mình
gieo ( T Thanh Từ, 1990).
c-
Không là cánh cửa không có kẻ thù.
Đức Phật dạy: “đem oán thù
trả oán thù” là điều không hợp với chánh
pháp. Đức Phật dạy thêm, lấy Đạo Đức làm cứu
cánh trong mọi hành động. Dù việc làm có lơi
cho Đạo, cho tập thể mà tổn thương đến Đạo
dức thì nhất định không làm. Nhớ rằng, trước
ánh sáng của bóng đèn, không có bóng tối.
Người Phật tử luôn luôn xem mọi người như là
bạn, dù rằng chính họ đã làm ta điêu đứng
nhiều phen. Trong việc rèn luyện đức độ của
mình, tất cả các nghịch cảnh đều giúp mình
có được chiều sâu và giúp mình tiến vượt xa
hơn là không có nghịch cảnh.
Chuyện một con hổ dữ biến
thành con mèo con dễ thương là một ví dụ cụ
thể cần suy nghĩ. Mỗi buổi sáng Bụt đi
khất thực tại thành Savatthi. Nhưng buổi
sáng hôm nay đường phố lại vắng tanh. Bụt
đứng trước nhà thường cúng dường cho Bụt, và
chờ một lúc lâu, nhưng không ai mở cửa. Bụt
tiếp tục đi nhà ở kế bên. Bổng nhiên cửa nhà
mở, và người chủ nhà vội vã kính mời Bụt vào
nhà và đóng cửa khóa chặt lại. Rồi kính thưa:
-
Bạch sa môn, đi đường hôm nay rất nguy hiểm,
vì có một tên sát nhân tên là Angulimala,
xuất hiện và hạ sát rất nhiều người. Khi hạ
sát xong nó chặt ngón tay người bị giết chết
làm xâu chuổi đeo vào cổ. Nó định giết tới
100 người, vì nếu được 100 lóng tay của 100
người, thì nó nghĩ nó sẽ đạt được quyền lực
của bùa chú to lớn ghê lắm. Đặc biệt, nó
giết người chớ không cướp giật của cải. Phía
chánh quyền nhà vua Pasenadi cho điều động
quân đội, cảnh sát bao vây và truy nã nó.
-
Tại sao cần đến quân đội và cảnh sát?
-
Vì tên sát nhân nầy võ nghệ cao cường lắm.
Có 40 người đàn
ông không đủ sức đo^'i địch
với nó. Phần lớn đều bị bỏ sát và một ít
chạy thóat. Có lần một tóan vảnh sát tới 20
người có trang bị vũ khí, vây bắt nó, duy
chỉ còn 2 người bị thương trốn thóat chạy
về.Vì thế, dân chúng kinh sợ, không dám đi
ra đường, buôn bán hay làm ăn gì được cả,
kính thứa sa môn.
Nghe xong, Bụt cám ơn gia chủ,
về việc cho biết về Angulimala, và giã từ ra
đi. Chủ nhà nài nỉ Bụt ở lại, vì quá nguy
hiễm cho bản thân của Bụt, nhưng không được.
Bụt phải đi khất thực như mọi hôm để giữ
vững niềm tin của mọi người.
Đang đi thong
thả trong chánh niệm. Bụt nghe tiếng chân
chạy đuổi phía sau Bụt. Bụt vẫn thản nhiên
và không hốt hoảng. Vẫn đi từng bước chậm
rãi, an nhiên, ý thức những gì xãy ra trong
tâm và hòan cảnh của mình. Bụt nghe tiếng
Angulimala gọi từ sau vọng tới:
-
Ông sa môn! Đứng lại!
Bụt không
đứng lại. Bụt vẫn chậm rãi đi.
Tiếng chân của hắn bây giờ là ngừng chạy và
hắn đang rảo bước theo Bụt, nghĩa là kẻ sát
nhân ở gần cạnh Bụt. Trong tay Bụt chỉ còn
có chiếc bình bát bằng đất và đôi nấm cơm mà
người dân vừa cúng dường cho Bụt để trong đó,
không có chi hết để tự vệ. Bụt biết
Angulimala ở bên cạnh người, lại có đeo khí
giới giết người. Nhưng người vẫn ung dung
bước đều đặng coi như không có gì xãy ra.
Tất cả đều là không đối với Bụt. Tên
Angulimala đang đi ngang hang với Bụt.
Bụt nghe anh ta quát tháo:
-
Ta đã bảo Ông đứng lại, tại sao Ông tiếp tục
đi mà không chịu dừng?
Bụt vẫn không dừng lại, vừa
đi vừa đáp:
-
Angulimala, ta đã dừng từ lâu rồi, chỉ có
anh mới chưa chịu dừng lại mà thôi.
Angulimala giựt mình. Im lặng
môt lúc. Đầy ngạc nhiên. Ông sa môn nầy nói
cái gì lạ thế? Ông ta đã dừng lại đâu nào?
Chân Ông ta vẫn còn bước, thế mà Ông ta bảo
Ông đã dừng lại. Phải hỏi cho ra lẽ.
Nghĩ như vậy, hắn ta phóng tới phía trước,
chận đường đi của Bụt.
Bụt dừng lại. Người đưa mắt
nhìn Angulimala. Mắt người hiền hòa, và sáng
như sao. Hắn ta chưa bao giờ thấy ai trầm
tĩnh, uy nghiêm, và thản nhiên như thế. Phần
lớn, hầu hết nhiều người mất cả bình tỉnh,
sợ hãi và chạy trốn khi đối diện với hắn.
Còn Ông thầy tu nầy xem mình như kẻ không ra
gì. Và ông lại biết mình, và gọi đúng tên
mình. Lạ thật. Ông tỏ vẽ không biết sợ, mà
lại điềm đạm, ung dung và nhìn thẳng vào mắt
mình bằng con mắt thật hiền hòa và sáng chói.
Tại sao lạ vậy, hắn ta cất tiếng hỏi:
-
Hồi nãy, ông nói ông đã dừng lại trong khi
chân ông bước,
điều đó có nghĩa là sao? Ông
nói tôi chưa chịu dừng lại, điều nầy có
nghĩa là gì? Ông nói đi?
Bụt bảo:
- Những hành đông gây
đau khổ cho chúng sanh, là ta đã dừng lại từ
lâu rồi. Ta đã học được hạnh bảo vệ sự sống
cho con người và tất cả loài sinh vật.Trong
tất cả các lòai sinh vật, kể cả lòai người,
lọai nào cũng muốn sống và sợ chết. Vì
vậy ta phải có lòng thương yêu. Đem tình
thương yêu ấy đến muôn lòai và bảo vệ sự
sống cho chúng ( T Nhất Hạnh, 1992)
-Bụt dịu dàng thêm: Này,
Angulimala, ta biết anh từng đau khổ và
chính con người làm anh đau khổ. Con người
có khi rất ác độc. Ác độc vì đầy si mê, vì u
minh, vì hận thù, vì tham dục và vì ganh tị.
Nhưng con người lại có khi rất hiểu biết,
rộng lượng, tha thứ và rất từ bi. Tất cả các
vị khất sĩ của ta cũng phát tâm bảo vệ sự
sống muôn loài và đồng thời tự diệt trừ hận
thù, si mê và tham dục nơi chính họ.
Angulimala, ở đời cũng có kẻ ác nhưng cũng
có kẻ hiền từ. Đạo ta chuyển hóa kẻ ác ra kẻ
hiền. Hận thù là con đường nên tránh. Anh
đang đi trên con đường ấy. Nên dừng lại thôi
Angulimala. Hãy chọn con đường hiểu
biết, tha thứ và có tình thương mà đi. (T
Nhất Hạnh, 1992)
Được nghe giọng nói hiền hòa
và đầy tình thương, hắn ta nhìn Bụt, Thấy
gương mặt Bụt đầy nhân hậu, làm cho tâm hồn
hắn thay đổi hòan tòan. Tình thương và lòng
từ bi của hắn đã mất từ lâu, bỗng bừng dậy.
Còn cái tâm ác độc giết người của hắn lại
biến mất. Môt con hổ dữ ăn thịt người, bây
giờ trở thành con mèo con dễ thương. Ngay
khi đó, hắn cảm nhận rõ ràng rằng, vi sa môn
nầy không có hận thù, lòng đầy tình thương,
mà thiên hạ ca tụng và tôn xưng là Phật.
Hắn ngước đôi mắt tròn xoe
nhìn Bụt và ấp úng thưa:
-
Thầy có phải là sa môn Gotama đó không?
-
Bụt gật đầu. Không nói chi cả. Và nhìn hắn.
-
Tôi đã giết nhiều người. Bây giờ có muốn
dừng lại cũng không được. Quá trể rồi. Họ
không tha mạng sống của tôi đâu.
- Bụt bảo: Đừng
nghĩ vây, Angulimala. Dừng lại trên con
đường hận thù và giết chóc là một điều tốt
nhất trong tất cả điều tốt. Biển đời tuy
mênh mông, nhưng nếu biết quay đầu lại là
nhìn thấy được bến bờ.
-
Nhưng người ta không để cho tôi yên.
- Đức Phật
đưa tay nắm lấy tay hắn và ôn tồn nói:
Angulimala, ta sẽ bảo vệ cho anh, nếu anh
nguyện làm lành, lánh dữ, siêng năng học đạo,
sám hối lỗi lầm, và phục vụ cùng giúp đở mọi
người. Ta thấy anh là kẻ thông minh. Hiểu
được điều ta muốn nói. Anh sẽ thành công
trong bước đường hướng thiện.
Angulimala liền quỳ xuống
trước mặt Bụt. Anh cởi dao đeo bên lưng, cầm
hai tay và đặt xuống đất. Rồi sụp lại sát
đất dưới chân Bụt. Xong laị khóc nức nở. Vừa
khóc lại vừa nói:
- Con nguyện hối cải,
làm lành, quyết tâm theo Bụt học hành từ bi.
Con cúi xin Bụt cho con làm đệ-tử của Bụt.
Bụt gật đầu.
(Source : HT Thich Nhat Hạnh, 1992)
Angulimala được làm lễ phát,
được hướng dẫn về thiền tọa, khất thực, và
thiền hành. Sau một tháng, Angulimala hoàn
tòan lột xác và trở nên một vị khất sĩ có
tướng tụng và tướng mạo rát uy nghi và đẹp
đẻ, và ai cũng gọi là tỳ keo Ahimsaka.
Một buổi sáng nọ, Bụt cùng 50
vị khất sĩ vào thành Savatthi khất thực,
trong đó có cả Ahimsaka. Đến cửa thành, Bụt
gặp vua Pasenadi cùng tướng lãng, quân đội
và cảnh sát đang hành quân lung bắt
Angulimala. Nhìn thấy Bụt, vua vội vàng
xuống ngựa, đến chào hỏi Bụt. Bụt hỏi lại
vua:
- Đại vương, có biến cố gì mà
vua thân chinh hành quân vây?
- Thưa Thế Tôn, Trẫm hành
quân để vây bắt tên sát nhân Angulimala. Đây
là tên sát nhân nguy hiễm vô cùng, hiện tại
đang ở Savatthi, mà dân chúng thì sợ nó đến
mất tinh thần, còn cảnh sát vẫn chưa tìm
tông tích của nó.
- Nhưng giã dụ, tên sát nhân
đó phát nguyện không sát sinh, sống đạm bạc,
tôn trong sự sống của muôn lòai, thì bệ hạ
có tìm bắt nó nữa không?
- Thưa thế Tôn, nếu nó theo
Bụt xuất gia, giữ giới, có đời sống phạm
hạnh cao như các vị khất sĩ, thì trẫm không
bắt hắn mà tới đãnh lễ và cúng dường y áo,
thuôc men.
Bụt đưa tay chỉ dại
đức Ahimsaka, đứng sát sau lưng Bụt, và nói
với vua:
-
Đại vương, đây là Angulimala, đã xuất gia,
trở thành khất sĩ, sống đời phạm hạnh, chừng
một tháng nay.
Quốc vương
Pasenadi thấy hắn và sợ dựng tóc gáy.
Bụt nói:
- Đại vương đừng
sợ. Khất sĩ Angulimala bây giờ hiền
hơn cụt đất. Và bây giờ là đại đức Ahimsaka.
Vua nhìn đại đức một lúc lâu,
và tiến tới mà nói: xin đại đức Ahimsaka cho
phép trẫm cúng dường y-áo, thuốc men.
Vua trở về đứng trước mặt Bụt,
và thưa:
- Bạch đức Thế Tôn, đạo đức
của Thế tôn thật là mầu nhiệm. Những bạo
động không giải quyết bằng quân đôi hay cảnh
sát, thì Thế tôn giải quyết được hết chỉ
bằng đức độ của Thế tôn. Trẫm xin ghi ơn
công đức của Thế tôn. Trẫm xin giã từ. (T
Nhất Hanh, 1992).
2- KHÔNG TƯỚNG, hay VÔ TƯỚNG.
Không tướng (tiêng Đức gọi là
ohne Nicht) là không có hình tướng, ngay cả
tướng vô của nó. Mọi hữu vi đều có tướng của
nó. Như con người, có đầu mình thân, tứ chi.
Đầu thì có mắt, mũi, tóc, tai,vv. là tướng
con người. Cái cổ xe gồm có bánh xe, trục xe,
càng xe vv. là tướng của cổ xe.
Câu hỏi đặt ra là: như vậy
sanh, trú, diệt, thì thuộc về Hữu vi hay vô
vi?. Ngài Long Thọ lý luân như sau: Nếu sanh
là hữu vi thì nó phải có ba tướng (sanh, trú,
diệt). Như trú thì phải có sanh, trú và diệt.
Và diệt thì cần có sanh trú và diệt. Mỗi thứ
có 3 cái tướng (sanh, trú và diệt), và cứ
tiếp tục đến vô cùng tận. Vì vậy không thể
gọi sanh thuộc về hữu vi pháp. Tương tự lý
luận cho trú và diệt. Nếu sanh là vô vi thì
làm sao nó có tướng của hữu vi. Tướng hữu vi
là sanh, trú và diệt. Nhưng các pháp vô vi
thì không thể phân biệt được sanh, trú hay
diệt, cho nên không thể có sanh, có trú và
có diệt ở vô vi. Mà sanh trú dịêt vốn
là không. Nên hữu vi là không. Hữu vi là
không thì vô vi cũng là không. Khi hữu
vi pháp và vô vi pháp là không thì cái ngã
cũng không. Khi cả ba thứ trên là
không thì chư pháp đều không.
Thế nên, các nhận thức như có,
không, có có, không không, sinh, diệt, còn
mất, sạch, dơ, giàu, sang, hèn, hạ, thêm,
bớt, khổ, đau, tới, đi, đều được gọi là
tướng trạng. Các tướng trạng nầy có được đều
là do các nhận thức phân biệt úp chụp vào nó
với cái tên gọi cho mỗi thức nói trên một
cách riêng biệt. Vô tướng là vượt qua những
khuôn khổ của trí thức phân biệt đó.
Sở dĩ có những tướng trạng
phân biệt đó là vì con người không thấy được
cái tự thân của thưc tại. Bởi thực tại,
ngọài cái do duyên hợp tạo thành, còn có cái
tương quan chằng chịt lẫn nhau. Trong Duy
thức học gọi là tương tức và tương nhập.
Tương tức là cái nầy trong cái kia, cái kia
trong cái nầy; còn tương nhập là cái nầy đi
vào cái kia hay ngược lại. Thành thử, với
con mắt người thường thì không thấy được cái
tương quan chằng chịt trên. Nên nhờ quán
chiếu lâu ngày mới thấy rõ thực tướng của
các tướng là có những tương quan với nhau.
Trong hạnh phúc có khổ đau, trong sinh có tử,
trong đau khổ có niết bàn.
Không tướng sẽ giúp chúng ta
có được cái tâm an lạc hơn, bình thản hơn,
hạnh phúc hơn. Khi ta gặp khổ, ta sẽ thấy
đâu đó niềm vui và hạnh phúc, và cảm nhận
niết bàn gần bên. Khi được giàu sang ta lại
bớt tánh khoe khoang, tánh khinh đời, khinh
người nghèo khổ. Vì bên cạnh của giàu sang
là nghèo hèn và đói rách. Sự chuyển đổi từ
giàu sang ra nghèo khổ mau nhanh như giấc
mộng.
Thêm nữa, Không còn có những
khía cạnh diệu lý tích cực khác cần thiết
cho con người. Thật vậy, nhân tình thế thái
của người đời rất là bội bạc, thường bóng
gió chê bai, trêu chọc, phỉ báng, nói xấu
những gì người khác làm, như trường hợp Ông
Tu Bồ Đề: “Ông ấy trong việc tu hành không
có gì nổi bật, trong hạng tỳ kheo, giống như
người ngơ ngáo mà thôi”. Bụt dạy, nếu gặp
như thế, đều coi là tăng thượng duyên, đều
xem là những nghịch cảnh trên giúp ta tiêu
trừ bớt nghiệp chướng, giúp cho tâm trí ta
càng thêm mạnh mẽ.
Vì sao? Nên quán chiếu
rằng là Chơn lý không có chấp Ngã, chấp Nhơn.
Vì nơi Chơn Không, tất cà đều là Nhất Tướng
bình đẳng, nên trong lòng ta luôn trong sáng,
không áng mây gợn lên, nên không cần gì phải
biện bạch.
Vì sao? Nếu quý vị giữ
lời ngơi khen hay chê bai trong người thì
còn ngã chấp chưa đọan trừ, thì còn chìm đắm
trong pháp chấp Có. Như vậy khó chứng đắc (Tỳ
Kheo Ni: Như Thanh, 1993)
Chuyện kể rằng có một vị nổi
tiếng là Tu Bồ Đề. Trước khi Ông ra đời, gia
đình Ông rất giàu có. Nhưng khi Ông ra
đời, thì gia đình Ông trở nên nghèo khổ và
sa sút, tất cả của cải đều bị mất hết. Nhiều
Thầy bói cho rằng đó là điềm tốt đại kiết,
đại lợi cho gia đình, vì rằng đứa kia, lớn
lên, sẽ đi tu, và sẽ hiểu được cái diệu
nghĩa của Không một cách tột cùng nhất. Đứa
bé sau nầy không bị danh vọng hay lợi lọc
trói buộc.(Tỳ Kheo Ni: Như Thanh, 1993).
Thật vây, sau nây lớn lên, Tu
Bồ Đề đi tu theo Bụt. Tại Tịnh Xá Kỳ Viên,
Tu Bồ Đề thỉnh vấn Phật “Làm sao để an trụ
tâm trong Chánh pháp mà chẳng có vọng niệm”.
Phật dạy: “Khi thi hành pháp bố thí thì cần
phải hành pháp “Bố thí vô tướng”. Khi cứu độ
chúng sanh cần phải hành pháp “Vô ngã độ
sanh”. Cũng luôn quán chiếu như vậy để hàng
phục tâm mình. Tu Bồ Đề quỳ lại Phật và thưa
rằng pháp lý nhiệm mầu sâu xa như thế, lần
thứ nhất con mới được nghe. Về Chấp tức là
Ngã chấp và Pháp chấp, cũng như về Tướng thì
tướng Ngã, tướng Nhân, tướng Chúng sanh,
tướng Thọ giã, tất cả không còn trói buộc
con nữa. Vì không trói buộc con, nên con
thấy được lý “Chân không vô tướng”, là chân
lý tối thượng của con người.
“Không” được hiểu theo ngôn
ngữ của kinh Kim Cang thì “Không” không phải
là Không thì mới chính là Không”. Theo Ngài
Lục tổ Huệ Năng, tổ của Thiền Tông thì lấy
“vô niệm” (tiếng Đức niemals) làm Tông, lấy
“vô tướng” (tiêng Đức ohne Nicht) làm thể,
lấy “vô trụ” (tiếng Đức Nirgends) làm gốc.
Không tướng là đối với sắc
tướng, lòng xa lìa sắc tướng. Đối với sắc
tướng mà tâm lìa được, thì cái thể của các
pháp (hữu vi hay vô vi) tự nhiên thanh tịnh.
Đó là không tướng làm thể.
Không trụ là đối với mọi điều
dữ, tốt xấu ở thế gian, kẻ thù hay người
thân, khi nghe những lời xúc phạm, khinh khi,
châm chích thì xem như không, chẳng nghĩ đến
việc đền ơn trả óan. Trong niệm mà lòng
chẳng nghĩ đến những cảnh mà mình đã gặp
trước. Còn đối với các pháp, niệm niêm mà
lòng không trụ vào đâu thì không bị ràng
buộc. Ấy là không trụ làm gốc. Đó là lời dạy
của Tổ Huệ Năng
Còn không niệm làm Tông là
sao? Đối với các cảnh mà tâm chẳng hề nhiễm
gọi là Không niệm. Nếu tâm nhiễm thì gọi là
vọng niệm, có vọng là có tà kiến. Có tà kiến
là có trần lao vọng tưởng sanh ra. Trong khi
niệm, trong các tưởng niệm của mình, lòng xa
lìa cảnh, đừng để cảnh sanh tâm, làm vọng
động. Cho nên gọi là Không niệm làm tông.
Lục Tổ Huệ Năng dạy.
Niệm là niệm cái gì? Niệm thì
niệm cái Chơn như của bổn tánh. Chơn như là
thể của niệm. Còn niệm là cái dụng của chơn
như. Tánh Chơn như khởi niệm thì sáu căn tuy
có nghe thấy hiểu biết mà chẳng nhiễm muôn
cảnh. Vì không nhiễm cảnh, nên chơn tánh
luôn tự tại. Luc tổ Huệ Năng dạy.
Và con người ở trong vũ trụ
nầy luôn luôn bị kẹt vào thế giới của tục đế,
và đó cũng là hòan cảnh bi đát của con người.
Vì con người không được một lần “vô mà không
vô”, không những một lần mà lại nhiều lần, “
không vô mãi mãi”. Cũng thế, Không một lần
vô niệm. Không một lần vô trú. Không một lần
vô tướng. Và rất nhiều lần, như thế mãi mãi.
Như thế thì ngoài cái Không
hay không tự ngã nơi vạn pháp, mà con người
nhờ có trí huệ mới nhận biết được, nay còn
có một cái Không khác quan trọng nữa là
“Chân không vô tướng, tự tại” nơi bản thân
mình. Đó là cái “Chân tâm của mình” tạo ra
niềm an lạc và hạnh phúc.
3- Không chạy theo.
Không chạy, không cầu, không
van xin. Vì sao? Vì chạy theo hay chạy trốn
vốn là bản chất của người đời. Người đời
thường chạy trốn khỏi một pháp để theo đuổi
một pháp khác tốt hơn. Bỏ nghèo chạy sang
giàu. Bỏ kẻ cô thế mà nịnh người có thế lực.
Bỏ thấp mà bò lên cao. Bỏ sinh tử mà chạy về
giải thóat. Bỏ đau khổ để mà tìm cầu niết
bàn. Họ quên rằng, trong vũ trụ nầy các pháp
tự nó đều có mặt trong nhau thì làm gì mà
chạy? mà đuổi? mà van xin? Thật vậy,
cách đây trên 2650 năm, Đức Phật đã thấy và
căn dạy rằng trong môt pháp thì có tất cả
các pháp, một mà không còn thì tất cả cũng
không còn.
Vạn pháp nương gá nhau mà có
mặt, do trùng trùng duyên hợp tạo nên, trong
môt liên hệ chằng chịt, một cách mật thiết,
nên cái nầy có thì cái kia cũng có, cái nầy
mất thì cái kia cũng mất, cái nầy sinh thì
cái kia sinh. Còn cái lý sinh diệt trùng
trùng, khi cái nầy mất, thì cái kia sinh,
khi cái kia sinh thì cái nọ mất.
Nếu chúng sanh hiểu được điều
Đưc Phật dạy thì khỏi cần đi vào Đại học mà
học vì có trí mà thiếu huệ thì cũng như
không thấy cái gì cả. Nhờ có trí huệ nên
hiểu rằng nếu một cái mà mất thì cái khác
cũng mất. Đơn giản như thế. Nên trước khi
làm điều gì, hay ký văn kiện gì, hoặc du
nhập những gì ở ngòai vào, thì nên nhớ câu
trên. Vì con người quá nhiều vô minh, ngã
chấp càng nhiều, thì ngu xuẩn càng cao ngất
trời, chi thấy lơi lộc trước mắt, công thêm
bề thế, tham ô, móc ngoặc, nên họ phá rừng
bừa bãi ở trên cao,và ở mọi nơi, nên hằng
năm hễ có mưa to, làm lụt cả nước, dân hoặc
phải chết vì lụt hoặc là phải sống trong cơ
cực bần cùng. Rừng điêu tàn thì tổ quốc suy
vong (Un people sans forêt est un people qui
meurt) ( André Theuriet 1833-1907). (Rừng bị
tàn phá thì dân chúng trong nước đó cũng sẽ
chết theo vì ngập lụt) (một cái mất thì cái
khác cũng mất). Thêm nữa, hâu quả vô lường
của hiệp ước sông Mekong trên thượng nguồn.
Khi thượng nguồn giữ nước làm
đập, thì hạ nguồn mực nước sông ngòi Miền
Nam VN xuống thấp hơn trước (trên dư thì
dưới thiếu). Nước biển vào thay nước
ngọt. Số lượng hải sản nước ngọt cạn kiệt
hết. Dân chúng sẽ khổ sở trầm luân. Vựa lúa
miền Nam mà đất trồng lúa bị muối xâm nhập
tràn đầy, gây ra tai họa khôn lường cho hơn
30 triệu dân chúng sống trong đó (Một pháp
đổi thay, thì pháp khác cũng đổi thay theo,
một mà không còn thì tất cả cũng không cón).
Khi chủ trương tiêu diệt một vài giai cấp
như đã làm, thì kết quả làm cho xã hội kiệt
quệ, nghèo đói, hận thù, ngu dốt và lòng
người tàn bạo (một mà mất, thì cái khác cũng
mất). Và nẩy sanh một giai cấp mới má bản
chất còn tệ hơn giai cấp trước, chứa đầy thù
hận, bốc lột, tham nhũng, cường hào trăm lần,
ngàn lần hơn (một cái bị diệt, thì nẩy sinh
một cái mới khác mà ác-quả của nó là do
ác-nhân trước tạo nên rất là tai hại) vv…
Rồi chủ trương đề cao một gai cấp duy nhất,
thì kết quả không hơn gì. Tiêu diệt hay đề
cao môt giai cấp đều là nhị nguyên, nên
không thóat khỏi sự mâu thuẩn, sự họai diệt,
sự đau khổ và nhiều tan thương. Nếu một thực
thể bị diệt, thì có một thực thể khác hiện
ra. Sinh sinh, diệt diệt trùng trùng. Ác
nhân tạo ác–quả. Nhân quả và nghiệp báo vẫn
đeo theo quá trình sinh diệt.
Câu chuyện được kể là, có một
hiền triết rất nổi tiếng tai Ấn độ, khi quê
hương Ông đổi chủ, Ông ra đường đứng khóc
thảm thiết nhiều ngày. Nhiều người hỏi Ông
tại sao Ông lại khóc mà lại không vui mừng?
Ông mới nói, đường lối của chinh quyền mới
chỉ là đối đãi của chính quyền củ. Mà còn
đối đãi là còn nhị nguyên. Còn nhị nguyên là
còn mẩu thuẩn. Mà cái mâu thuẩn nầy gây
nhiều thảm khóc hơn gấp trăm lần cái trước,
nên dân chúng sẽ đói khổ hơn lầm than hơn
mhiều, quê hương sẽ tan thương hơn, rách nát
hơn, dạo đức suy đồi và trụy lạc hơn, tham
nhũng lan tràn khắp nước, bạo lực, hù dọa,
cướp bóc nơi công cộng xãy ra khắp nơi, nên
tôi khóc cho quê hương, đồng bào và đất nước
tôi.
Vì chưa hiểu được tính duyên
khởi của vạn pháp, chưa chứng nhập tính
không của vạn pháp, tính không (vô) tướng
của vạn pháp, nên mới chạy theo và van cầu,
mới chối bỏ sinh tử mà chạy theo niết bàn.
Quán chiếu để hiểu được tính không chạy theo
là ta chấm dứt ngay sự tìm cầu, chạy theo,
van xin.
Giải thóat và giác ngộ không
phải là những pháp có mặt ở ngòai ta. Ta cần
suy nghiệm và quán chiếu nơi chính bản thân
ta là ta thấy được ta chính là bản thân của
giải thóat, của giác ngô và của niết bàn.
Dưới ý nghĩa xa rộng hơn, bất cứ chủ nghĩa
ngọai lai nào đem vào bất cứ đất nước cũng
đều gây sự khổ đau của quần chúng nước đó,
gây nên sự xáo trộn tất cả nền tảng đạo
đức,văn hóa và phong tục của nước đó, và một
sự băng họai xã hội đến tận gốc rễ. Chỉ có
giải pháp do dân chúng nước
đó chọn lưa mới là giải pháp tốt hơn hết.
Chẳng gì lạ khi nghe giải thóat là ở trong
ta, giác ngộ cũng ở trong ta. Không ở trong
ta cũng như ta đi tìm cầu ở ngoài sẽ làm ta
đau khổ mà thôi.
Đức Phật dạy: “Tất cả các
pháp trong vũ trụ nầy không có một pháp nào
độc lập và tồn tại vượt qua ngòai nhận thức
của con người. Con người không cần tìm cầu
van xin và chạy hỏi mất công. Nói theo duy
thức học là đối tượng nhận thức không tồn
tại độc lập với nhận thức. Con người được
gọi là nhận thức. Còn nhận thức về một cái
gì, cái đó gọi là đối tượng nhận thức. Không
nên đeo đuổi một pháp nào, kể cả Phạm thiên,
niết bàn và giải thóat. Trong sinh tử có
niết bàn, trong niết bàn có sinh tử. Trong
hạnh phúc có khổ đau hay trong khổ đau có
hạnh phúc. Cả hai tuy hai mà là một, và cùng
một thực thể. Đó là ý nghĩa của không chạy.
4- Lý Vô Thường.
Còn lý VÔ THƯỜNG chủ trương
ra sao? Theo lý vô thường thì cho rằng vạn
pháp được hiểu giống như duyên khởi và vô
ngã, bởi vì chính nó không có tự tánh nên nó
theo hòan cảnh, thời gian mà biến đổi không
ngừng. Lý vô thường nhấn mạnh vào sự biến
đổi. Và biến đổi không ngừng theo quy luật
“sinh, trụ, dị, diệt” hay” thành, trụ, hoại,
không”.
Vô thường giúp cho người dân
lương thiện và cô thế bị áp bức được an tâm
hơn vì được sự an ủi. Không ai có thể bị áp
bức mãi mãi.Và bọn độc tài, kẻ bắt chẹt
người dân, nên bớt hết tánh hung hãn đi, để
thấy rằng mình cũng không ra cái thứ gì,
cũng chỉ là thứ giá áo túi cơm, được gíó bẻ
măng? Gieo gió sẽ gặt bảo, tạo làm chi cái
thứ ác nhân cho kiếp sau? Nghiệp quả trước
mắt đó. Không có kẻ độc tài nào sống mãi để
độc tài và bắt nạt kẻ khác. Chẳng hạn như
các bọn độc tài dù dưới hình thức nào chèn
ép họ thì cũng phải chết, phải bị diệt, sớm
hay muộn mà thôi. Bọn nịnh bợ hù dọa bắt nạt
người lương thiện cô thế, rồi cũng phải chết.
Bọn cướp của, cướp nhà, cướp đất cù nha, cù
nhầy rồi cũng phải chết phải bị diệt. Tất cả
những thúi tha dơ bẩn rồi cũng phải theo quy
luật họai diệt. Xã hội mới đở hơn. Tất cả
những gì của Cesar phải trả về cho Cesar.
Độc tài rồi cũng có ngày. Tàn bạo rồi
cũng có ngày. Như Saddam Hussein, Như
Talliban, Cộng sản Đông âu. Vv. Trong đêm
tối có ánh sáng. Trong tuyệt vọng có niềm hy
vọng. Trong vinh quang có cái ô-nhục. Trong
danh vọng có cái tuyệt vọng. Vô thường là
thế. Trong sự biến đổi, vạn pháp đều có sinh
có diệt, nối tiếp, không ngừng nghỉ, một
cách nhanh chóng và toàn diện. Độc tài, áp
bức, nịnh bợ, cướp của dưới nhiều hình thức,
cù nhầy, hù dọa đều do vô minh mà ra. Những
người có hành động vô minh trên nên dừng lại,
vì trước hết là giúp đồng bào mình, kế là
giúp bản thân mình, xa hơn nữa là giúp xã
hôi và quê hương mình. Biết dừng lại những
điều sai lầm và thái quá là hành động tốt
nhất của trong tất cả cái tốt. Nên chọn con
đường lương thiện và tình người mà sống.
Trong khổ đau có hạnh phúc và hy vọng. Trong
vinh quang có lắm điều khốn nạn. Trong danh
vọng có nhiều nước mắt. Trong nước mắt có
cái mặn của niềm an ủi. Trong nụ cười sẽ có
cái mếu. Trong cái mếu sẽ thấy cái không.
Trong cái không lại được gần đến hố thẳm.
Trong hố thẳm lại bừng lên niềm an–lạc.
Trong vô thường Vạn pháp luôn
biến đổi từng sát na. Trong mỗi sát na vạn
pháp đều không giống nhau. Sát na nầy không
không giống với sát na trước và sau nó. Ví
như: Đốt củi trong lò, quan sát ngọn lửa
cháy trong khỏang nhứt định, nhưng tính chất
của ngọn lửa lại không đồng nhất. Khỏanh
khắc trước và sau nó không hòan tòan khác
biệt và cũng không hòan tòan giống nhau hẳn.
Cả nước chảy trong dòng sông cũng vậy, trong
khỏanh khắc nào đó, một khối lượng nước chảy
qua cùng một thời điểm, cũng không hòan tòan
giống nhau. Lủa cháy trong lò và nước chảy
trong sông thọat nhìn thì thấy nó đồng nhất
tính. Sự đồng nhất tính đó là do ký ức ta
ghi lại hình ảnh trước liên hợp với hình ảnh
sau. Nên ý niệm đồng nhất nơi chính nơi ta
cũng vậy, đều do ký ức mà có, nên nó là giả
tưởng. Nên theo thuyết vô ngã thì cái “Ta”
cũng chỉ là vọng tưởng (Tỳ Kheo Ni: Như
Thanh, 1993).
KẾT LUẬN.
Thử nhìn các khía cạnh đề cập
ở trên qua các triết gia Tây Phương, ta thấy
có lẽ Heidegger là người hiều “không tánh”
của Bát Nhã hơn bất cứ một Phật tử nào khác,
nhất là khi Ông cùng thiền sư Nhật bản D. T
Suzuki gặp nhau tại Đức, của hai tâm hồn vĩ
đại nhất của Tây phương và Đông phương ở
tiền bán thế kỹ XX. Nhưng Rilke, một
đại thi hào người Đức, lại còn là một người
hiểu “Tánh không” còn hơn cả Heidegger nữa,
khi Ông viết bài nhan đề” Buddha in der
Glorie” “ Đức Phật trong sự quang vinh hiển
ngời” mà Ông kính trọng chào đón Đức Phật
như là“ Trung tâm điểm của tất cả trung tâm
điểm, căn nguyên của tất cả căn nguyên”
( Mitte aller Mitten, Kern der Kerne) và:
“ Trong Pháp Thân Đức Phật
bắt đầu, một cái gì đó sáng rực lâu
hơn cả mặt trời”
(Phạm Công Thiện, 1988)
Không, Không (Vô) tướng,
không chạy theo và vô thường là bốn viên
ngọc quí, là bốn dấu ấn của tất cả pháp môn
của Đức-Phật, mà ánh sáng của nó sáng rực
bao la và bất tận như ánh mặt trời. Cả bốn
đều giúp cho chúng ta: Tìm được sự giải
thóat. Thấy được chính ta. Và thấy được niềm
an lạc trong ta.
Bùi Thế Trường
References:
André Theuriet (1833-1907)
Hàn Lâm viên Pháp, viết bài Priere de la
Forêt (Au plus profond des bois, la patrie a
son Coeur
Un people sans forêt est un people qui meurt)
.Daisetzteitaro Suzuki, 2004,
Thiền Luận, 3 quyển, Trúc Thiên dịch.
.HT Thich Trí Tinh, 1995.
Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa. Pl2359
.Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, 2004.
Transforming the Mind (Teachings on
Generating Compassion).
.Kinh Tạp A Hàm 16, bài kinh
số 406
.HT Thich Thanh Từ, 1990. Vaì
vấn đề Phật Pháp. Ấn Tống Sydney.
.HT Thich Nhất Hạnh, 1992.
Đường xưa Mây Trắng, La bối xuất bản.
Page 348-354.
.HT Thich Trí Tịnh. 1995.
Kinh Ma Ha Bat Nhã Ba La Mật Tập
1,2,3
TP HCM ấn hành, phật lich
2539-1955
Phạm Công Thiện, 1988. Chỉ
còn tiêng thơ trên mặt đất (trở về rainer
Maria Rilke). Trần Thi. publiser. USA.
.Tỳ Kheo Ni: Như Thanh, 1993.
Bát Nhã Cương Yếu, Phật Lịch 2536-1993.
Chùa Viên Giác, tại Cộng hòa
Liên bang Đức |
|