| |
LỜI NÓI
ĐẦU
Giáo lý của Phật có đến tám vạn bốn nghìn
(84.000) pháp môn, chia ra làm mười tôn,
chung quy chỉ có hai loại: Pháp tánh và
Pháp tướng. Duy thức tôn thuộc về Pháp
tướng. Nghiên cứu, phân tích, tìm hiểu Duy
thức tôn gọi là Duy thức học. Môn học
này là một môn triết học rất cao siêu và
rộng rãi, nên từ xưa đến nay không biết
bao nhiêu học giả đã phải bóp trán nặn đầu
vì nó.
Cái khó khăn trong việc nghiên cứu Duy
thức có nhiều nguyên nhân:
1. Rất nhiều danh từ chuyên môn mới lạ mà
học giả chưa quen nghe.
2. Phân tích các hành tướng về tâm lý cũng
như vật chất rất nhiều và quá tỉ mỉ, làm
cho học giả khó nhớ.
3. Sách vở Duy thức quá nhiều, học giả
không biết nên xem quyển nào trước, quyển
nào sau.
4. Những sách ấy phần nhiều là sách chữ
Hán, văn lại quá cổ nên người nay khó học.
5. Phải có tu quán mới hiểu rõ được Duy
thức. Vì những nguyên nhân trên, học giả
phần đông đành bỏ lỡ một môn triết học
thâm thúy, cao siêu là Duy thức học!
Muốn nghiên cứu môn học này một cách có
hiệu quả, cần phải có phương pháp và
người hướng dẫn.
Chúng tôi còn nhớ, khi đang tòng học tại
Phật học đường Lưỡng Xuyên (Vĩnh Bình),
một hôm Sư cụ Tuyên Linh (Lê Khánh Hòa)
Giám đốc Phật học đường Lưỡng Xuyên đưa
cho chúng tôi quyển “Đại thừa bá pháp minh
môn luận” và dạy rằng:
“Duy thức là một môn học khó vô cùng. Văn
chương đã khó, danh từ lại nhiều và hành
tướng Tâm vương, Tâm sở cũng rất phiền
phức. Tôi đã ba năm nghiên cứu bộ Thành
Duy thức luận, mà như người đi vào rừng
rậm, không tìm được lối ra. Đến năm Đinh
Mão nhờ ban tổ chức trường hương chùa Long
Khánh ở Quy Nhơn mời tôi làm Pháp Sư. Tôi
được may mắn gặp Hòa thượng Thập Tháp. Tôi
thuật lại sự khó khăn trong việc nghiên
cứu Thành Duy thức của tôi.
Hòa thượng
Thập Tháp nghe xong, đem biếu tôi quyển
“Đại thừa bá pháp minh môn luận chuế ngôn”
và nói: “Tôi biếu Ngài một cái chìa khóa
để mở kho Duy thức. Người nghiên cứu Duy
thức mà trước không đọc Luận này, thì cũng
như người gỡ nùi tơ rối mà không tìm được
mối. Vậy Ngài nên đọc quyển Luận này cho
kỹ rồi nghiên cứu Thành Duy thức, Ngài sẽ
thấy dễ dàng…”.
Quả thật như thế. Sau khi tôi trở về Nam,
chuyên chú đọc quyển “Đại thừa bá pháp
minh môn luận” trong ba tháng, tôi trở lại
nghiên cứu Thành Duy thức, thấy không còn
khó khăn như trước nữa. Bởi thế, quyển “Bá
pháp” này đối với tôi quý báu vô cùng:
Ngoài cái kỷ niệm vô giá của Hoà thượng
Thập Tháp, nó còn là một cái chìa khóa cho
tôi mở cửa vào nhà Duy thức.
Hôm nay, tôi trao lại cho các ông quyển
Luận này, để các ông khởi công trong việc
nghiên cứu Duy thức.
Mặc dù Sư cụ Thập Tháp và Sư cụ Tuyên Linh
đã về cõi phật gần hai chục năm rồi, song
những kỹ niệm cao quý của hai Sư cu, mà
chúng tôi được vinh hạnh theo hầu trong
mấy năm, vẫn còn ghi đậm nét trong tâm hồn
chúng tôi và những lời vàng ngọc trên vẫn
còn văng vẳng bên tai chúng tôi.
Ngày nay, để nhắc nhở công đức lớn lao của
hai Sư cụ, những vị đã lập công đầu tiên
trong phong trào chấn hưng Phật giáo Việt
Nam và cũng để cho học giới nước nhà
nghiên cứu được dễ dàng môn học Duy thức,
chúng tôi đánh bạo, cố gắng phiên dịch và
giải thích quyển “Đại thừa bá pháp minh
môn luận” này và đổi danh đề là “Duy thức
nhập môn” cho dễ hiểu. Quyển Duy thức nhập
môn này, như danh đề của nó đã nêu lên, sẽ
hướng dẫn quý vị độc giả đi vào đúng cửa
của tòa nhà Duy thức.
Quý độc giả hãy đọc
và nhớ kỹ quyển sách này. Vì quyển sách
này chỉ nói và giải thích về các danh từ
chuyên môn của Duy thức. Cũng như người
học thuốc, trước phải học các tên thuốc và
tánh dược; rồi tiếp tục đọc những quyển
Duy thức học tập I, II, III… (mà Hương Đạo
đã xuất bản), thì quý vị sẽ thấy mình đang
bước dần một cách dễ dàng và thú vị lên
tòa lâu đài rực rỡ và độ sộ của Duy thức.
Mong quý vị sẽ chóng đạt được mục đích.
Biên tại Phật Học Đường Nam Việt
Mạnh Đông năm Mậu Tuất (1958)
Sa môn THÍCH THIỆN HOA
BÀI THỨ NHỨT
LUẬN ĐẠI THỪA TRĂM PHÁP
(Trích yếu Bài này nên học thuộc lòng)
PHẦN THỨ NHỨT
CHÁNH VĂN
Hỏi: Như lời Phật dạy: "Tất cả các pháp
đều vô ngã". Vậy cái gì là "Tất cả pháp"
và sao gọi là "vô ngã"?
Đáp: Tất cả các pháp tuy nhiều, nhưng tóm
lại có 100 pháp, chia làm 5 loại:
I. Tâm pháp (Có 8 món)
II. Tâm sở hữu pháp (Có 51 món)
III. Sắc pháp (Có 11 món)
IV. Tâm bát tương ưng hành pháp (Có 24
món)
V. Vô vi pháp (Có 6 món)
LƯỢC GIẢI
I. TÂM PHÁP HOẶC GỌI LÀ TÂM VƯƠNG CÓ 8 MÓN
1. Nhãn thức (cái biết của mắt)
2. Nhĩ thức (cái biết của tai)
3. Tỹ thức (cái biết của mũi)
4. Thiệt thức (cái biết của lưỡi)
5. Thân thức (cái biết của thân)
6. Ý thức (cái biết của ý)
7. Mạt na thức (Thức thứ 7)
8. A lại da thức (Thức thứ 8)
II. TÂM SỞ HỮU PHÁP, GỌI TẮT LÀ TÂM SỞ, CÓ
51 MÓN, PHÂN LÀM 6 LOẠI:
1. Biến thành, có năm: Xúc, Tác ý, Thọ,
Tưởng, Tư.
2. Biệt cảnh, có năm: Dục, Thắng giải,
Niệm, Định, Huệ.
3. Thiện, có mười một: Tín, Tàm, Quí, Vô
tham, Vô sân, Vô si, Tinh tấn, Khinh an,
Bất phóng dật, Hành xả, Bất hại.
4. Căn bản phiền não, có sáu: Tham, Sân,
Si, Mạn, nghi, Ác kiến.
Ác kiến lại chia làm năm: Thân kiến, Biên
kiến, Tà kiến, KIến thủ, Giới cấm thủ.
5. Tuỳ phiền não, có 20 món, chia làm ba
loại:
a) Tiểu tuỳ, có 10: Phẫn, Hận, Phú, Não,
Tật, Xan, Cuồng, Siễm, Hại, Kiêu.
b) Trung tuỳ, có 2: Vô tàm, Vô quí.
c) Đại tuỳ, có8: Trạo cử, Hôn trần, Bất
tín, Giải đãi, Phóng dật, Thất niệm, Tán
loạn, Bất chánh tri.
6. Bất định, có bốn món: Hối, Miên, Tầm,
Tư.
III. SẮC PHÁP, CÓ 11 MÓN:
Năm căn: Nhãn căn, Nhĩ căn, Tỹ căn, Thiệt
căn và Thân căn.
Sáu trần: Sắc trần, Thinh trần, Hương
trần, Vị trần, Xúc trần và Pháp trần.
IV. TÂM BẤT TƯƠNG ƯNG HÀNH PHÁP, GỌI TẮT
LÀ "BẤT TƯƠNG ƯNG HÀNH", CÓ 24 MÓN:
Đắc, Mạng căn, Chúng đồng phận, Di sanh
tánh, Vô tưởng định, Diệt tận định, Vô
tưởng báo, Danh thần, Cú thân, Văn thân,
Sanh, Trụ, Lão, Vô thường, Lưu chuyển,
Định dị Tương ưng. Thế tốc, Thứ đệ, Thời,
Phương, Số, HOà hiệp tánh, Bất hoà hiệp
tánh.
V. VÔ VI PHÁP, CÓ 6 MÓN:
Hư không vô vi, Trạch diệt vô vi, Phi
trạch diệt vô vi, Bất động diệt vô vi,
Tưởng thọ diệt vô vi, Chơn như vô vi.
Nguyên văn chữ Hán
Nhứt thế tối thắng cố
Dữ thử tương ưng cố
Nhị sở hiện ảnh cố
Tam vị sai biệt cố
Tứ sở hiển thị cố
Như thị tứ đệ.
Dịch nghĩa:
Thứ lớp như vầy: Tâm vương hơn tất cả. Tâm
vương cùng Tâm sở hợp nhau. Do hai món:
Tâm vương và Tâm sở, mà hiện ra ảnh tượng
là "sắc pháp". Do ba món: Tâm vương, Tâm
sở và Sắc pháp, mà thành ra 24 món sai
khác là "Bất tương ưng hành". Do bốn món:
Tâm vương, Tâm sở, Bất tương ưng hành, đều
thuộc về Pháp Hữu vi, nên hiện ra 6 Pháp
Vô vi.
LƯỢC GIẢI
Tóm lại, ngoại nhơn hỏi: "Cái gì là tất cả
pháp ? Đại ý, Luận chủ trả lời: Các pháp
tuy nhiều, nhưng ước lược chỉ có một trăm
pháp, phân làm 5 loại:1. Tâm vương có 8;
2. Tâm sở có 5; 3. Sắc pháp có 11; 4. Bất
tương ưng hành có 24; 5. Vô vi pháp có 6.
Trong 5 loại, lại chia làm hai: Bốn loại
trên thuộc về Pháp Hữu vi, loại thứ 5
thuộc về pháp Vô vi.
Trên nguyên văn nói "tất cả pháp" tức là
pháp Hữu vi và vô vi vậy. Từ trước đến đây
Luận chủ đã trả lời xong câu hỏi thứ nhứt:
"Cái gì là tất cả pháp".
Vì muốn cho học giả dễ nhớ, nên Cổ nhơn có
làm bài kệ bốn câu, tóm lại 100 pháp như
vầy:
Sắc pháp thập nhứt, tâm pháp bát,
Ngũ thập nhứt cá tâm sở pháp
Nhị thập tứ chủng bất tương ưng,
Lục cá Vô vi thành bá pháp.
Dịch nghĩa:
Sắc pháp mười một, Tâm pháp tám,
Năm mươi mốt món Tâm sở pháp,
Hai mươi mốt món Bất tương ưng,
Sáu món Vô vi thành trăm pháp.
***
PHẦN THỨ HAI
Luận chủ trả lời câu hỏi thứ hai: "Sao gọi
là vô ngã?"
CHÁNH VĂN
Nói "vô ngã", lược có 2 món:
1. Nhơn vô ngã, 2. Pháp vô ngã.
LƯỢC GIẢI
Chúng sinh chấp thân, tâm này thật là mình
(ta), như thế là "Nhơn ngã" ; chấp núi,
sông, đất, nước, tất cả sự vật bên ngoài
là thật có, như thế là "Pháp ngã".
Vì "nhơn" không thật có và "Pháp" cũng
không thật có, nên Phật gọi rằng: "Tất cả
Pháp vô ngã"; tức là "Nhơn không thật" và
"Pháp không thật" vậy.
Như thế là Luận chủ đã trả lời xong câu
hỏi thứ hai: "Thế nào là vô ngã".
BÀI THỨ HAI
LUẬN ĐẠI THỪA TRĂM PHÁP
Nguyên văn chữ Hán
Như Thế Tôn ngôn:
"Nhứt thế pháp vô ngã".
Hà dẳng nhứt thế pháp ?
Vân hà vi vô ngã ?
Dịch nghĩa:
Như lời đức Thế Tôn nói:
"Tất cả Pháp không thật".
Vậy, cái gì là "tất cả Pháp"?
Và sao gọi là "không thật"?
LƯỢC GIẢI
Chữ "PHÁP" tức là tất cả sự vật từ tinh
thần lẫn vật chất, nào Thánh Phàm chơn
vọng, hữu tình vô tình, hữu hình vô hình,
hữu vi vô vi, v.v...đều gọi là Pháp.
Dịch đúng theo văn Tàu: "Phàm cái gì, tự
nó có thể giữ được hình dáng hay khuôn khổ
của nó, làm cho người, khi trông đến nó,
biết đó là vật gì, thì gọi là "Pháp" (Nhậm
trì tự tánh, quỷ sanh vật giải).
Chữ "NGÃ" là Ta hay Tôi. Phàm nói "Ta" thì
phải đủ hai điều kiện: 1. Tự tại hay tự
chủ, 2. Có thể sắp đặt sai khiến mọi việc.
Như thế mới được gọi "Ta". Nhưng chữ "vô
ngã" ở đây, nên hiểu nghĩa là "không thật"
thì rõ hơn.
***
PHẦN THỨ NHẤT, NÓI 100 PHÁP
Nguyên văn chữ Hán
Nhứt thế pháp giả, lược hữu ngũ chủng:
Nhứt giả Tâm pháp,
Nhị giả Tâm sở hữu pháp,
Tam giả Sắc pháp,
Tứ giả Tâm bất tương ưng hành pháp,
Ngũ giả Vô vi pháp.
Dịch nghĩa
Nói tất cả Pháp có năm món:
1. Tâm pháp
2. Tâm sở hữu pháp
3. Sắc pháp
4. Tâm bất tương ưng hành pháp
5. Vô vi pháp
LƯỢC GIẢI
Chữ "TÂM" có nhiều nghĩa, nhưng tóm lại có
6 nghĩa:
1. Tập khởi: Chứa nhóm và phát khởi. Nghĩa
này thuộc về thức thứ Tám (Tàng thức). Vì
thức này có công năng "chứa nhóm" chủng tử
của các pháp, rồi "phát khởi" ra hiện
hành.
2. Tích tập: Chứa nhóm. Nghĩa này thuộc về
bảy thức trước. Vì bảy thức trước có công
năng "chứa nhóm" các pháp hiện hành để
huân vào Tàng thức.
Trái lại, Bảy thứ`c trước cũng có nghĩa
"tập khởi" (chứa nhóm và phát khởi), vì
bảy thức trước có công năng "chứa nhóm"
các pháp hiện hành, để huân vào Tàng thức,
"khởi thành" chủng tử.
Thức thứ Tám cũng có nghĩa "tích tập"
(chứa nhóm), vì thức thứ Tám có công năng
"chứa nhóm" chủng tử của các pháp vậy.
3. Duyên lự: Duyên cảnh, khởi phân biệt.
Tám thức đều tự duyên cái cảnh tướng phần
của mình, rồi khởi ra phân biệt (lự).
4. Thức: Hiểu biết phân biệt. Cả tám thức
đều có công dụng hiểu biết phân biệt.
5. Ý:Sanh diệt tương tục không gián đoạn.
Cả tám thức đều niệm niệm sanh diệt tương
tục không gián đoạn.
6. Tâm,Ý và Thức: Vì y theo đặc tánh của
mỗi thức, thì thức thứ Tám về nghĩa"Tích
tập" thù thắng, nên gọi là"Tâm"; thức thứ
Bảy về nghĩa"sanh diệt tương tục" thù
thắng, nên gọi là "Ý" và sáu thức trước về
nghĩa phân biệt thù thắng nên goi
là:Thức".
Chữ "TÂM PHÁp": Pháp thuộc về Tâm. Vì 8
món Tâm này có công năng thù thắng hơn
hết; cũng như ông Vua có oai quyền thế
lực, thống trị thiên hạ, cho nên cũng gọi
là "Tâm vương".
***
NGƯỜI HỌC NÊN HỌC THUỘC LÒNG NHỮNG DANH TỪ
SAU ĐÂY:
I. Ba cảnh: a) Tánh cảnh, b) Độc ảnh cảnh,
c) Đới chất cảnh.
II. Ba lượng: a) Hiện lượng, b) Tỷ lượng,
c) Phi lượng.
III. Ba tánh: a) Thiện tánh, b) Ác tánh,
c) Vô ký tánh.
IV. Ba thọ: a) Khổ thọ, b) Lạc thọ, c) Xả
thọ.
V.Năm thọ: a) Khổ thọ, b) Lạc thọ, c) Ưu
thọ, d) Hỷ thọ, đ) Xả thọ.
VI. Tâm có bốn phần: a) Tướng phần, b)
Kiến phần, c)Tự chứng phần, d) Chứng tự
chứng phần.
VII. 51 món Tâm sở, phân làm 6 vị:
a) Biến hành, có 5
b) Biệt cảnh, có 5
c) Thiện, có 11
d) Căn bổn phiền não, có 6
e)Tuỳ phiền não, có 20
g) Bất định, có 4
a) Dục giới: 1. Ngũ thú tạp
cư địa.
2. Ly, sanh hỷ lạc địa.
3. Định, sanh hỷ lạc địa.
VIII. Ba giới b) Sắc giới: 4. Ly hỷ, diệu
lạc địa.
và chín địa 5. Xả niệm thanh tịnh địa
6. Không vô biên xứ địa
7. Thúc vô biên xứ địa
c) Vô sắc giới: 8.Vô sở hữu xứ địa
9.Phi tưởng phi phỉ tưởng xứ địa.
Tư lượng vi:
1. Thập trụ, 2. Thập hạnh,
3. Thập hồi hướng.
a) Hiền: Tứ gia hạnh vị:
1. Noãn, 2. Đảnh, 3. Nhẫn,
4. Thế đệ nhứt.
IX. Bồ tát 1. Hoan hỷ địa, 2. Ly cấu địa,
có hai 3. Phát quang địa, 4. Diệm huệ
địa, 5. Nan thắng địa, 6. Hiện
b) Thánh: tiền địa, 7. Viễnhành địa, 8.
Bất
động địa, 9. Thiện huệ địa,
10. Pháp vân địa.
X. Tám thức và các duyên:
Nhãn thức, có 9 duyên: 1. Hư không, 2. Ánh
sáng, 3. Căn, 4. Cảnh, 5. Tác ý, 6. Phân
biệt y, 7. Nhiễm tịnh y, 8. Căn bản y, 9.
Chủng tử.
Nhĩ thức, có 8 duyên: Các duyên cũng đồng
như Nhãn thức trên, chỉ trừ " ánh sáng".
Ba thức: Tỹ, Thiệt và Thân, lại còn có 7
duyên: Các duyên đồng như Nhãn thức trên,
chỉ bớt 2 duyên là Hư không và Ánh sáng.
Ý thức,có 5 duyên: 1. Căn, 2. Cảnh, 3. Tác
ý, 4. Căn bản y, 5. Chủng tử.
Mạt na thức, có 3 duyên: 1. Căn cảnh, 2.
Tác ý, 3. Chủng tử.
A lại da thức, có 3 duyên: 1. Căn (Mạt
na), 2. Cảnh (thân căn, khí giới và chủng
tử), 3. Tác ý, 4. Chủng tử.
Vì muốn dễ nhớ, nên Cổ nhơn có bài tụng
như sau:
Nhãn thức cửu duyên sanh
Nhĩ thức duy tùng bát
Tỹ, Thiệt, Thân tam,thất
Hậu tam; ngũ, tam, tứ
Dịch nghĩa
Nhãn thức đủ chín duyên
Nhĩ thức chỉ còn tám
Tỹ, Thiệt, Thân có bảy
Sau ba; năm, ba bốn
LƯỢC GIẢI
Nhãn thức có đủ chín duyên; Nhĩ thức chỉ
có 8 duyên; Tỹ, Thiệt và Thân ba thức này
lại có 7 duyên; còn ba thức sau thì thức
thứ 6 có 5 duyên, thức thứ 7 có 3 duyên và
thức thứ 8 có 4 duyên. (Thức thứ 7 lấy
kiến phần của A lại da thức làm cảnh; Thức
thứ 8 lấy căn thân, khí giới và chủng tử
làm cảnh).
BÀI THỨ BA
I. TÂM VƯƠNG (CÓ TÁM MÓN)
Tám món tâm này rất thù thắng,tự tại và tự
chủ; cũng như vị Quốc vương, nên gọi là
Tâm vương(nhứt thế tối thắng cố)
NĂM THỨC TRƯỚC
(TIỀN NGŨ THỨC)
1. Nhãn thức: Cái biết của con mắt. Vì
thức này nương Nhãn căn, khởi ra tác dụng
phân biệt về sắc trần, nên gọi là "Nhãn
thức".
2. Nhĩ thức: Cái biết củalỗ tai. Vì thức
này nương Nhĩ căn, khởi ra tác dụng phân
biệt về thinh trần, nên gọi là "Nhĩ thức".
3. Tỹ thức: Cái biết củamũi. Vì thức này
nương Tỹ căn, khởi ra tác dụng phân biệt
về hương trần, nên gọi là "Tỹ thức".
4. Thiệt thức: Cái biết củalưỡi. Vì thức
này nương Thiệt căn, khởi ra tác dụng phân
biệt về vi trần, nên gọi là "Thiệt thức".
5. Thân thức: Cái biết củathân. Vì thức
này nương thân căn, khởi ra tác dụng phân
biệt về xúc trần, nên gọi là "Thân thức".
Trong 8 thức Tâm vương. Vì 5 thức này ở
bên ngoài và trước, nên cũng gọi là "Tiền
ngũ thức" (năm thức trước).
KHI Ở ĐỊA VỊ PHÀM PHU NĂM THỨC NÀY ĐỐI
VỚI:
1. Ba cảnh: Năm thức này chỉ có"Tánh cảnh"
2. Ba lượng: Năm thức này chỉ có"Hiện
lượng"
3. Ba tánh: Năm thức này có đủ 3 tánh:
Thiện,Ác và Vô ký.
4. Năm thọ: Năm thức này chỉ có 3 thọ:
Khổ, Lạc và Xả thọ.
5. Ba cõi: Ở cõi Dục thì năm thức này đủ
cả, đến cõi Sắc chỉ cỏn thức: Nhãn,Nhĩ và
Thân; vì hai thức Tỹ và Thiệt không hiện
hành(Nhãn, Nhĩ, Thân tam Nhị địa cư).
6. Chín địa: Năm thức này chỉ ở trong hai
địa: 1. Ngũ thú tạp cư địa, tức là cõi Dục
thuộc về Sơ địa. 2. Ly sanh hỷ lạc địa, ở
cõi Sắc, thuộc Sơ thiền gọi là Nhị địa.
7. Năm mươi mốt Tâm sở: Năm thức này chỉ
tương ưng 34 tâm sở: 5 món biến hành, 5
món biệt cảnh, 11 món Thiện, 3 món Căn bản
phiền não, 2 món Trung tuỳ và 8 món đại
tuỳ.
8. :Chín duyên:Nhãn thức đủ 9 duyên, Nhĩ
thức chỉ còn 8 duyên (thiếu Minh), 3 thức
Tỹ, Thiệt và Thân chỉ có 7 duyên ( thiếu
Minh và Không ).
9. Thể: Thể của 5 thức này, chỉ có Tự tánh
phân biệt, không có Tuỳ niệm phân biệt và
Kế đạt phân biệt.
10. Tướng: Thức với căn khó phân (ngu giả
nan phân thức dữ căn).
11. Nghiệp dụng: Duyên trần cảnh. Song 2
thức: Nhãn và Nhĩ phải cách trần cảnh mới
phân biệt được. Còn 3 thức: Tỹ, Thiệt và
Thân phải hiệp với trần cảnh mới phân biệt
được.
KHI LÊN THÁNH VỊ NĂM THỨC NÀY ĐỐI VỚI:
1. Quán hạnh (tu): Khi lên Thánh vị, thì 5
thức này chuyển thành "Hậu đắc trí", và
biến ra cái Tướng phần của 2 món chơn như
(Sanh không chơn như và pháp không chơn
như) mà quán (duyên).
2. Đoạn hoặc và chuyển thành trí: Khi thức
thứ 8 đã chuyển thành "Đại viên cảnh trí",
thì các căn được vô lậu; lúc bấy giờ 5
thức này cũng được vô lậu và chuyển làm
"Thành sở tác trí".
3. Chứng quả và diệu dụng: Khi chứng quả
vị Phật thì 5 thức này chuyển làm "Thành
sở tác trí". Lúc bấy giờ nó có công dụng
hoá hiện ra 3 loại thân để giáo hoá và dứt
trừ các khổ sanh tử luân hồi cho chúng
sanh.
BA LOẠI THÂN:
1. Thân Đại hoá tức là Thắng ứng thân.
Thân này cao 1.000 trượng, để giáo hoá
hàng Đại thừa Bồ Tát.
2. Thân Tiểu hoá tức là Liệt ứng thân.
Thân này cao một trượng sáu thước, để giáo
hoá hàng Tam hiền Bồ Tát cùng Nhị thừa và
phàm phu.
3. Thân Tuỳ loại hoá. Thân này tuỳ theo
loại chúng sanh mà hoá hiện.
*
Vì muốn cho người học dễ nhớ, nên trong
Bát thức Qui củ, Ngài Huyền Trang Pháp sư
có làm ba bài tụng tóm tắt lại 5 thức như
sau. Hai bài tụng đầu là nói 5 thức này
khi còn ở địa vị phàm phu, bài tụng thứ 3
là nói khi lên Thánh vị.
Bài tụng thứ nhứt
Tánh cảnh, Hiện lượng, thông tam Tánh
Nhãn, Nhĩ, Thân tam Nhị địa cư
Biến hành, Biệt cảnh, Thiện thập nhứt
Trung nhị, Đại bát, Tham, Sân, Si
Dịch nghĩa
Tánh cảnh, Hiện lượng, thông ba Tánh
Nhãn, Nhĩ, Thân ba ở Nhị địa
Biến hành, Biệt cảnh, Thiệt mười một
Trung hai, Đại tám, Tham, Sân, Si
LƯỢC GIẢI
Trong 3 Cảnh thì 5 thức này chỉ có "Tánh
cảnh"; trong 3 lượng nó chỉ có "Hiện
lượng"; còn 3 Tánh thì nó đủ cả Thiện, Ác
và Vô ký.
Ở cõi Dục là Sơ địa, thì đủ cả 5 thức. Lên
cõi Sắc về Nhị địa, thì chỉ còn 3 thức là:
Nhãn, Nhĩ và Thân.
Nói về Tâm sở, thì 5 thức này tương ưng
với 34 món: 5 món Biến hành, 5 món Biệt
cảnh, 11 món Thiện, 2 món Trung tuỳ, 8 món
Đại tuỳ và 3 món Căn bản phiền não là:
Tham, Sân, Si.
Bài tụng thứ hai
Ngũ thức đồng y Tịnh sắc căn
Cửu duyên, bát, thất hảo tương lân
Hiệp tam, ly nhị, quán trần thế
Ngu giả nan phân thức dữ căn
Dịch nghĩa
Năm thức đồng nương Tịnh sắc căn
Chín, tám, bảy duyên ưa gần nhau
Ba hiệp, hai rời, duyên trần cảnh
Ngu giả khó phân Thức và Căn .
LƯỢC GIẢI
Căn, có 2 loại: 1. Phù trần căn:Căn thô
phù bên ngoài. 2. Tịnh sắc căn: căn thanh
tịnh tinh tế ở bên trong; cũng gọi là
"Thắng nghĩa căn", vì căn này rất thù
thắng.
Năm thức đều nương 5 căn Tịnh sắc và nhờ
có các duyên mới sanh ra được. Như Nhãn
thức nhờ 9 duyên, Nhĩ thức chỉ còn 8
duyên, Tỹ, Thiệt và Thân mỗi thức chỉ có 7
duyên.
Ba thức: Tỹ, Thiệt và Thân phải hiệp với
trần cảnh mới duyên được; còn 2 thức là
Nhãn và Nhĩ phải cách hở trần cảnh mới
duyên được.
Chúng phàm phu và hàng Nhị thừa vì chấp
pháp nặng nề, nên khó phân biệt cái nào là
Thức và cái nào là Căn. Vì thế, mà cả hai
đều bị gọi là "Ngu giả".
Bài tụng thứ ba
Biến tướng quán không duy hậu đắc
Quả trung du tự bất thuyên chơn
Viên minh sơ phát thành Vô lậu
Tam loại phân thân tức khổ luân.
Dịch nghĩa
Trí Hậu đắc biến tướng không, quán (duyên)
Khi chứng quả còn chẳng nói chơn
Viên minh vừa phát thành Vô lậu
Phân thân ba loại, dứt khổ luân.
LƯỢC GIẢI
Năm thức này không có "Căn bản trí" mà chỉ
có "Hậu đắc trí". Khi duyên chơn như thì
nó chỉ biến lại tướng phần của hai món
chơn như (Sanh không chơn như và Pháp
không chơn như) mà duyên, chớ không thể
trực tiếp thân duyên được; vì nó không có
"Căn bản trí" nên không thể thân duyên.
Khi chứng được Thánh quả, cũng không thể
nói "Năm thức này thân duyên được chơn
như", huống chi là trong lúc tu nhơn.
Đến khi thức thứ Tám vừa chuyển thànhĐại
viên cảnh trí (viên minh sơ phát) thì 5
thức này thành Vô lậu. Lúc bấy giờ, 5 thức
này có công dụng hiện ra ba loại thân để
hoá độ và dứt trừ các khổ sanh tử luân hồi
cho chúng sanh.
Câu "Biến tướng không quán": Biến lại
tướng chơn như mà duyên. Chữ "Tướng không"
là tướng Ngã không và Pháp không tức là
Chơn như (nhị không chơn như). Chữ "Quán"
là duyên. Nghĩa là:Trí Hậu đắc này chỉ
biến lại tướng chơn như mà duyên.
Chữ "Nói Chơn": Nghĩa là
nói thân duyên Chơn như.
BÀI THỨ TƯ
Ý THỨC (THỨC THỨ SÁU)
Thức này nương Ý căn (thức thứ 7) khởi tác
dụng phân biệt Pháp trần, nên gọi là "Ý
thức".
Trong tám thức duy có thức thứ Sáu này rất
lanh lẹ và khôn ngoan hơn hết, nên trong
bài thơ Bát thức có câu rằng:"Độc hữu nhứt
cá tối linh ly" (riêng có một cái thức rất
lanh lẹ). Suy nghĩ làm việc phải, thức này
đứng đầu; còn tính toán tạo tác việc ác,
thì nó cũng hơn cả. Bởi thế nên trong Duy
thức nói:"Công vi thủ, tội vi khôi" (Nói
về "Công" thì thức này hơn hết, còn luận
về "Tội" thì nó cũng đứng đầu). Thức này
cũng có công năng chấp Ngã và chấp Pháp.
Một điều mà người học thường thắc mắc: Tại
sao thức thứ Sáu gọi là "Ý thức", mà thức
thứ Bảy cũng gọi là "Ý thức"? trong Đại
thừa bá pháp minh môn luận chuế ngôn, có
giải thích như vầy: Thức thứ Sáu mà gọi là
"Ý thức" vì thức này nương "Ý căn" mà khởi
ra phân biệt, nên gọi "Ý thức". Nghĩa là
thức của Ý căn. "Thức" là năng y, còn"Ý"
là bị y, hai phần khác nhau.cũng như nói
"Nhãn thức", tức là thức của Nhãn căn. Thế
là căn với thức khác nhau.
Còn thức thứ Bảy mà gọi là "Ý thức"; chữ
"Ý" là sanh diệt tương tục không gián
đoạn. Vì thức này sanh diệt tương tục
không gián đoạn nên gọi là "Ý thức". Thế
là "Thức" tức là "Ý" không khác. Cũng như
"Tàng thức", chữ "Tàng" là chứa đựng. Vì
thức này chứa đựng các pháp, nên gọi là
"Tàng thức". Thế là "Thức" tức là "Tàng
(chứa) không khác.
KHI Ở ĐIẠ VỊ PHÀM PHU, THỨC NÀY ĐỐI VỚI:
1. Ba cảnh: Thức này có đủ ba cảnh:
a) Tánh cảnh, b) Độc ảnh cảnh, c) Đới chất
cảnh.
2. Ba lượng: Thức này có đủ ba lượng:
a) HIện lượng, b) Tỷ lượng, c) Phi lượng.
3. Ba tánh: Thức này có đủ ba tánh:
a) Thiện tánh, b) Ác tánh, c) Vô ký tánh.
4. Ba cõi: Thức này có đủ trong ba cõi:
a) Cõi dục, b) cõi sắc, c) cõi Vô sắc.
5.Chín địa: Thức này có đủ trong chín địa:
6. Tâm sở: Thức này có đủ 51 món Tâm sở: 5
món Biến hành, 5 món Biệt cảnh, 11 món
Thiện, 6 món căn bản phiền não, 20 món Tùy
phiền não, 4 món Bất định.
7. Chín duyên: Trong chín duyên, thuức này
chỉ có 5 duyên: a) Căn duyên, b) Cảnh
duyên, c)Tác ý duyên, d)Căn bản duyên, e)
Chủng tử duyên.
8. Thể (tánh): Thể của thức này có ba món
phân biệt: a)Tự tánh phân biệt, b)Tuỳ niệm
phân biệt, c) Kế đạt phân biệt.
9. Tướng: Tướng của thức này là luân
chuyển trong ba cõi (tam giới luân thời dị
khả tri).
10. Nghiệp dụng: Nghiệp dụng của thức này
làm cho thân và miệng tạo ra dẫn nghiệp và
mãn nghiệp để cảm thọ quả báo trong ba
cõi. Và ba tánh cùng năm Thọ, thức nàt
thường thay đổi luôn.
KHI LÊN THÁNH VỊ, THỨC NÀY ĐỐI VỚI
1. Quán hạnh (tu): Thức thứ sáu này quán
sanh không, phá trừ ngã chấp và quán pháp
không, phá trừ pháp chấp.
2. Đoạn hoặc và thành trí: Thức này có năm
giai đoạn trừ hoặc chuyển thành trí:
a)Đến vị Tư lương, thì thức này mới chinh
phục được hai món hiện hành của ngã chấp.
b)Đến vị Kiến đạo, thì thức này mới đoạn
được hai món chủng tử về phần phân biệt
của ngã chấp và pháp chấp.
c)Đến vị Tu tập, thức này đoạn được hai
món hiện hành và chinh phục được hai chủng
tử cu sanh của ngã chấp và pháp chấp.
d)Đến vị Viễn hành trở lên thì thức này
mới đoạn hết cu sanh ngã chấp và hoàn toàn
vô lậu.
e)Đến vị Đẳng giác, thức này đoạn hết cu
sanh pháp chấp,chuyển thành Diệu quan sát
trí.
3. Chứng quả và diệu dụng: Khi chứng quả
vị Phật, thì thức này chuyển thành Diệu
quan sát trí và có công năng chiếu soi căn
cơ của chúng sanh trong Đại thiên thế
giới, rồi tùy cơ thuyết pháp hoá độ hàm
linh.
Muốn cho người học dễ nhớ, nên trong Bát
thức quy củ, ngài Huyền Trang Pháp sư có
làm ba bài tụng như sau. Hai bài tụng đầu,
nói thức này khi ở điạ vị Phàm phu, bài
tụng thứ ba nói thức này khi đặng Thánh
quả.
Bài tụng thứ nhứt
Tam Tánh, tam Lượng thông tam Cảnh
Tam giới luân thời di khả tri
Tương ưng Tâm sở ngũ thật nhứt
Thiện ác lâm thời biệt phối chi.
Dịch nghiã
Ba Tánh, ba Lượng và ba Cảnh
Luân chuyển ba cõi rất dễ biết
Tâm sở tương ưng năm mươi mốt
Thiện ác đến thời riêng phối hiệp.
LƯỢC GIẢI
Thức thứ Sáu này đủ cả ba Tánh, ba Lượng
và ba Cảnh. Nó luân hồi trong ba cõi rất
dễ biết. Những Tâm sở tương ưng với thức
này có 51 món. Khi thức này nghĩ việc lành
thì có Thiện tâm sở riêng phối hiệp, còn
khi nghĩ việc ác thì có Ác tâm sở riêng
phối hiệp.
***
Bài tụng thứ hai
Tánh, Giới, Thọ tam hằng chuyển dịch
Căn, Tùy, Tín dẳng đồng tương liên
Động thân phát ngữ độc vi tối
Dẫn, Mãn năng chiêu nghiệp lực khiên.
Dịch nghiã
Tánh, Giới, Thọ ba thường biến đổi
Căn, Tuỳ, Tín chung nhau liên tiếp
Thân động, miệng thốt nó hơn hết
Dẫn nghiệp, Mãn nghiệp thọ quả báo
LƯỢC GIẢI
Thức Này đối với ba Tánh, ba Giới và năm
Thọ thì nó thường thay đổi; khi thì vui
lúc lại buồn, ...51 món Tâm sở, như căn
bổn phiền não, Tuỳ phiền não và Thiện tâm
sở, ...cùng nhau liên tiếp không lúc nào
rời thức này. Làm cho thân động và miệng
nói, duy có thức này là hơn hết. Nó tạo ra
dẫn nghiệp và mãn nghiệp để chiêu cảm quả
báo đời sau.
Baì tụng thứ ba
Phát khởi sơ tâm Hoan hỷ địa
Cu sanh du tự hiện triền miên
Viễn hành địa hậu thuần vô lậu
Quán sát viên minh chiếu Đại thiên.
Dịch nghĩa
Khi đặng sơ tâm Hoan hỷ địa
Cu sanh ngã, pháp hiện còn ẩn
Viễn hành về sau thuần vô lậu
Quán sát viên mãn khắp Đại thiên
LƯỢC GIẢI
Hành giả trong lúc trãi qua Thập thánh thì
thứ c này có ba thời kỳ đoạn phiền não và
thuần vô lậu.
1. Khi lên Sơ địa, tức là Hoan hỷ địa, thì
phân biệt ngã chấp và pháp chấp đều đã
đoạn. Nhưng cu sanh ngã chấp và pháp chấp
hãy còn hiện hành và miên phục trong Tàng
thức, chưa có thể chinh phục và đoạn trừ
được.
2. Khi đến Viễn hành địa (tức là Thất địa)
trở lên thì mới đoạn được chủng tử cu sanh
của ngã chấp và chinh phục được hiện hành
của pháp chấp. Lúc bấy giờ thức này mới
thuần Vô lậu.
3. Khi sắp lên quả Phật thì đoạn được
chủng tử cu sanh của pháp chấp. Lúc bấy
giờ thức này chuyển thành Diệu quan sát
trí, quán sát chiếu soi cả Đaị thiên thế
giới và tuỳ theo căn cơ của mỗi loài mà
thuyết pháp giáo hoá.
BÀI THỨ NĂM
MẠT NA THỨC (THỨC THỨ BẢY)
Thức này có nhiều tên: 1. Mạt na (goị theo
nguyên âm tiếng Phạn), 2. Ý căn: Thức này
là căn của ý thức (Thức thứ Sáu); Vì thức
thứ Sáu nương thức này phát sanh. 3. Thức
thứ Bảy: Theo thứ đệ thì thức này đứng
nhằm thứ Bảy. 4. Truyền thống thức: Vì
thức này có công năng truyền các pháp hiện
hành. 5. Ý thức, vì thức này sanh diệt
tương tục không gián đoạn nên gọi là "Ý".
Song, sợ người lầm lộn với ý thức thứ Sáu,
nên thức thứ Bảy này chỉ gọi là "Ý", mà
không thêm chữ "Thức". Thức này chỉ duyên
kiến phần cuả thức A lại da chấp làm thật
ngã và thật pháp.
KHI Ở ĐIẠ VỊ PHÀM PHU, THỨC NÀY ĐỐI VỚI:
1. Ba cảnh: Thức này chỉ có Đới chất cảnh
2. Ba lượng: Thức này chỉ có Phi lượng
3. Ba tánh: Thức này chỉ có Hữu phú Vô ký
tánh.
4. Ba giới: Trong ba Giới, thức này đều có
đủ.
5. Chín địa: Trong chín Địa, thức này có
đủ.
6.Tâm sở: Thức này có 18 tâm sở: 5 món
Biến hành, 1 món Huệ trong Biệt cảnh, 4
món căn bổn phiền não: Si, Kiến, Mạn, Ái
và 8 món Đại tùy.
7.Chín duyên: Thức này chỉ có ba duyên: 1.
Căn cảnh duyên. 2. Tác ý duyên. 3. Chủng
tử duyên.
8.Tánh: Hằng thẩm xét và lo nghĩ (Hằng
thẩm tư lương).
9. Tướng: Lo nghĩ (Tư lương vi tánh tướng)
10. Nghiệp dụng: Làm chỗ cho 6 thức trước
nương, hoặc nhiểm hay tịnh.
KHI LÊN THÁNH VỊ THỨC NÀY ĐỐI VỚI:
1. Quán hạnh: Thật ra thức này không có
năng lực đoạn hoặc, chỉ nhờ thức thứ Sáu
tu quán, đoạn hoặc, mà thức này cũng được
đoạn.
2. Đoạn hoặc và chuyển thành trí:Có ba
giai đoạn: a) Đến sơ địa, thì thức này mới
vừa chinh phục được hai món chấp về phần
cu sanh và chuyển thành Bình đẳng tánh
trí. b) Khi lên Bát địa (Vô công dụng đạo)
thức này đoạn được cu sanh ngã chấp. c)
Đến Kim Cang đạo thì thức này mới đoạn
được cu sanh pháp chấp
3. Chứng quả và diệu dụng: Khi chứng quả
vị Phật, thì thức naỳ hiện ra thân "Tha
thọ dụng", để giáo hoá thập địa Bồ Tát.
***
Muốn cho người học dễ nhớ, nên trong Bát
thức quy củ, ngài Huyền Trang Pháp sư có
làm ba bài tụng như sau. Hai bài tụng đầu,
nói thức này khi ở điạ vị Phàm phu, bài
tụng thứ ba nói thức này khi lên Thánh
quả.
Bài tụng thứ nhất
Đới chất hữu phú thông tình bổn
Tùy duyên chấp ngã, lượng vi phi
Bát đại Biến hành, Biệt cảnh Huệ
Tham, Si, Ngã kiến, Mạn tương tuỳ.
Dịch nghiã
Đới chất hữu phú thông Bảy, Tám
Tùy duyên chấp ngã thuộc Phi lượng
Tám đại, Biến hành, Huệ Biệt cảnh
Tham, Si, Ngã, Mạn thường theo nhau
LƯỢC GIẢI
Trong ba cảnh, thức này chỉ duyên về "Đới
chất cảnh". Ba tánh, thức này chỉ thuộc về
"Hữu phú Vô ký tánh". Cảnh đới chất của
thức này là thông cả thức thứ Bảy và thức
thứ Tám. Nghĩa là thức thứ Bảy dùng kiến
phần năng duyên của mình (Tức là Tâm, trên
nguyên văn bài tụng chữ Hán gọi là Tình)
duyên qua kiến phần của thức thứ Tám (kiến
phần thức thứ Tám cũng là Tâm; song vì bị
thức thứ Bảy lấy nó làm "bản chất" để
duyên, nên trên bài tụng theo nguyên văn
chữ Hán goị là "Bổn", tức là "Bản chất"
vậy), rồi biến lại "Cảnh đới chất". Vì thế
nên trong Duy thức có câu:
"Dĩ tâm duyên tâm chơn đới chất
Trung gian tướng phần lưỡng đầu sanh"
Nghiã là thức thứ Bảy dùng kiến phần của
tâm mình, duyên qua kiến phần tâm của thức
thứ Tám, nên chính giữa hai thứ c này sanh
ra một tướng phần là cảnh "Chơn đới chất".
Chúng sanh tùy vọng nghiệp sanh trong Tam
giới, thí thức này cũng theo đó mà chấp
ngã. Trong ba lượng, thức này thuộc về phi
lượng.
Về tâm sở thì thức này có 18 món: 8 Đại
tùy, 5 món Biến hành và một món Huệ trong
5 món Biệt cảnh với 4 món căn bổn phiền
não là Tham, Si, Mạn và Ngã kiến.
Bài tụng thứ hai
Hằng thẩm tư lương ngã tương tùy
Hữu tình nhựt dạ trấn hôn mê
Tứ hoặc bát đại tương ưng khởi
Lục chuyển hô vi "Nhiễm tịnh y"
Dịch nghĩa
Hằng xét lo lường theo chấp ngã
Hữu tình ngày đêm bị mê muội
Bốn hoặc, tám đại chung nhau khởi
Sáu thức gọi là "Nhiễm tịnh y"
LƯỢC GIẢI
Thức thứ Bảy thường suy xét so đo chấp
kiến phần của thức thứ Tám làm ngã. Trong
Bát thức quy củ tụng Trang chủ có nói:
Thức thứ Tám, có hằng mà không thẩm xét.
Thức thứ Bảy, vừa hằng lại vừa thẩm xét.
Thức thứ Sáu, có thẩm xét mà không hằng.
Năm thức trước, không hằng và không thẩm.
Cũng vì thức này chấp ngã, nên chúng hữu
tình mê muội trong sanh tử đêm dài mà
chẳng tự biết. Thức này tương ưng với bốn
món căn bản phiền não là: Si, Kiến, Mạn,
Ái và 8 món Đại tuỳ. Sáu thức trước gọi
thức này là "Nhiễm tịnh y" (Lục thức hô vi
nhiễm tịnh y)
Bài tụng thứ ba
Cực hỷ sơ tâm, bình đẳng tánh
Vô công dụng hạnh ngã hằng thôi
Như Lai hiện khởi tha thọ dụng
Thập địa Bồ Tát sở bị côi (cơ)
Dịch nghĩa
Đến Sơ địa, thành "bình đẳng trí"
Đến Vô công dụng, hằng phá Ngã
Như Lai hiện thân "Tha thọ dụng"
Giáo hoá hàng Thập địa Bồ Tát.
LƯỢC GIẢI
Hành giả khi chứng được Hoan hỷ địa, tức
là Sơ địa, thì thức này chuyển lại thành
"Bình đẳng tánh trí". Đến bất động địa,
tức là địa thứ Tám, cũng gọi là "Vô công
dụng hạnh"; lúc bấy giờ hành giả mới dẹp
trừ chủng tử của ngã chấp. Đến khi chứng
quả Phật, thức này đã chuyển thành trí,
hiện ra thân "Tha thọ dụng" để giáo hoá
hàng Thập địa Bồ Tát.
BÀI THỨ SÁU
A LẠI DA THỨC (THỨC THỨ TÁM)
Thức này có rất nhiều tên, khi đọc đến
luận "A đà na thức" qýi vị sẽ hiểu rõ. Nay
chúng tôi chỉ kể sơ lược một vài tên.
1. Đệ bát thức: Thức thứ tám. Vì theo thứ
đệ: một là nhãn thức, hai là nhĩ thức, cho
đến thức thứ Tám là thức này, nên gọi là
Đệ bát thức.
2. A lại da thức: Tàu dịch là "Tàng thức":
Thức này có công năng chứa đựng chủng tử
của các pháp. "Thức" là thể, mà "chứa" là
dụng. Hiệp cả thể và dụng, nên gọi là
"thức chứa" (Tàng thức). Có 3 nghĩa:
a. Năng tàng: Năng chứa. Thức này co công
năng chứa đựng và gìn giữ chủng tử (hạt
giống) của các pháp.
b. Sở tàng: Bị chứa. Thức này là chổ để
chứa các pháp.
c. Ngã ái chấp tàng, gọi tắt là "chấp
tàng": Thức thứ Bảy chấp kiến phấn của
thức này làm Ta và thường ái luyến.
KHI Ở ĐỊA VỊ PHÀM PHU, THỨC
NÀY ĐỐI VỚI:
1. Ba cảnh: Thức này chỉ duyên về "Vô bản
chất tánh cảnh".
2. Ba lượng: Thức này chỉ có "hiện lượng"
3. ba tánh: Thức này thuộc về "Vô phú vô
ký tánh".
4. Ba thọ: Thức này chỉ có "Xả thọ".
5. Ba cõi: Thức này tuỳ nghiệp lực dẫn
sanh trong ba cõi.
6. Chín Địa:Trong chín địa đều có thức
này.
7. Tâm sở: Thức này chỉ tương ưng với 5
món biến hành; song trong 5 thọ thì nó chỉ
có "Xả thọ".
8. Chín duyên: thức này chỉ có 4 duyên: a.
Căn (Mạt ma), b. Cảnh (Căn thân, thế giới
và chủng tử), c. Tác ý, d. Chủng tử.
9. Thể (tánh): Vơi vơi không cùng (hạo hạo
tam tàng bất khả cùng)
10. Tướng: Thức này như vực sâu (uyên thâm
thất lãnh cảnh vi phong).
11. Nghiệp dụng: Thức này duy trì chủng tử
căn thân, thế giới và làm chỗ để thọ các
pháp huân vào.
KHI LÊN THÁNH VỊ, THỨC NÀY ĐỐI VỚI:
1. Quán hạnh: (Không có quán hạnh).
2. Đoạn hoặc và chuyển thành trí: Khi lên
"Bất động địa" (Bát địa) thì hành giả đoạn
được cu sanh Ngã chấp; lúc bấy giờ thức
này bỏ cái tên "Tàng thức". Đến Kim Cang
đạo rồi, thì hành giả đoạn hết cu sanh
pháp chấp, không còn cảm thọ sanh tử, cho
nên cũng không còn tên là "Dị thục thức";
vì đến địa vị này thì các chủng tử hữu lậu
đã hết. Lúc bấy giờ thức này được gọi là
"Vô cấu thức", và chuyển thành Đại viên
cảnh trí.
3. Chứng quả và diệu dụng: Vì thức này đã
thành Đại viên cảnh trí, nên chiếu khắp
mười phương các cõi nước nhiều như vi
trần.
Muốn cho người học dễ nhớ, nên trong Bát
thức quy củ, ngài Huyền Trang Pháp sư có
làm ba bài tụng để tóm lại các nghĩa trên
như sau. Hai bài tụng đầu nói thức này khi
còn ở địa vị phàm phu, bài tụng thứ ba,
nói khi đã lên thánh quả.
Bài tụng thứ nhứt
Tánh duy vô phú ngũ Biến thành
Giới, Địa tuỳ tha nghiệp lực sanh
Nhị thừabất liễu nhơn mê chấp
Do thử năng hưng Luận chủ tranh
Dịch nghĩa
Vô phú tánh và năm Biến thành
Ba cõi, chín địa tuỳ nghiệp sanh
Nhị thừa không rõ sanh mê chấp
Bởi thế nên chi Luận chủ tranh (cãi)
LƯỢC GIẢI
Trong ba tánh, thức này thuộc về "Vô phú
vô ký tánh". Trong 51 món tâm sở thức này
chỉ tương ưng với 5 món Biến hành, song
trong 5 thọ thì nó chỉ có Xả thọ. Tuỳ
theonghiệp lực kéo dẫn, mà thức này sanh
trong ba cõi và chín địa. Hàng Nhị thừa
không hiểu, chấp thức này không có. Bởi
thế nên Luận chủ dẫn rất nhiều bằng chứng
trong các Kinh Luận để tranh luận, chỉ rõ
và quyết định phải có thức thứ Tám này.
***
Bài tụng thứ hai
Hạo hạo tam tàng bất khả cùng
Uyên thâm thất lãng cảnh vi phong
Thọ huân trì chủng căn thân khí
Khứ hậu lai tiên tác chủng ông
Dịch nghĩa
Chơi vơi ba tàng không cùng tột
Vực sâu, bảy sóng, cảnh làm gió
Chịu huân, trì chủng và thân cảnh
Đến trước đi sau làm chủ ông
LƯỢC GIẢI
Ba tàng là Năng tàng, Sở tàng và Ngã ái
chấp tàng. Bởi thức này có công năng duy
trì các chủng tử, nên gọi là "Năng tàng".
Vì thức này là chỗ để chịu cho các pháp
hiện hành huân vào, nên gọi là "Sở tàng".
Thức thứ Bảy chấp kiến phần của thức này
làm Ngã, nên gọi là "Ngã ái chấp tàng".
Thể và dụng của thức này sâu rộng vô cùng;
hàng phàm phu và Nhị thừa không thể thấu
tột. Chúng hữu tình từ vô thỉ đến nay,
cũng do thức này mà sanh tử tương tục
không cùng tột, nên trong bài tụng nói:
"Vơi vơi ba tàng không cùng tột".
Biển tàng thức rất là sâu rộng, gió bốn
duyên (căn, cảnh, chủng tử và tác ý) một
phen thổi vào, thì sóng bảy thức nhấp nhô
nổi dậy.
Thức này có công năng duy trì chủng tử,
căn thân, thế giới và chịu cho các phép
hiện hành huân vào.
Thức này làm ông Chủ; vì khi chúng hữu
tình chết thì nó đi sau, còn khi đầu sanh
thời nó lại đến trước.
Cổ nhơn có làm bài kệ, để tả trạng thái
người chết, trong lúc thần thức sắp rời
thân xác, có thể kinh nghiệm biết người
chết rồi được thăng lên hay đọa xuống.
Chánh văn
Đảnh Thánh, nhãn sanh Thiên
Nhơn tâm, Ngạ quỉ phúc
Bàn sanh tất cái ly
Địa ngục khước tâm xuất
Dịch nghĩa
Thánh đầu, Trời tại mắt
Người tim, Ngạ quỉ bụng
Súc sanh hai chân xuống
Địa ngục bàn chân ra
Bài tụng thứ ba
Bất động địa tiền tài xả tạng
Kim Cang đạo hậu Dị thục không
Đại viên vô cấu đồng thời phát
Phổ chiếu thập phương trần sát trung
Dịch nghĩa
Đến Đệ bát địa bỏ tên "Tàng"
Chứng Kim Cang đạo, không "Dị thục"
Gương trí không nhơ đồng thời phát
Khắp chiếu mười phương vô số cõi.
LƯỢC GIẢI
Hành giả khi tới Bất động địa, tức là Bát
địa trở lên, thì thức này mới xả cái tên
"Tàng thức" mà chỉ còn gọi là "Dị thục
thức". Khi đến vị Đẳng giác, được Kim Cang
đạo, thì thức này không còn gọi tên là "Dị
thục" nữa. Vì lúc bấy giờ, các chủng tử
hữu lậu cấu nhiễm đã hết, nên thức này
được đổi tên là "Vô cấu thức"; chỉ còn
thuần chủng tử vô lậu thanh tịnh, nên cũng
được gọi là "Bạch tịnh thức".
Đến Kim Cang đạo, thì thức này được gọi là
"Vô cấu" và chuyển thành Đại viên cảnh
trí, nên trong bài tụng nói:
"Đại viên (trí) vô cấu (thức) đồng thời
phát"
trí Đại viên này chiếu khắp cả mưởi phương
thế giới nhiều như số cát sông Hằng; và
hiện ra Báo thân Phật và Hoá thân Phật để
độ thoát chúng sanh tột đến đời vị lai.
Tóm lại, thức thứ Tám này vì trải qua 3
giai đoạn, nên có 3 tên khác nhau:
1. từ phàm phu cho đến mãn Thất địa, thì
gọi thức này là Tàng thức (A lại da) hay
"Dị thục thức".
2. từ Bát địa đến Đẳng giác, thì không còn
gọi là "Tàng thức" nữa mà chỉ gọi là "Dị
thục thức".
3. Đến quả vị Phật, thì tên "Dị thục" cũng
không còn, mà chỉ gọi là "Vô cấu thức" hay
"Bạch tịnh thức".
***
Muốn cho người học dễ nhớ hành tướng và
công năng của 8 thức tâm vương nên cổ nhân
có làm bài thơ rằng:
Bát cá đệ huynh, nhứt cá si
Độc hữu nhứt cá tối sinh ly
Ngũ cá môn tiền tố mãi mại
Nhứt cá gia trung tác chủ y.
Dịch nghĩa
Anh em tám chú một chàng si (thức thứ Bảy)
duy có ý thức rất linh ly (khôn ngoan)
năm người ngoài cửa lo buôn bán (năm thức
trước)
làm chủ trong nhà Đệ bát y (thức thứ Tám)
BÀI THỨ BẢY
II. TÂM SỞ (CÓ 51 MÓN)
"Tâm sở hữu pháp" gọi tắt là "Tâm sở",
nghĩa là pháp sở hữu của Tâm vương. Tâm sở
tuỳ theo Tâm vương mà khởi và giúp đỡ Tâm
Vương để tạo nghiệp (Dữ thử tương ưng cố)
tâm sở có 51 món, chia lảm 6 loại:
A. TÂM SỞ BIẾN THÀNH (Có 5 món)
Chữ "Biến thành" nghĩa là đi khắp. Năm món
Tâm sở này đi khắp 4 chỗ: 1. Tất cả thời
gian (quá khứ, hiện tại và vị lai), 2. Tất
cả chỗ (không gian: Ba cõi, chín địa), 3.
Tất cả các thức (Tám thức Tâm Vương), 4.
Tất cả tánh (tánh lành, dữ và tánh không
lành dữ).
1. Xúc: Tiếp xúc, gặp gỡ. Tánh của Tâm sở
này, hay làm cho Tâm Vương hoặc Tâm sở
tiếp xúc với cảnh. Nghiệp dụng của nó làm
chổ nương cho Thọ, Tưởng, Tư, ...để phát
sanh.
2. Tác ý: Mong khởi trái ý. Tánh của Tâm
sở này hay đánh thức chủng tử của Tâm
vương, Tâm sở khiến cho sanh khởi. Nghiệp
dụng của nó dẫn tâm đến duyên tự cảnh.
3. Thọ: Lãnh thọ. Tánh của Tâm sở này hay
lãnh thọ những cảnh thuận, nghịch và cảnh
không thuận nghịch. Nghiệp dụng của nó là
mong muốn. Như gặp cảnh thuận thì muốn
hiệp, gặp cảnh nghịch thì muốn lìa và muốn
cảnh không thuận nghịch. Nói lại cho dễ
hiểu là thọ cảnh vui, buồn và cảnh bình
thường.
4. Tưởng: Nhớ tưởng. Tánh của Tâm sở này
hay tưởng hình tượng của cảnh vật. Nghiệp
dụng của nó là bịa đặt ra những danh từ để
kêu gọi. Như tưởng hình tướng trắng, mõng
và vuông, rồi tuỳ theo đó mà đặt ra cái
tên là "tờ giấy".
5. Tư: lo nghĩ. Tánh của Tâm sở này, khiến
cho tâm lo nghĩ tạo tác. Nghiệp dụng của
nó là sai tâm làn những việc lành, dữ hoặc
không phải lành dữ.
B. TÂM SỞ BIỆT CẢNH (Có 5 món):
Chữ "Biệt cảnh" là mỗi cảnh riêng khác.
Năm món Tâm sở này, mỗi món duyên mỗi cảnh
riêng khác.
1. Dục: Mong muốn. Tánh của Tâm sở này là
hằng mong muốn duyên những cảnh vui thích.
Nghiệp dụng của nó làm chỗ nương cho
"siêng năng".
2. Thắng giải: Hiểu biết rõ ràng. Tánh của
Tâm sở này, hiểu biết rõ ràng không có
nghi ngờ. Nghiệp dụng của nó là quyết định
không chuyển đổi.
3. Niệm:Nhớ. Tánh của Tâm sở này, khiến
cho tâm ghi nhớ rõ ràng những cảnh đã qua.
Nghiệp dụng của nó, làm chỗ nương cho
Định.
4. Định: Chuyên chú. Tánh của Tâm sở này,
khiến cho tâm khi đối với cảnh, chuyên chú
không tán loạn. Nghiệp dụng của nó làm chỗ
nương cho Trí; vì khi đối với cảnh, tâm
chuyên chú không tán loạn, nên sanh ra
Trí.
5. Huệ: Sáng tỏ. Tánh của Tâm sở này, khi
đối với cảnh sáng suốt lựa chọn. Nghiệp
dụng của nó, dứt nghi ngờ. Trong khi đối
với cảnh, vì có Huệ suy xét, nên quyết
định không còn nghi ngờ.
C. TÂM SỞ THIỆN (Có 11 món)
Chữ "Thiện" là hiền lành. Bản tánh của 11
Tâm sở này, hiền lành và làm lợi ích cho
chúng sanh.
1. Tín: Tin. Tánh của Tâm sở này, tin chịu
những gì có thật (chơn thật), Đức (hình
dung), Năng (nghiệp dụng) và làm cho Tâm
được thanh tịnh. Nghiệp dụng của nó: đối
trị Bất tín và ưa việc lành.
2. Tinh tấn: Tinh chuyên và tấn tới. Tánh
của Tâm sở này, siêng năng đoạn các việc
dữ, làm các việc lành. Nghiệp dụng của nó
đối trị giải đãi và làm viên mãn việc
lành.
3. Tàm: Tự xấu hổ. Tánh của Tâm sở này,
mỗi khi làm điều gì quấy, tự mình xấu hổ;
kính trọng người hiền và ưa việc phải.
Ngiệp dụng của nó: đối trị "tâm không biết
xấu hổ" và ngăn ngừa việc dữ.
4. Quý: Thẹn với người. Tánh của Tâm sở
này, khi mình làm điều gì quấy, thấy người
thẹn thùa; không chịu gần người ác, chẳng
làm việc dữ. Nghiệp dụng của nó: đối trị
"tâm không biết thẹn" và ngăn làm việc ác.
5. Vô tham: không tham lam. Tánh của Tâm
sở này, không tham lam, cảnh dục lạc trong
tam giới. Nghiệp dụng của nó: đối trị lòng
"tham" và ưa làm việc lành.
6. Vô sân: Không sân hận. Tánh của Tâm sở
này, khi đối với cảnh trái nghịch, không
nóng giận. Nghiệp dụng của nó: đối trị
"sân hận" và ưa làm việc lành.
7. Vô si: Không si mê. Tánh của Tâm sở
này, khi đối với sự lý, hiểu biết rành rõ
không mờ ám. Nghiệp dụng của nó: đối trị
"si mê" và ưa làm việc lành.
8. Khinh an: Nhẹ nhàng, thư thới. Tánh của
Tâm sở này, làm cho thân tâm nhẹ nhàng
khoan khoái, xa lìa những gì nặng nề bực
bội. Nghiệp dụng của nó: đối trị "Hôn
trầm".
9. Bất phóng dật:Không buông lung, phóng
túng. Tánh của Tâm sở này là phòng ngừa
việc ác, làm việc lành và không phóng
túng. Nghiệp dụng của nó: làm viên mãn
việc lành ở thế gian, xuất thế gian và đối
trị "Buông lung".
10. Hành xả: Làm rồi không chấp trước.
Tánh của Tâm sở này, khi làm các việc
phước thiện, không chấp trước, khiến tâm
an trụ nơi vô công dụng. Nghiệp dụng của
nó: đối trị "Trạo cử" và làm cho tâm an
trụ nơi yên tịnh.
11. Bất hại: Không làm tổn hại. Tánh của
Tâm sở này không làm tổn hại tất cả chúng
hữu tình. Nghiệp dụng của nó: Từ bi thương
xót loài vật và đối trị "Tổn hại".
D.CĂN BẢN PHIỀN NÃO (Có 6 món)
Sáu món phiền não này thuộc về ác. Nó làm
cội gốc sanh ra các phiền não chi mạc, nên
gọi là "Căn bản".
1. Tham: Tham lam. Tánh của Tâm sở này
tham lam đắm nhiễm những gì nó ưa thích;
như tài sắc, danh vọng,...Nghiệp dụng của
nó: làm chướng ngại "Vô tham" và sanh tội
khổ.
2. Sân: Nổi nóng. Tánh của Tâm sở này,
giận ghét những cảnh trái nghịch. Nghiệp
dụng của nó: làm cho thân tâm không yên
ổn, chướng ngại tánh "Vô sân" và sanh các
tội lỗi.
3. Si: Ngu si, hoặc gọi là "Vô minh"
(không sáng suốt). Tánh của Tâm sở này là
mê muội, không biết hay dở,phải quấy.
Nghiệp dụng của nó sanh ra các pháp tạp
nhiễm và chướng ngại tánh "Vô si".
Ba món phiền não tâm sở (Tham, Sân, Si)
này, làm chướng ngại ba món Vô lậu là
Giới, Định và Huệ.
4.Mạn: Khinh mạn. Tánh của Tâm sở này, ỷ
tài năng hoặc thế lực của mình, khinh dễ
ngạo mạn người. Nghiệp dụng của nó làm
nhơn sanh ra tội lỗi và chướng ngại tánh
"không khinh mạn".
5. Nghi: Nghi ngờ, do dự. Tánh của Tâm sở
này, nghi ngờ không tin những việc phải,
chơn chánh. Nghiệp dụng của nó làm trở
ngại việc lành và chướng ngại tánh "không
nghi".
6.Ác kiến: Thấy biết thuộc về tội ác,
nhiễm ô. Tánh của Tâm sở này, hiểu biết
điên đảo, không đúng chánh lý. Nghiệp dụng
của nó gây tạo tội khổ và chướng ngại
những hiểu biết chơn chánh.
Ác kiến này có 5 món:
1. Thân kiến: Chấp Ta (Ngã).
2. Biên kiến: Chấp một bên, hoặc chấp Ta
chết rồi mất hẳn (chấp
đoạn), hoặc chấp Ta chết
rồi còn hoài (chấp thường).
3. Tà kiến: Chấp tà, mê tín, dị đoan.
4. Kiến thủ: Chấp cứng chỗ hiểu biết của
mình là đúng, mặc dù có người biết sai,
chỉ bảo lại cũng không nghe.
5. Giới cấm thủ: Chấp giữ theo những giới
cấm không chơn chánh của ngoại đạo. Nói
rộng ra là chấp theo những tục lệ không
hay.
BÀI THỨ TÁM
E. TUỲ PHIỀN NÃO (Có 20 món)
Hai mươi món phiền não này, là tuỳ thuộc 6
món Căn bản phiền não trên mà sanh khởi.
Vì phạm vi tương ưng của nó có rộng và hẹp
không đồng, nên chia làm ba loại:
I. TIỂU TUỲ, có 10 món, mỗi món tự lực
sanh khởi, phạm vi tương ưng nhỏ hẹp, nên
gọi là "Tiểu".
1. Phẫn: Giận. Tánh của tâm sở này, khi
gặp cảnh trái nghịch, nóng giận. Nghiệp
dụng của nó là hay làm tổn hại người, vật
và chướng ngại tánh không nóng giận.
2. Hận: Hờn. Khi gặp cảnh nghịch, trước
nóng giận rồi sau mới hờn. Tánh của Tâm sở
này là ôm ấp sự oán ghét không bỏ. Nghiệp
dụng của nó là nóng nảy, buồn phiền và hay
làm chướng ngại tánh không hờn.
3. Phú: Che giấu. Tánh của tâm sở này, vì
sợ mất danh giá và tài lợi, nên che giấu
tội lỗi của mình. Nghiệp dụng của nó là
hay ăn năn, buồn và chướng ngạitánh không
che giấu.
4. Não: Buồn buồn. Khi gặp cảnh nghịch,
trước giận hờn rồi sau mới buồn. Tánh của
Tâm sở này hay nhớ lại những cảnh trái
nghịch đã qua, rồi sanh buồn phiền. Nghiệp
dụng của nó là chướng ngại tánh không
buồn.
5. Tật: tật đố, ganh ghét. Tánh của tâm sở
này hay ganh ghét đố kî những gì mà người
ta hơn mình. Nghiệp dụng của nó là làm
chướng ngại tánh không tật đố và sầu khổ
lo buồn.
6. Xan: Bỏn xẻn. Tánh của tâm sở này, bỏn
xẻn, rích rắm, không chịu ban bố tiền tài
hay giáo pháp cho người. Nghiệp dụng của
nó là làm bộ quê mùa, ăn mặt nghèo cực, để
tích trử tài sản và làm chướng ngại không
bỏn xẻn.
7. Cuống: Dối. Tánh của tâm sở này, dối
gạt người để lợi mình. Nghiệp dụng của nó
là làm việc không chơn chánh để nuôi sống
và chướng ngại tánh không dối gạt.
8. Siểm: Bợ đở, nịnh hót. Tánh của tâm sở
này, lựa thời thế nịnh hót, bợ đỡ người.
Nghiệp dụng của nó là không nghe lời chỉ
giáo chơn chánh của thầy, bạn và làm
chướng ngại tánh không dua nịnh.
9. Hại: Tổn hại. Tánh của tâm sở này làm
tổn hại các loài hữu tình. Nghiệp dụng của
nó là làm bức não người, vật và chướng
ngại tánh không tổn hại.
10. Kiêu: Kiêu căng. Tánh của tâm sở này,
vì thấy mình giàu sang, quyền tước hoặc
tài năng, rồi sanh ra kiêu cách và ngạo
nghễ. Nghiệp dụng của nó là làm nhơn sanh
ra nhiễm ô, tội lỗi và chướng ngại tánh
không kiêu căng.
II. TRUNG TUỲ, có hia món là Vô tàm và Vô
quý; vì hai món Tâm sở này, duyên các Tâm
sở bất thiện, phạm vi tương ưng của nó
trung bình, nên gọi là "trung tuỳ".
11. Vô tàm: Tự mình không biết, xấu hổ.
Tánh của tâm sở này, khi làm việc quấy
không biết tự hổ, khinh dễ những người
hiền thiện. Nghiệp dụng của nó là làm tăng
trưởng việc ác và chướng ngại tánh biết
xấu hổ.
12. Vô quý: Không biết thẹn với người.
Tánh và tâm sở này, khi làm việc quấy,
không biết thẹn với người, ưa làm việc tội
ác. Nghiệ dụng của nó là làm tăng trưởng
việc ác và chướng ngại tánh biết thẹn.
III. ĐẠI TÙY, có 8 món sau đây. Tám món
Tâm sở này biến khắp các Tâm sở bất thiện,
phạm vi của nó rộng hơn hai món Trung tuỳ
trước, nên gọi là "Đại tuỳ".
13. Trao cử: Lao chao. Tánh của Tâm sở này
làm cho thân tâm chao động không yên tịnh.
Nghiệp dụng của nó là làm chướng ngại Định
và Hành xả.
14. Hôn trần: Mờ tối trầm trọng. Tánh của
Tâm sở này, khiến cho tâm khi đối với quán
cảnh mờ mịt không sáng suốt. Nghiệp dụng
của nó là làm hướng ngại Huệ và khinh an.
15. Bất tín: Không tin. Tánh của Tâm sở
này là không tin các pháp lành, làm cho
tâm tánh ô nhiễm. Nghiệp dụng của nó hay
sanh giải đãi và chướng ngại tâm thanh
tịnh.
16. Giãi đãi: Biếng nhác trễ nãi, Tánh của
Tâm sở này là biếng nhác, không lo đoạn ác
và tu thiện. Nghiệp dụng của nó là làm
chướng ngại tinh tấn và tăng trưởng tánh
nhiễm ô.
17. Phóng dật: Buông lung. Tánh của Tâm sở
này phóng túng, buông lung, không thúc
liễm thân tâm để đoạn ác tu thiện. Nghiệp
dụng của nó là làm tăng ác tổn thiện, và
chướng ngại tánh không buông lung.
18. Thất niệm: Mất chánh niệm. Tánh của
Tâm sở này không nhớ cảnh đã duyên. Nghiệp
dụng của nó là làm chướng ngại chánh niệm
và sanh tán loạn.
19. Tán loạn: Rối loạn. Tánh của Tâm sở
này làm cho tâm rối loạn. Nghiệp dụng của
nó là làm chướng ngại chánh định và sanh
ra ác huệ.
20. Bất chánh tri: Biết không chơn chánh.
Tánh của Tâm sở này, khi đối với cảnh,
hiểu biết sai lầm. Nghiệp dụng của nó là
làm chướng ngại cái hiểu biết chơn chánh
và sanh ra phạm giới.
Hỏi:_ Ba món Tâm sở: Trạo cử, Tán loạn và
phóng dật khác nhau thế nào?
Đáp:_ Trạo cử là lao chao; dụ như con ngựa
đứng một chổ trong chuồng, nhưng đầu và
mình vẫn lắc qua lắc lại không yên._Tán
loạn là rối loạn; dụ như con ngựa chạy
lăng xăng trong chuồng._Phóng dật là buông
lung; dụ như con ngựa đã thoát ra khỏi
chuồng, tuôn vào lúa mạ của người.
Hỏi:_ Bốn món Tâm sở: Sân, phẫn, Hận và
Não, Hành tướng khác nhau thế nào?
Đáp:_ Sân là nổi nóng, dụ như lữa rơm.
Phẫn là giận, dụ như lữa củi. Hận là hờn;
dụ như lữa than. Não là buồn, dụ như tro
nóng.
Hỏi:_ Siêng năng làm việc quấy, có phải là
Tinh tấn Tâm sở không?
Đáp:_ Không phải. Siêng năng làm việc quấy
là phóng dật Tâm sở.
BÀI THỨ CHÍN
G. BẤT ĐỊNH TÂM SỞ (Có 4 món)
Bốn món Tâm sở này không nhất định thiện
hay ác, nên gọi là "Bất định".
1. Hối: ăn năn. Chỗ khác gọi là "Ố tác":
ghét việc làm đã qua; cũng là dị danh của
"Hối". Tánh của Tâm sở này, ăn năn việc
làm đã qua. Nghiệp dụng của nó làm chướng
ngại Định.
Aên năn có khi thiện mà cũng có lúc lại
ác. Như ăn năn: Vừa rồi mình sân si đánh
đập người thật bậy quá, như thế là thiện.
Aên năn: Vừa rồi sao mình không trộm lấy
đồ vật của người, như thế là ác.
2. Miên: Ngủ. Tánh của Tâm sở nàylàm cho
tâm mờ mịt, thân không tự tại. Nghiệp dụng
của nó làm chướng ngại quán tưởng. Ngủ
cũng có khi thiệm mà cũng có khi ác: Ngủ
phải thời là thiện, còn ngủ trong khi nghe
kinh hay niệm Phật là ác.
3. Tầm: Tìm cầu. Tâm sở này thiện ác không
nhứt định, chỉ tuỳ theo trường hợp. Tánh
của nó làm cho tâm đối với cảnh danh ngôn
của ý thức (ý ngôn cảnh) sanh khởi thô
động. Nghiệp dụng của nó là làm cho thân
tâm chẳng yên.
4. Tư: Chính chắn xét Tâm sở này cũng có
thiện và ác, tuỳ theo trường hợp. Tánh của
nó làm cho tâm đối với cảnh danh ngôn của
ý thức, sanh khởi tế nhị. Nghiệp dụng của
nó làm cho thân tâm được yên.
Tóm lại, tất cả chúng sanh hằng ngày tạo
nghiệp lành hay dữ, chịu quả báo khổ hay
vui, không vượt ra ngoài phạm vi của 8 món
Tam Vương và 51 món Tâm sở này.
***
III. SẮC PHÁP
(Có 11 món)
sắc pháp là thuộc về sắc (những cái thuộc
về sắc). Sắc có hai loại: 1. Hình sắc, như
dài, ngắn, vuông,tròn, ...2. Màu sắc, như
xanh, đỏ, trắng, vàng, ...
sắc có 11 món là 5 căn: Nhãn căn, Nhỉ căn,
Tỹ căn, Thiệt căn, Thân căn và 6 trần: Sắc
trần, Thinh trần, Hương trần, Vị trần, Xúc
trần, và pháp trần.
Sắc pháp là tướng phần ảnh tượng của Tâm
Vương và Tâm sở (nhị sở hiện ảnh cố).
1. Nhãn căn: Con mắt. Chữ
"Căn" có nghĩa là làm chỗ nương cho thức
và phát sanh ra thức. Năm căn, căn nào
cũng có hai thứ: 1. Tinh tế và ở bên
trong, gọi là "Thắng nghĩa căn", 2. Thô
phù, ở bên ngoài, gọi là "Phù trần căn".
Hình tướng của con mắt như trái nho.
Nghiệp dụng của nó chiếu soi các sắc.
2. Nhĩ căn: Lỗ tai. Hình tướng của tai như
lá sen non. Nghiệp dụng của nó hay nghe
các tiếng.
3. Ty căn: Lỗ mũi. Hình tướng của lỗ mũi
như hai ngón tay xuổi xuống. Nghiệp dụng
của nó hay ngửi các mùi thơm và hôi.
4. Thiệt căn: Cái lưỡi. Hình tướng của
lưỡi như trăng lưỡi liềm. Nghiệp dụng của
nó nếm các vị và nói năng kêu gọi.
5. Thân căn: Thân thể. Chữ "thân" có hai
nghĩa: Tích tụ các bộ phận và làm chỗ
nương cho các căn. Nghiệp dụng của nó là
duyên xúc trần. Như nặng, nhẹ, trơn, nhám,
...
6. Sắc trần: cảnh bị thấy của con mắt. Chữ
"trần" có nghĩa nhiễm ô và bụi bặm. Sắc
trần có 25 món: 1. Xanh, 2. Vàng, 3. Đỏ,
4. Trắng, 5. Dài, 6. Ngắn, 7. Vuông, 8.
Tròn, 9. To, 10. Nhỏ, 11. Cao, 12. Thấp,
13. Ngay, 14. Xiên, 15. Ánh sáng, 16.
Bóng, 17. Sáng, 18. Tối, 19. Khói, 20.
Bụi, 21. Mây, 22. Mù, 23. Cực lược sắc
(sắc rất nhỏ) và cực hánh sắc (sắc rất
xa), 24. Biểu sắc (sắc, có nêu ra được),
25. Sắc hư không.
7. Thinh trần: Tiếng, cảnh bị nghe của
tai. Có 12 loại tiếng: 1. Tiếng: cái tướng
bị nghe của tai (nói chung các tiếng), 2.
Tiếng vừa ý, 3. Tiếng không vừa ý, 4.
Tiếng bình thường (không ưa ghét), 5.
Tiếng loài hữu tình (tiếng nói), 6. Tiếng
loài vô tình (tiếng cây, ...), 7. Tiếng
thuộc cả hữu tình và vô tình (như tiếng
trống do tay người ta đánh), 8. Tiếng
thuộc về thế tục nói, 9. Tiếng thuộc về
của Thánh giả, 10. Tiếng của ngoại đạo nói
(do Biến kế sở chấp), 11. Tiếng nói chánh
(Thánh ngôn)(như thật có thấy, nghe, hay,
biết thì nói có thấy nghe, hay và biết;
không thấy nghe, hay, biết thì nói không
thấy, nghe, hay, biết, như thế gọi là 8
lời nói chánh), 12. Tiếng vang.
8. Hương trần: Mùi, cảnh bị ngửi của mũi.
Có 6 thứ mùi: 1. Mùi thơm, 2. Mùi hôi, 3.
Mùi không thơm hơi, 4. Mùi từ bản chất
sanh (cu sanh hương), 5. Mùi do chế tạo mà
có (hoà hiệp hương), 6. Mùi do sự biến đổi
mà sanh.
9. Vị trần:Vị, cảnh bị nếm của lưỡi. Có 12
thứ vị: 1. Vị đắng, 2. Vị chua, 3. Vị
ngọt, 4. Vị cay, 5. Vị mặn, 6. Vịlạt, 7.
Vị vừa ý, 8. Vị không vừa ý, 9. Vị bình
thường, 10. Vị từ bản chất sanh, 11. Vị do
hoà hiệp chế tạo mà có, 12. Vị do biến đổi
ma sanh.
10. Xúc trần: Xúc, cảnh bị biết của thân.
Xúc trần có 24 món: 1. Đất, 2. Nước, 3.
Gió, 4. Lữa, 5. Nhẹ, 6. Nặng, 7. Nhám, 8.
Trơn, 9. Hưởn, 10. Gấp, 11. Lạnh, 12.
Nóng, 13. Cứng, 14. Mềm, 15. Đói, 16.
Khát, 17. No, 18. Sức lực, 19. Yếu, 20.
Buồn, 21. Ngứa, 22. Dính, 23. Già, 24.
Bịnh, 25. Chết, 26. Ốm.
11. Pháp trần: Cái bóng dáng của năm trần
còn lưu lai trong ý thứic. Nghĩa là khi
mắt không còn thấy sắc, tai không còn nghe
tiếng, cho đến thân không còn biết xúc, mà
trong ý thức vẫn nhớ lại bóng dáng của 5
trần; cái bóng dáng đó lsà pháp trần.
Trong Duy thức gọi là "lạc tạ ảnh tử" (cái
bóng rớt lại). Đây là cảnh bị biết của ý
thức. Pháp trần có 5 loại:
1. Cực lược sắc: Sắc rất nhỏ như vi trần.
2. Cực hánh sắc: Sắc rất xa, như thấy tăm
tăm mù mù.
3. Định quả sắc: Những sắc tướng do tu
định hiện ra. Như các vị Bồ Tát, khi nhập
định hiện ra nước, lửa, thế giới, ...
4. Vô biểu sắc: Sắc không nêu bày ra được;
như khi thọ giới, ý thức lãnh thọ mà có,
nên cũng gọi là "thọ sở dẫn sắc" (sắc do
thọ giới dẫn sanh).
5. Biến kế sở chấp sắc: Sắc do ý thức vọng
tưởng phân biệt sanh, chẳng thật.
BÀI THỨ MƯỜI
IV. TÂM BẤT TƯƠNG ƯNG HÀNH PHÁP (Có 24
món)
Tâm bất tương ưng hành pháp, gọi tắt là
"Bất tương ưng hành". Chữ "Hành pháp" là
những pháp thuộc về "Hành uẩn". Hành uẩn
là một trong năm uẩn.
Chữ "Hành" là sanh diệt dời đổi; chữ "Uẩn"
là chứa nhóm. Hành uẩn có 2 loại:
1. Tương ưng hành uẩn, tức là các tâm sở
(51 món). Chữ "Tương ưng" là ưng thuận với
Tâm Vương.
2. Bất Tương ưng hành uẩn, tức là 24 món
"Bất tương ưng hành" sau đây; 24 món này
không tương ưng với tâm, chúng chỉ y ba
phần: Tâm Vương, tâm sở và sắc pháp mà giả
thành lập.(Tam, phần vị sai biệt cố).
1. Đắc: Được, trái với mất. Thí như "Tôi
được đồng xu", cố nhiên phải
có đồng xu là "sắc pháp",
và nhãn thức để thấy, ý thức để phân biệt
là tâm pháp, cùng với các tâm sở chung
khởilà tâm sở pháp; phải đủ cả ba phần như
thế, mới thành nghĩa "được".
2. Mạng căn: Thân mạng. Do nghiệp đời
trước kéo dẫn, làm cho thần thức thọ thân,
sống trong một thời gian hoặc lâu hay mau,
gọi là "mạng căn".
3. Chúng đồng phận:Cũng như chữ "đồng
loại". Các loại chúng sanh hoặc hữu tình
hay vô tình, loài nào đồng với loài nấy.
Như loài người đồng với người; loài vật
đồng với vật.
4. Di sanh tánh: Những loài sanh ra khác
với Thánh nhơn, tức là phàm phu;chỗ khác
gọi "Phi đắc": Chúng phàm phu không được
Thánh quả. Bởi thế nên gọi "Di sanh tánh"
hay "phi đắc" đều được cả.
5. Vô tưởng định: Định này diệt hết các
tâm vương và tâm sở của 6 thức trước. Song
đây chỉ gọi "Vô tưởng" là vì "tưởng" làm
chủ động vậy.
6. Diệt tận định: Định này không những
diệt hết các tâm vương và tâm sở của 6
thức trước, mà diệt luôn cả phần tạp nhiễm
của tâm vương tâm sở về thức thứ Bảy.
Vô tưởng định là định của phàm phu; còn
Diệt tận định là định của Thánh nhơn.
7. Vô tưởng báo: Người ở cõi Dục tu Vô
tưởng định, sau khi mạng chung, đặng báo
thân ở cõi trời Vô tưởng.
8. Danh thân: Tên hay danh từ. Có danh từ
đơn và danh từ kép.
9. Cú thân: Câu. Do ráp nhiều tiếng thành
câu; câu có ngắn và dài.
10. Văn thân: Chữ. Chữ là chỗ y chỉ của
danh từ và câu.
11. Sanh: Sanh ra. Nghĩa là từ hồi nào đến
giờ không có, nay mới có.
12. Trụ: Ở. Những vật đã sanh ra rồi, còn
lưu lại trong một thời gian , chưa diệt.
13. Lão: Già, suy yếu gần chết.
14. Vô thường: Không thường, biệt danh của
chết.
15. Lưu chuyển: Xoay vần, nhơn quả trước
sau nối nhau không dứt.
16. Định vị: Nhơn quả lành, dữ kkhác nhau,
không lộn lạo.
17. Tương ưng: Ưng thuận với nhau. Như
nhơn nào quả nấy, cân xứng với nhau.
(Hỏi: Cả 24 món, đều gọi là "Bất tương ưng
hành" tại sao món thứ 17 này lại gọi là
"Tương ưng"?_Đáp: Nói "Bất tương ưng" là
để phân biệt 24 món này, không phải là
tương ưng tâm sở.còn về món thứ 17 này mà
gọi là "Tương ưng", là do Sắc, Tâm và Tâm
sở hoà hợp mà nói, nên không đồng với
"Tương ưng tâm sở" trước).
18. Thế tốc:Các pháp hữu vi xoay vần mau
lẹ như chong chóng.
19. Thứ đệ:Thứ lớp, trật tự không có lộn
lạo.
20. Thời: Thời gian: quá khứ, hiện tại và
vị lai.
21. Phương: Không gian: Đông, tây, Nam,
Bắc, tứ duy, thượng hạ.
22. Số: Số lượng. Như: một, hai, ba, bốn
cho đến trăm, ngàn ..
23. Hoà hợp tánh: Các duyên hoà hợp không
có trái nhau.
24. Bất hoà hợp tánh: Những pháp chống
trái, không hoà hợp với nhau.
Nói tóm lại, từ trước đến đây đã kể 94
pháp: 8 món Tâm vương, 51 món Tâm sở, 11
món Sắc pháp, 24 món Bất tương ưng hành,
đều thuộc về pháp hữu vi có sanh diệt biến
đổi. Sáu pháp sau đây thuộc về vô vi.
Chữ "hữu vi" là những gì có tạo tác, có
sanh diệt, không thường còn. "Vô vi" là
những gì không tạo tác, không sanh diệt,
không tăng giảm, vắng lặng thường còn.
***
V. VÔ VI PHÁP
(CÓ 6 MÓN)
Pháp Vô vi không sanh diệt, không biến
đổi, không phải như các pháp hữu vi là Tâm
vương, Tâm sở, Sắc pháp, Bất tương ưng
hành có sanh diệt biến đổi. Do các pháp
hữu vi (94 món) diệt rồi, thì pháp vô vi
mới hiện bày (Tứ, sở hiển thị cố).
Thật ra, vô vi không phải có 6 pháp, song
vì theo từng khía cạnh của nó để giải
thích, nên đặt ra 6 tên.
1. Hư không vô vi: Chơn như hay Pháp tánh,
không thể dùng ý thức suy nghĩ hay lời nói
luận bàn được. Nó phi sắc, phi tâm, không
sanh diệt, không cấu tịnh, không tăng giảm
nên gọi là "Vô vi".
Bởi nó không ngã, không pháp, rời các cấu
nhiễm, rỗng rang như hư không, nên gọi là
"Hư không vô vi".Đây là theo thí dụ mà đặt
tên.
2. Trạch diệt vô vi:Do dùng trí huệ Vô
lậu, lựa chọn diệt trừ hết các nhiễm ô,
nên chơn như vô vi mới hiện. Vì thế nên
gọi là "Trạch diệt vô vi".
3. phi trạch diệt vô vi:Vô vi không cần
lựa chọn diệt trừ các phiền não. Có hai
nghĩa:
a) Tánh chơn như vốn thanh tịnh, không
phải do lựa chọn diệt trừ các phiền não
nhiễm ô mới có, nên gọi là "Phi trạch
diệt".
b) Các pháp hữu vi tạp nhiễm, vì thiếu
duyên không sanh khởi, nên pháp vô vi được
hiện. Bởi thế nên gọi "Phi trạch diệt".
4. Bất động diệt vô vi: Đệ tứ thiền đã lìa
được ba định dưới, ra khỏi tam tai (đao
binh tai, hỏa tai, thuỷ tai) không còn bị
mừng, giận, thương, ghét ...làm chao động
nơi tâm, nên gọi là "Bất động diệt".
5. Thọ tưởng diệt vô vi: Khi được Diệt tận
định, diệt trừ hết "thọ" và "tưởng" tâm sở
nên gọi là "Thọ tưởng diệt vô vi".
6. Chơn như vô vi: Không phải Vọng, gọi là
Chơn (không biến kế sở chấp); không phải
điên đảo gọi là Như (không y tha khởi),
tức là thật tánh của các pháp (Viên thành
thật).
Trong luận Đại thừa trăm pháp này, ngoại
nhơn hỏi hai câu:
Tất cả pháp là gì?
Thế nào là không thật (vô ngã)?
Từ trước đến đây, Luận chủ lược nói 100
pháp, để trả lời câu hỏi thứ nhất rồi, sau
đây trả lời về câu hỏi thứ hai.
PHẦN THỨ HAI
NÓI "KHÔNG THẬT" (VÔ NGÃ)
Chánh văn
Nói "không thật" (vô ngã), tóm có 2 loại:
Nhơn (người ) không thật.
Pháp (vật) không thật.
Người đời chấp tất cả các pháp thật có,
tức là chấp Ngã (Thật). Chấp Thật (Ngã) có
hai:
1. Nhơn (người) thật.
2. Pháp (vật) thật.
Chấp thân này thật có, gọi là Nhơn thật.
Chấp núi sông tất cả các cảnh vật bên
ngòai thật có, gọi là Pháp thật.
Do chấp thật có (ngã) nên sanh ra tham,
sân, si rồi tạo ra các nghiệp, sanh tử
luân hồi trong lục đạo. Bởi thế nên Phật
nói:
"Tất cả Pháp không thật".
Nói "Tất cả pháp" tức là bao trùm cả loài
hữu tình và vô tình. Loài hữu tình không
thật có là "Nhơn không thật". Loài vô tình
như hoàn cảnh, sự vật không thật có, là
"Pháp không thật".
KẾT LUẬN
Từ trước đến đây, lược nói 100 pháp thì đã
bao trùm Nhơn và Pháp. Phàm phu chấp cả
Nhơn và Pháp đều thật có. Tiểu thừa chỉ
chấp Pháp là thật có.
Trong luận này nói: 8 món Tâm vương là tự
thể của thức và hơn tất cả (nhứt thế tối
thắng cố). 51 món tâm sở là phần sở hữu và
tương ưng của thức (dữ thử tương ưng cố).
11 món sắc pháp là phần hình bóng, do Tâm
vương và Tâm sở hiện ra (nhị sở hiện ảnh
cố). 24 món Bất tương ưng hành là do ba
phần: tâm vương, tâm sở và sắc pháp, phân
chia ngôi thứ sai khác mà giả lập (tam,
phận vị sai biệt cố). 6 món vô vi là do 4
món hữu vi trên (tâm vương, tâm sở, sắc
pháp và bất tương ưng hành) diệt hết mà
hiện bày ra, tức là thật tánh của thức
(tứ, sở hiển thị cố).
Bởi thế nên biết: Người đời chấp "Nhơn
thật có" và "Pháp thật có" đều không ngoài
thức. Do đó mà đức Thế Tôn nói:
"Tất cả Pháp không không thật" (Vô ngã).
Và "Muôn Pháp Duy thức".
Viết xong lại Phật Học Đường Nam Việt
Rằm tháng 6 năm Kỷ Hợi (1959) |
|