|
Phải giữ
cho bộ não được ổn định. Không thấy mình hay,
mình dở, mình vinh, mình nhục, mình được, mình
thua, v..v.. Khi nóng thì biết là nóng, lạnh
thì biết là lạnh, người ta nói xấu thì biết
người ta nói xấu, người ta nói tốt thì biết
người ta nói tốt, người ta cười thì biết họ
cười, người ta khóc thì biết người ta khóc…
Tóm lại là mình không định nghĩa và khẳng định
về chính mình là tôi là thế này, thế kia… thì
cái đầu ở trạng thái hoàn toàn bình thường.
Nếu giữ được như vậy thì chúng ta sẽ sống
trong một thế giới, một năng lực nhiệm màu
không thể nghĩ bàn được. Chúng ta trở thành
một vật thể mầu nhiệm không thể nghĩ bàn được.
Duy Tuệ
(Trích bài "Vai trò của con tim")
--
Giải mã những bí mật
của thiền định
Không cứ phải vào rừng kiếm một guru (lạt-ma,
thiền sư v.v) râu dài mới học được thiền. Tại
Mỹ, giờ đây, nhiều khi muốn tránh ngồi thiền
cũng khó. Nó là môn được yêu cầu tại nhiều
trường học, bệnh viện, công ty luật, các tổ
chức chính phủ và cả trong nhà tù...
Trong các trường bao gồm cả đại học, trung học
và tiểu học ở Fairfield, Iowa, học sinh ngồi
thiền tập thể 2 lần mỗi ngày. Ngay các khách
sạn khu Catskills ở New York đã trở thành các
trung tâm thiền nhanh đến nỗi được gọi là
Buddhist Belt (Vành đai Phật giáo).
Trào lưu thiền định khởi phát có nguyên do từ
cả văn hóa lẫn y học. Ngày càng có nhiều thầy
thuốc ở Mỹ đề nghị bệnh nhân ngồi thiền như
một biện pháp phòng và điều trị các bệnh mạn
tính như tim, AIDS, ung thư, vô sinh và đặc
biệt là các bệnh rối loạn thần kinh, trầm cảm.
"30 năm nghiên cứu đã cho chúng tôi thấy thiền
định có tác dụng tuyệt vời trong việc giảm
stress", Daniel Goleman cho biết. Ông là tác
giả của Destructive Emotions - cuốn sách miêu
tả một cuộc đối thoại giữa Đạt Lai Lạt Ma và
một nhóm các nhà thần kinh học. "Nó rèn luyện
đầu óc và khiến bộ não linh động". Các kỹ
thuật quét ảnh não tân tiến cho thấy thiền có
thể "rửa" lại não, giải tỏa các khu vực căng
thẳng vì máu ở trong tình trạng ách tắc...
Bộ não, như cơ thể, có thể trải qua những thay
đổi cực nhỏ trong thiền định sâu. Năm 1967,
giáo sư Herbert Benson ở đại học Y Harvard đã
tiến hành nghiên cứu trên 36 người thiền định
và thấy rằng khi ngồi thiền họ dùng lượng oxy
ít hơn bình thường 17%, giảm 3 nhịp tim/phút
và tăng sóng theta ở não - hệt như trạng thái
trước ngủ - trong khi toàn não vẫn tỉnh táo.
Những năm 70, Benson còn chứng minh rằng
ngườingồi thiền có thể đạt được trạng thái
tỉnh táo hơn và hạnh phúc hơn. "Tất cả những
gì tôi làm là dùng logic sinh vật học để giải
thích thứ kỹ thuật được con người đã dùng hàng
nghìn năm nay", Benson nói.
7 năm sau, tiến sĩ tâm thần học Gregg Jacobs,
Đại học Harvard, qua ghi sóng não đã phát hiện
ra rằng những người thiền có thể sản ra rất
nhiều sóng theta và có thể phong tỏa phần não
trước vốn nhận và xử lý cảm giác, ngoài ra họ
cũng giảm thiểu hoạt động ở phần thùy đỉnh não,
nơi phụ trách các cảm giác về không gian -
thời gian. Bằng cách "tắt" thùy đỉnh não,
người ta có thể mất cảm giác về giới hạn và
thấy vũ trụ "trở thành một".
Công nghệ dựng ảnh não ra đời càng thúc đẩy
thêm các nghiên cứu. Năm 1997, nhà thần kinh
học Andrew Newberg, thuộc Đại học tổng hợp
Pennsylvania, đã dùng tia phóng xạ để xem áp
lực máu trong não của một nhóm các thiền sư và
phát hiện rằng khi họ nhập định, não của họ
không "tắt" mà chỉ phong tỏa các thông tin lên
thùy đỉnh não. Nghiên cứu thiền định đã có
bước đột khởi vào tháng 3/2000 khi Đạt Lai Lạt
Ma gặp gỡ các nhà thần kinh học ở Ấn Độ và yêu
cầu sử dụng các kỹ thuật dựng ảnh não hiện đại
nhất để quan sát các đại sư thiền định (gắn
đầy các điện cực). Các kết quả thu được sẽ
được thảo luận vào tháng 9 tới.
Người Mỹ đang say mê thử các kỹ thuật thiền
như Vipassana (tập thở), thiền hành (đi bộ
chậm trong tỉnh giác), TM (thần thiền, bằng
cách nhắc đi nhắc lại những thần chú tiếng
Phạn), Dzogchen (tỉnh giác) và thậm chí cả
thiền vũ (nhảy theo nhạc). Roger Walsh, giáo
sư triết học, tâm thần học, Đại học tổng hợp
California, nói: "Chỉ những năm gần đây tâm
thần học phương Tây mới nhận ra hội chứng
nhiễu loạn chú ý (không tập trung được). Nhưng
các thiền giả phương Đông đã biết từ hàng
nghìn năm trước rằng con người luôn bị nhiễu
loạn chú ý mà không ý thức được".
Hơn 10 năm trước, tiến sĩ Dean Ornish đã khẳng
định thiền cùng với yoga và ăn kiêng có tác
dụng giảm thiểu sự tích tụ các mảng bám ở động
mạch vành. Tháng 4/2003, tại đại hội của Hội
Tiết niệu Mỹ, ông đã công bố nghiên cứu rằng
thiền định có thể làm chậm lại sự phát triển
của ung thư tuyến tiền liệt. Tại Đại học
Cambridge, John Teasdale chứng minh rằng thiền
giúp bệnh nhân trầm cảm rất hiệu quả và giảm
tới 1/2 khả năng tái phát bệnh. Ngoài ra, Jon
Kabat-Zin, người thành lập Trung tâm trị liệu
Stress năm 1979, đã giúp đỡ hơn 14.000 người
vượt qua các bệnh đau đớn không cần dùng thuốc
bằng cách tập trung thiền định. "Thiền cực kỳ
hữu dụng với những bệnh nhân ung thư, AIDS hay
các bệnh đau mạn tính", Jon nói. Cũng theo
Jon, kỹ thuật thiền định càng hoàn hảo, người
ta càng có nhiều kháng thể và hệ thống miễn
dịch của cơ thể càng lớn mạnh.
Ngoài ra, nhiều nghiên cứu mới cũng cho thấy
thiền đôi khi có thể thay thế được Viagra vì
nó mang lại rất nhiều sinh lực. Nữ nghệ sĩ
Heather Graham bắt đầu ngồi thiền từ 12 năm
trước dưới sự hướng dẫn của David Lynch, đệ tử
của Maharishi nổi tiếng. "Thiền định đã khiến
đời tôi đổi khác", chị nói. "Vào cuối ngày,
những chuyện eo xèo trên phim trường chẳng còn
ý nghĩa gì với tôi nữa". Rất nhiều người Mỹ
nổi tiếng đã ngồi thiền. Như Goldie Hawn, với
thiền phòng đầy ảnh Đạt Lai Lạt Ma và Mẹ
Teresa; hay Bill Ford, ông chủ hãng Ford
Motors; cả Hillary Clinton cũng nói đến ngồi
thiền; rồi vợ chồng nhà Al Gore. "Cả hai chúng
tôi đều tin tưởng vào cầu nguyện và đặc biệt
là thiền định", Al Gore, cựu phó tổng thống Mỹ,
nói.Theo Time
|