| |
A- Dẫn nhập
Mật tông là một trong những tông phái của
Phật giáo, xuất phát từ Ấn Độ vào khoảng thế
kỷ thứ VII, rồi sau đó được truyền bá sang
Trung Hoa, Nhật Bản... và đặc biệt là phát
triển mạnh mẽ ở Tây Tạng. Ở Tây Tạng, Mật
tông còn được gọi là Kim cương thừa.
Kim cương thừa được coi như là con đường
thẳng dốc đứng để đi lên đỉnh núi; điều đó
vừa nói lên tính siêu việt, đồng thời cũng
nói lên sự khó khăn và nguy hiểm của con
đường, lối tu Mật giáo. Trong các kinh điển
Đại thừa, có nhiều bộ kinh lồng vào những
thần chú, Đà la ni như là để khai triển ý
nghĩa sâu thẳm của tâm linh quả chứng hay ý
lực chư Phật, Bồ tát; có lẽ đây là cơ sở để
Mật giáo phát triển về sau.
Lịch sử phát triển Mật tông đôi khi đã có
những xu hướng lệch lạc ra ngoài quỹ đạo
hướng đến giải thoát theo lý tưởng của đạo
Phật. Bởi có sự biểu hiện thiên về phù phép,
tà thuật... làm cho uy tín của Mật giáo bị
tổn thương nặng nề. Ngày nay, với sự nỗ lực
truyền bá Mật giáo hay Kim cương thừa của
các bậc đại sư Tây Tạng đã làm sáng tỏ ý
nghĩa đích thực của tông phái này. Kim cương
thừa là một con đường giải thoát đặc biệt
của Phật giáo Phát triển.
B- Nội dung
I. Lịch sử Mật tông
Mật giáo được thành lập vào thế kỷ thứ VII ở
vùng Nam Ấn với sự xuất hiện của bộ kinh Đại
Nhật (Mahàvairocana sùtra). Đây là bộ kinh
căn bản của Mật tông. Ở Ấn Độ, giai đoạn mà
Mật giáo phát triển mạnh mẽ nhất là dưới
thời các vương triều Pàla (750-1150) ở
Bengale. Nhà vua Dharmapala (thế kỷ VII),
người đã nhiệt thành ủng hộ xây dựng tu viện
Vikramasilà, làm trung tâm truyền bá Mật
giáo.
Ngài Long Thọ (Nagarjuna, 600-650) được coi
là vị Tổ sư của Mật giáo. Ngài thuộc dòng Bà
la môn, thọ giới tại Nalanda, sau đó đến
Vương Xá tu 12 năm đắc thánh quả Đại thủ ấn
tất địa (Mahamudràsiddhi). Theo truyền
thuyết, có lần Ngài gặp đứa trẻ chăn cừu
giúp Ngài qua sông; để đền ơn, Ngài thi
triển thần thông giúp đứa trẻ làm vua. Tranh
tượng vẽ về Ngài có hình rắn phủ quanh đầu.
Phật giáo Tây Tạng cho rằng Long Thọ (thế kỷ
VII) và Long Thọ luận sư (thế kỷ II) là một,
tức Long Thọ đầu thai trở lại. Ngài có đệ tử
truyền pháp là Long Trí.
Long Trí (Nagabodhi) là truyền nhân của ngài
Long Thọ. Ngài dòng dõi Bà la môn, nhưng lại
thường đi ăn trộm, khi ngài Long Thọ đang ở
tịnh xá Suvarna, Long Trí đến rình xem thấy
ngài Long Thọ đang ăn bằng một cái bát vàng,
bèn nảy ý trộm lấy cái bát. Ngài Long Thọ
biết tâm ý của Long Trí, liền ném cái bát
cho Ngài. Ngài kinh ngạc và cảm phục bèn xin
đi theo tu học. Ngài Long Thọ làm phép quán
đỉnh cho Ngài nhập môn. Sau 12 năm tu luyện,
Ngài chứng ngộ thánh quả.
Kim Cương Trí (Vajrabodhi, 663-723) người
Nam Ấn, tu học ở Nalanda. Năm 15 tuổi qua
Tây Ấn học về Nhân Minh luận với ngài Pháp
Xứng, sau đó tham học về Luật, Trung Quán
luận, Du Già luận, Duy Thức luận..., sau
cùng tu học và nghiên cứu Kim Cương Đỉnh (Vajra-Sekhàra)
và các kinh Mật giáo với ngài Long Trí ở Nam
Ấn 7 năm. Năm 720, Ngài qua Trung Hoa, đến
Lạc Dương truyền bá Mật giáo. Ngài được coi
như vị Tổ đầu tiên của Mật tông Trung Hoa
đồng thời với ngài Thiện Vô Úy.
Bất Không Kim Cương (Amoghavajra, 750-774)
là đệ tử xuất sắc của ngài Kim Cương Trí.
Ngài người Bắc Ấn, thọ Sa di năm 15 tuổi,
theo thầy đến Lạc Dương thọ Tỳ kheo giới năm
20 tuổi. Tu học 12 năm thông suốt Mật giáo.
Sau khi thầy mất, Ngài cùng với các đệ tử
qua Tích Lan nghiên cứu giáo lý Kim cương
đỉnh du già và Đại Nhật thai tạng. Trở về
Trường An với số kinh điển đồ sộ, Ngài khởi
công dịch thuật. Ngài Bất Không Kim Cương là
Quốc sư của ba triều vua Huyền Tông, Túc
Tông và Đại Tông.
Thiện Vô Úy (Subhakarasimha, 637-735) là đệ
tử của ngài Long Trí, tức là huynh đệ với
ngài Kim Cương Trí, từng là vua xứ Orissa,
tu học ở tu viện Nalanda, thâm hiểu Du Già,
chân ngôn và ấn quyết. Ngài đến Trung Hoa
năm 716, đời vua Huyền Tông, trước ngài Kim
Cương Trí 4 năm và cũng được coi là vị Tổ sư
của Mật tông Trung Hoa, được vua Huyền Tông
trọng đãi. Ngài dịch nhiều kinh quan trọng
của Mật tông như Đại Nhật kinh, Tô Tất Địa
Yết La kinh... Đệ tử của Ngài có các ngài
Nhất Hạnh, Huyền Siêu, Minh Trí, Nghĩa Lâm...
Ngài Nhất Hạnh (638-727) quê quán ở Thuận
Đức, tỉnh Nhật Lệ, Trung Hoa, là người tinh
thông Tam luận, Thiền học, Thiên Thai...,
đặc biệt tinh thông cả thiên văn học. Khi
ngài Thiện Vô Úy đến Trung Hoa, Ngài được
truyền pháp "Thai tạng giới" của Mật giáo.
Ngài cùng với thầy dịch kinh Đại Nhật và
trước tác bản sớ Đại Nhật kinh. Sau đó, Ngài
cũng học với Kim Cương Trí, được truyền cho
nghi quỹ của Kim Cương giới. Ngài được lãnh
hội cả hai phái của Mật giáo Ấn Độ.
Mật giáo Ấn Độ được khởi xướng và truyền bá
do các cao tăng như Long Thọ, Long Trí, Kim
Cương Trí, Thiện Vô Úy. Trên mặt giáo nghĩa
và hành trì thì chia làm hai phái Chân ngôn
thừa (Mantrayàna) và Kim cương thừa (Vajrayàna),
dựa theo tư tưởng của hai bộ kinh Đại Nhật
và Kim Cương Đỉnh. Qua Trung Hoa, cả hai
dòng hợp lưu ở Nhất Hạnh, đường lối Mật tông
Trung Hoa tổng hợp của lý luận và thực tiễn.
Mật tông phát triển mạnh và đã tạo nhiều ảnh
hưởng đến nền văn hóa nghệ thuật Trung Hoa,
được các triều vua ủng hộ nên rất hưng thịnh.
Công đức truyền bá Mật giáo Trung Hoa do các
ngài Thiện Vô Úy, Kim Cương Trí, Bất Không,
Nhất Hạnh, Vô Hành...
Mật giáo được truyền vào Tây Tạng thế kỷ
VIII do ngài Liên Hoa Sinh (Padmasambhava),
người Ấn Độ, sống cùng thời với vua Tây Tạng
Ngật Lật Song Đề Tán (755-797). Ngài đến Tây
Tạng, đem Mật giáo truyền bá và sáng lập
tông phái Ninh Mã (Nuyingmapa), một trong
bốn phái lớn của Mật giáo Tây Tạng. Ngài
được coi là Đức Phật Thích Ca tái thế, có
tài chinh phục ma quỷ, thiên
tai và các giáo phái. Ngài xây dựng tu viện
Tang Duyên (Samye) năm 775 và trước tác
nhiều tác phẩm quan trọng như bộ Tử thư...
Ngài là Tổ sư của Phật giáo Tây Tạng.
Sự truyền thừa của Mật tông Tây Tạng không
rõ nét và rất phức tạp; những bậc đại sư nổi
bật đóng góp làm hưng thịnh và sáng rỡ Phật
giáo Tây Tạng sau Liên Hoa Sinh có Atisa (A
Đề Sa, 982-1054), thế kỷ X, Ngài người Đông
Ấn, được mời sang Tây Tạng và sống ở đó 12
năm, đóng góp rất nhiều cho Phật giáo Tây
Tạng nói chung và Mật giáo Tây Tạng nói
riêng. Ngài sáng lập ra trường phái Kadampa
(Cam Đan) ảnh hưởng lớn Phật giáo Tây Tạng,
trước tác Bồ đề đạo đăng luận, đặc biệt công
trình sắp xếp hệ thống kinh sách Phật giáo
Tây Tạng, lấy triết học Tánh không và Duy
thức làm tư tưởng cho Phật giáo Tây Tạng,
điều đó ảnh hưởng đến các hệ tư tưởng Mật
giáo Tây Tạng rất lớn.
Người cải cách nổi tiếng của Mật giáo Tây
Tạng là Tông Khách Ba (1357-1419), Ngài sinh
tại Amdo, thuộc vùng Đông bắc Tây Tạng. Xuất
gia khi còn nhỏ, tham học với nhiều vị đại
sư khác nhau, tư tưởng của Ngài ảnh hưởng
của Atisa. Ngài sáng lập tông phái Gelugpa (Hoàng
Mạo phái), một tông phái quan trọng nhất của
Tây Tạng hiện nay. Ngài chủ trương xét lại
toàn bộ kinh điển và tổng kết thành hai tác
phẩm chính: Lamrin Chenmo (Bồ đề đạo thứ đệ)
tiêu biểu cho đường lối tu tập Hiển giáo,
Ngagrim Chenmo (Chân ngôn đạo thứ đệ) tiêu
biểu cho đường lối tu tập của Mật giáo. Phật
giáo Tây Tạng được chấn chỉnh và phát huy
rực rỡ nhờ Tông Khách Ba. Trước khi mất,
Ngài phó chúc cho hai đệ tử là Dalai Blama
và Panchen Blama, tức Đạt lai Lạt ma và Ban
thiền Lạt ma; theo truyền thuyết thì hai vị
này chuyển sinh để tiếp tục cai trị Tây Tạng,
được dân chúng coi là hai vị Phật sống. Mật
tông được Phật giáo Tây Tạng bảo tồn và phát
triển, còn ở các nơi khác không phát triển
mấy.
II. Giáo nghĩa Mật tông
1- Mandala
Xuất phát từ tư tưởng của hai bộ kinh Đại
Nhật và Kim Cương Đỉnh, Mật giáo thiết lập
hai Mandala: Thai tạng giới Mandala và Kim
cương giới Mandala.
Mandala, Hán dịch là luân viên cụ túc, nghĩa
là vòng tròn đầy đủ. Đây là biểu tượng của
vũ trụ và năng lực trong vũ trụ được trình
bày bằng các hình vẽ. Mandala, về mặt triết
lý, là cơ sở hợp nhất thế giới hiện tượng và
thế giới bản thể, là đối tượng của thiền
quán. Trong ý nghĩa thực tiễn thì Mandala là
đàn tràng bằng đất để hành giả bày biện các
lễ vật hay pháp khí phục vụ cho nghi thức
hành lễ, cầu nguyện, tu luyện...
Thai tạng giới Mandala (Garbhadhàtu mandala)
là yếu tố thụ động tâm linh, cũng có nghĩa
chỉ cho vũ trụ về mặt tĩnh, mặt lý tánh. Tác
dụng lý tánh như thai mẹ chứa đựng đứa con,
từ lý tánh thai tạng mà xuất sinh mọi công
đức.
Kim cương giới Mandala (Vajradhatu mandala)
là yếu tố tác động, biểu hiện cho trí tuệ
viên mãn, còn gọi là trí thủy giác. Kim
cương giới là trí tuệ nội chứng của Phật. Bí
tạng ký nói: "Thai tạng là lý, Kim cương là
trí".
Như vậy, Thai tạng giới biểu hiện cho bản
thể Phật tính của mọi chúng sanh và Kim
cương giới biểu tượng cho trí tuệ viên mãn.
Từ Thai tạng giới mà xuất sinh Kim cương
giới theo tiến trình nhân quả. Sự hợp nhất
Kim cương giới và Thai tạng giới là sự chứng
ngộ tối thượng.
Đức Phật Đại Nhật (Tỳ Lô Xá Na) là biểu
tượng hợp nhất tối thượng, vũ trụ là sự hợp
nhất viên mãn. Vì vậy, Đức Đại Nhật chính là
vũ trụ thân. Mật tông dựa trên cơ sở ấy cho
rằng vũ trụ thân là pháp thân và pháp thân
biểu hiện trong mọi hiện hữu, sở dĩ chúng ta
không nhận thấy được vì tâm thức mê mờ,
chúng ta chỉ thấy thế giới là bất an và khổ
đau vì thiếu trí tuệ Kim cương; trí tuệ Kim
cương có công năng là phá tan mọi chướng
ngại pháp. Con đường trở về hợp nhất với vũ
trụ thân, nói cách khác, muốn đi vào quỹ đạo
của pháp thân phải có những tác pháp thiêng
liêng, thể hiện sự gia trì giúp ta thể nhập
một cách sâu xa và phổ quát của pháp giới
tính. Lý thuyết này có phần tương tự với lý
thuyết Bất tư nghì giải thoát trong kinh Duy
Ma Cật.
Mạn đà la có nhiều loại, tựu trung có 4:
a) Đại Mạn đà la (Maha mandala): vòng tròn
hội tụ các Đức Phật và Bồ tát, trình bày
bằng hình vẽ hoặc điêu khắc. Mạn đà la này
biểu tượng cho tự thân của Phật và mối quan
hệ giữa tự thân Phật với toàn thể vũ trụ nên
gọi là Đại.
b) Tam muội gia Mạn đà là (Samaya mandala):
vòng tròn hội chúng với những pháp khí trong
tay tùy theo bản nguyện của mỗi vị. Samaya
dịch là bổn thệ, tức là xu hướng và khả năng
hóa hiện độ sanh của mỗi vị Phật, Bồ tát.
c) Pháp Mạn đà la (Dharma mandala): là Mạn
đà la của văn tự lý giải chân lý. Tất cả
những lời Phật dạy, những chân ngôn của Phật
và Bồ tát đều bao hàm trong đó.
d) Yết ma Mạn đà la (Karma mandala): là Mạn
đà la bằng điêu khắc chạm trổ biểu hiện các
động tác, các hành trạng độ sanh của Phật và
Bồ tát.
Tóm lại, Đại mandala là tổng thể pháp giới,
là tự thân của Phật; pháp môn mà chư Phật,
Bồ tát thuyết gọi là Pháp mandala; vũ khí mà
chư tôn cầm trong tay là Tam muội gia
mandala và những hình ảnh của chư tôn gọi là
Yết ma mandala. Bốn mandala này biểu tượng
cho năng lực thiêng liêng của Tam mật: thân
mật, khẩu mật và ý mật.
Trên đây là 4 mandala của chư Phật và Bồ tát;
ngoài ra, tất cả muôn loài, mọi hiện tượng
đều có 4 mandala của chúng, đại khái sắc
tướng của chúng gọi là Đại mandala, đặc tính
- khả năng riêng của chúng là Tam muội
mandala, danh từ để gọi chúng là Pháp
mandala, hành vi của chúng là Yết ma mandala.
Điều cần chú ý là 4 mạn đà la không độc lập,
chúng có mối liên hệ duyên sinh và mặc dù
Phật, Bồ tát có mạn đà la riêng nhưng không
tách rời mọi mạn đà la của pháp giới. Vì vậy,
Phật và chúng sinh là một, cùng chung thể
tánh là sáu đại: Địa, Thủy, Hỏa, Phong,
Không, Thức. Sự khác nhau giữa Phật và chúng
sanh ở chỗ Phật thì tỉnh thức mà chúng sanh
thì mê muội.
2- Mantra
Mantra là một số âm chứa đựng sức mạnh của
vũ trụ hay biểu hiện khía cạnh nào đó của
Phật. Mantra chính là thần chú, được đọc lặp
đi lặp lại nhiều lần trong các buổi tu tập
hành trì. Định nghĩa về thần chú, Lama
Govinda nói: "Chữ "thần" là tinh thần, tức
năng lực suy nghiệm; chữ "chú" là lời, là
tiếng dùng làm công cụ biểu diễn. Như vậy, "thần
chú" là công cụ để suy nghiệm, là hiện tướng
dẫn khởi một ảnh tượng tinh thần. Thần chú
vang lên kêu gọi nội
dung của nó nơi thực tại trước mắt một cách
trực tiếp. Thần chú là năng lực chứ không
phải đơn thuần là ý kiến mà tâm trí có thể
tránh trớ hay cãi lại. Thần chú phát lồ, tự
thị hiện như thế, như vậy đó. Chính ở nơi
đây chứ không phải bất cứ nơi đâu, lời nói
là hành động mà sự thực hiện thì trực tiếp
và tức khắc" (Cơ sở Mật giáo, Trần Ngọc Sinh
dịch, tr.14).
Thần chú còn gọi là đà la ni (Dhàranì), Hán
dịch là tổng trì, tức bao gồm tất cả, đó là
những thần chú mang sức mạnh siêu nhiên,
thường thì đà la ni dài hơn thần chú
(mantra). Đà la ni là biểu hiện khía cạnh
chứng đắc của Phật hay Bồ tát được thấy
trong thiền định, biểu tượng hay ký hiệu hóa
hình ảnh, nội dung chứng đắc ấy, được lưu
trữ và dễ dàng hiện hành khi gọi chúng trở
lại. Chức năng đà la ni không khác với thần
chú. Mặt khác, tác dụng của thần chú hay đà
la ni được coi như là phương tiện để đạt
được thiền định.
Một vấn đề cần nói rõ là hình thức của thần
chú hay cách đọc thần chú không phải làm cho
ta thoát khỏi khổ đau hay những nỗi bất hạnh
hoặc tiêu trừ được nghiệp chướng; mà chính
là nhờ tâm trong sạch và thành thực mới cứu
vớt được chúng ta, như Đại sư Milarepa nói:
"Khi chư vị tự hỏi ác nghiệp có được tiêu
trừ hay không, chư vị nên biết rằng: nó chỉ
tiêu trừ bằng sự ước mong của thiện tâm" (Sđd).
Sự hành trì và đọc tụng thần chú là một
trong ba khía cạnh thân mật, khẩu mật và ý
mật. Đọc thần chú là khẩu mật. Thần chú
thường được nhiều người Phật tử đọc nhất,
tiêu biểu là thần chú "OM MANI PAD - MEHUM"
được coi là của ngài Quán Thế Âm. Thần chú
không phải là một công thức chết, cũng không
phải là những sóng âm thanh tác động vào thế
giới siêu hình để kêu gọi năng lực trong vũ
trụ. Thần chú là một công cụ để biểu diễn
tinh thần, thái độ tâm lý, tri thức, ý chí
và thành thực mới là những yếu tố quan trọng
để biến thần chú thành năng lực hay mời gọi
các năng lực siêu nghiệm khác. Hơn nữa, thần
chú chỉ có thần lực với những ai đã trải qua
kinh nghiệm do thụ pháp và hành trí dưới sự
hướng dẫn của một đạo sư (Guru).
Tóm lại, thần chú (mantra) là một phương
tiện trong những phương tiện mà Mật tông
thực hành để thanh lọc tâm linh và đạt được
thiền định, sau cùng là hợp nhất và đồng hóa
với vạn hữu. Thần chú được coi là "mật" vì
nó chứng tỏ mối liên hệ mật thiết bên trong
của sự vật hiện tượng, nhất là sự nối kết
giữa vật chất và tinh thần.
3) Tam mật tương ứng
Như đã nói, Tam mật là thân mật, khẩu mật và
ý mật. Theo Mật tông, để đạt được khả năng
điều động năng lượng vũ trụ hay năng lượng
tâm linh thì phải thực hành nghi thức đúng
phép gồm cả ba lãnh vực của thân, khẩu, ý.
Thân thể tác động qua điệu bộ, nhất là của
hai bàn tay, được diễn theo lời thần chú sẽ
tạo nên thái độ tâm linh phù hợp theo một
điểm. Miệng đọc các mantra (thần chú), âm
thanh biểu tượng, là hiện tượng thiêng liêng
làm cho rung động nội tâm của hành giả. Tâm
ý thì quán tưởng mandala, tạo thành một thể
thống nhất để thể nhập Tam mật của Phật.
Tam mật của Như Lai bản thể bình đẳng, không
giới hạn, có mặt khắp pháp giới, hay nói
cách khác: mọi hình sắc đều là thân mật, mọi
âm thanh đều là khẩu mật, mọi lý đều là ý
mật. Như đã nói, thân Phật và thân vũ trụ là
một nên quan điểm về thân mật trong Mật giáo
lấy tư tưởng trùng trùng duyên khởi của Hoa
Nghiêm làm cơ sở. Sự hiện hữu của thân không
đơn giản là một hữu thể độc lập, mà có các
mối quan hệ mật thiết với thế giới bên ngoài,
hay nói cách khác là với cái không phải thân.
Điều kiện mà thên tồn tạo gồm cả pháp giới,
gọi là mọi hình sắc là thân. Tương tự trong
Trung Bộ kinh, Phật dạy quán sắc uẩn bao gồm
nội sắc, ngoại sắc, thô tế, liệt thắng, xa
gần đều không hiện hữu (vô ngã). Sự mầu
nhiệm hay bí mật của thân là cái mầu nhiệm
của thân vô ngã.
Tương tự như thân, về ngữ mật thì mọi âm
thanh đều là ngữ mật. Thế giới mà chúng ta
đang sống là thế giới được biểu hiện bằng
ngôn ngữ, mọi thứ đều có tên gọi, mọi thứ
đều được khái niệm hóa qua ký hiệu ngôn ngữ,
mọi vật đều được nhận thức và giải thích qua
mẫu tự và văn cú, ngôn ngữ diễn biến linh
động để làm hiển lộ cái mầu nhiệm bên trong,
đó chính là sức mạnh của âm thanh. Mật tông
cho rằng thế giới được tạo ra bởi 14 nguyên
âm và 33 phụ âm. Thể nhập thực tại qua ngôn
ngữ âm thanh là một phương cách đặc biệt của
Mật tông.
Ý mật là sự cảm nhận một cách trực tiếp của
tâm. Đó là cái tâm thuần túy, không bị chi
phối bởi các kiến thức, không phải cái tâm
suy nghĩa có đối tượng, mà tâm ấy nguyên vẹn
đơn sơ cảm nhận trực tiếp thực tại vô ngã,
thực tại vô ngã ấy được cảm nhận qua nhiều
khía cạnh khác nhau. Thế giới tâm là một,
Duy thức học gọi là thế giới tánh cảnh. Tâm
nhận thức trực tiếp những gì đang diễn ra
như thường nói: "Đương thể tức không". Đó là
thực tại được cảm nhận một cách tích cực.
Thực hành tantra (nghi thức) là tạo thế cân
bằng hòa điệu của thân tâm, rồi tạo mối quan
hệ hay sự nối tiếp thân khẩu ý các vị tương
ứng với Tam mật của Phật, Phật cũng chính là
vũ trụ thân. Đó là sự thể hiện hòa điệu giữa
con người và vũ trụ. Sự gia trì Tam mật của
Phật sẽ nhập vào Tam mật của ta. Đó gọi là
Tam mật tương ưng hay Tam mật du già.
C- Kết luận
Những gì được trình bày về Mật tông ở trên
chỉ là những nét phác họa sơ sài, còn nghĩa
lý bí mật, phương pháp thực hành tantra của
Mật tông thì phức tạp vô cùng, cần phải
nghiên cứu sâu rộng và hành trì nghiêm túc
may ra mới có cái nhìn chính xác và đầy đủ.
Triết lý của Mật tông là triết lý của Bát
nhã Ba la mật (Prajnãpàramità) và giáo lý
Hoa Nghiêm cộng với Duy thức học. Sự phối
hợp giáo lý siêu nghiệm với hình thức ấn,
chú, mandala... là một sự kết hợp đặc biệt.
Vũ trụ, thế giới, con người, vạn vật... đều
mang một giá trị thiêng liêng đối với một
hành giả Mật tông. Nếu nhìn phớt qua các
biểu tượng và nghi quỹ của Mật tông có vẻ
như sự thành tín sơ khai hoặc mê tín, nhưng
chính thái độ tinh thần được thể hiện qua
nghi quỹ ấy lại là hiển lộ mối liên hệ giữa
tinh thần và vật chất, giữa con người và vũ
trụ với những năng lượng vô cùng tận. Các
biểu tượng Mật tông rất dễ bị ngộ nhận và
phê phán, tuy nhiên khi lặn sâu vào biển tâm,
ta mới khám phá ra được tác dụng và ý nghĩa
của chúng, chúng là những phương tiện diễn
đạt những kinh nghiệm tâm linh sâu sắc nhất
của hành giả.
Triết lý và phương pháp hành trì của Mật
tông cơ bản vẫn xây dựng theo tiến trình
Giới-Định-Tuệ như tất cả mọi đường lối tu
tập khác của Phật giáo. Nó có mối liên hệ
khá chặt chẽ với giáo lý Nguyên thủy và giáo
lý Đại thừa. Sự khác biệt của Mật tông là ở
phương tiện để thể nhập thực tại (Tánh không,
Vô ngã), đó là phương tiện huyền bí.
Sự phát triển của đạo Phật tạo ra nhiều tông
phái khác nhau và các phương pháp hành trì
khác nhau; đã là phương tiện thì "đa môn",
cho nên bất cứ phương tiện gì mà đưa đến
niềm tin, loại bỏ chướng ngại nội tâm, giúp
cho tâm thực chứng giải thoát tối hậu thì
đều được sử dụng: Mật tông là một trong
những phương tiện ấy.
Thích Viên Giác
====================================Đọc
thêm:
Giới Thiệu
Về Mật Tông
(Trích Biển Phương Tiện Và
Trí Huệ Bất Khả Phân)
(Ocean of indivisble method
and wisdom)
của đại
sư Geshe Acharya Thubten Loden
Việt
dịch: Lục Thạch
Hiệu
đính: Lê trung Hưng
Ðộc Giác Kim cương Ðại Phẫn
Nộ Pháp Môn là một trong những pháp thượng
thừa của Mật giáo. Mật tông hay Kim cương
thừa được coi là phương tiện thù thắng có
thể đốn ngộ ngay trong hiện kiếp để làm lợi
lạc quần sinh. Tuy nhiên, ngày nay việc thực
hành Mật giáo thường bị hiểu lầm. Vì vậy,
trước khi đi vào pháp Ðộc Giác Kim cương Ðại
Phẫn Nộ, chúng ta nên lượt qua sáu phần sau
đây của Mật giáo:
1. Giải thích tổng quát về
Mật giáo và các pháp số đồng nghĩa
2. Ðịnh nghĩa và bốn loại
Nghi quỹ
3. Các loại Nghi quỹ Du già
tối thượng
4. Các Nghi quỹ được bao gồm
trong năm giai đoạn tu tập như thế nào?
5. Năm đạo của Nghi quỹ Du
già tối thượng
6. Các đặc điểm của pháp Ðộc
Giác Kim cương Ðại Phẫn Nộ.
* Giải Thích Tổng Quát Về Mật
giáo Và Các Pháp Số Ðồng Nghĩa
Hai dòng tu tập để đạt tới
giác ngộ là Ba La Mật thừa và Kim cương thừa.
So với thừa trước thì thừa sau là thù thắng
hơn cả. Sơ tổ Mật giáo Tây Tạng là Tông
Khách Ba (Tsong Khapa) nói rằng:"
"Lưỡng trình đi tới giác ngộ
gồm Kim cương thừa thâm diệu và Ba La Mật
thừa.
Thần chú bí mật siêu diệu hơn
Thừa Hoàn Hảo.
Mọi người đều biết như vậy.
Hiển nhiên như mặt trăng so
với mặt trời."
Do thực hành Kim cương thừa,
hành giả lợi căn có thể chứng ngộ trong hiện
kiếp ngay cả ở thời mạt pháp này, mà không
cần phải tu tập trải qua ba đại a tăng kỳ
kiếp. Hành giả thuộc loại bậc trung có thể
chứng ngộ trong cõi trung giới sau khi sống
hết kiếp này. Còn hành giả căn cơ thấp có
thể chứng ngộ sau mười sáu kiếp. Vì những lý
do đó, mà Kim cương thừa được coi là siêu
diệu.
Ðể đạt giác ngộ chỉ bằng Ba
La Mật thừa, hành giả phải tích lũy công đức
và trí huệ trong ba đại a tăng kỳ kiếp.
Nhưng cho dù tích lũy lâu dài đến như thế
cũng không đủ để chứng ngộ. Hành giả có thể
đạt tới hàng thập địa Bồ tát bằng Ba La Mật
thừa, nhưng phải tu tập thêm Nghi quỹ Du già
tối thượng để vượt qua những giai đoạn cuối
cùng đi tới giác ngộ viên mãn.
Tới điểm nào thì các Bồ tát
Ba La Mật thừa, hay các Bồ tát thực hành các
Nghi quỹ thấp bước vào giai đoạn thực hành
Nghi quỹ Du già tối thượng? Phải chăng họ
không cần phải bước vào giai đoạn phát sinh,
cũng không ở giai đoạn thành tựu pháp cô lập
ba nghiệp (thân, khẩu, ý), mà cũng không ở
mức ảo thân bất tịnh? Vô số công đức mà họ
tích lũy trong ba đại a tăng kỳ kiếp sẽ thay
thế cho những cấp tu tập đó. Các Bồ tát này
bước vào giai đoạn Tịnh quang nghĩa, nhưng
chưa đạt Tịnh quang chơn nghĩa. Hàng Bồ tát
thập địa của Ba La Mật thừa và của ba Nghi
quỹ thấp cần phải được Bổn sư của họ làm lễ
truyền pháp chơn trí (actual wisdom), và sau
ba ấn chứng "sắc trắng", "sắc đỏ gia tăng”
và “sắc đen gần đạt”, sẽ Thiền quán về trí
giác tiên thiên (mind of pristine awareness)
hoan lạc bất nhị và tánh không, tương đương
với Tịnh quang nghĩa. Nói tương đương, vì
đây là tâm tế vi có thể gián tiếp nhận biết
tánh không.
Ðây là bước vào giai đoạn
Tịnh quang nghĩa. Tuy chưa đạt tới giai đoạn
thành tựu Tịnh quang nghĩa nhưng qua quá
trình tu tập họ sẽ dần dần đạt được. Các đại
Bồ tát của Ba La Mật thừa và của ba Nghi quỹ
thấp chỉ đạt trí huệ trực ngộ tánh không với
tâm thức thô kệch. Còn các Bồ tát tu tập
Nghi quỹ Du già đệ nhất tối thượng có thể
trực ngộ tánh không với tâm cực vi tế cùng
lúc phát sinh đại lạc.
Ðạo sư Gyal Tsal nói:
"Sau khi thành tựu việc tu
tập Ba La Mật thừa trong ba đại a tăng kỳ
kiếp, hành giả phải học ở các nguồn khác về
phương pháp đạt sắc thân Phật”.
Vậy, nếu muốn đạt tới giác
ngộ viên mãn, chúng ta cần phải tu tập Kim
cương thừa. Ðạo sư Nagabodhi nói:
"Dù trong vô lượng kiếp,
Bố thí đầu và mình,
Ngọc quí, những thứ khác
Sắc tướng còn bất tịnh
Không thể đạt giác ngộ
Dù trong vô lượng kiếp
Trì giới và nhẫn nhục,
Thực hành nhiều hạnh khác
Sắc tướng còn bất tịnh
Không thể đạt giác ngộ
Dù trong vô lượng kiếp
Thiền quán thân mật chú
Sắc tướng còn bất tịnh
Không thể đạt giác ngộ
Nếu sắc được tịnh hóa
Chắc chắn đạt toàn giác.
Những người thực hành Ba La
Mật thừa có thể tích lũy công đức bằng cách
bố thí tay, chân, đầu và mình hay cúng dường
vô số của cải. Nhưng như vậy, vẫn không thể
chứng ngộ nếu ba sắc tướng chưa được tịnh
hóa. Ba sắc hay ba ấn chứng này là tâm sắc
trắng, tâm sắc đỏ gia tăng, và tâm sắc đen
gần đạt, được tịnh hóa – trong hai giai đoạn
phát sinh và thành tựu của Nghi quỹ Du già
tối thượng. Khi những phương diện rất tế vi
này của tâm được tịnh hóa thì hành giả sẽ
đạt giác ngộ. Ba sắc này sẽ được giải thích
chi tiết ở Chương 8.
Kim cương thừa còn được gọi
là Mật thừa, Mật chú thừa, hay Quả thừa.
Ðược gọi là Mật thừa, vì giáo lý bí mật này
không thể truyền trao cho những người không
có căn cơ thích hợp, và vì luôn luôn được
thực hành trong sự bí mật. Người tu không
được phép phô bày Mạn Đà La và các vị hộ
thần (Yidam) cho những người chưa nhập môn
hay người đã từ bỏ không còn tu tập Kim
cương thừa nữa. Hành giả Kim cương thừa phải
phát nguyện không được tiết lộ các bí mật
của phương pháp luyện tập thân thể cũng như
các pháp liên quan khác, cũng không được phô
bày các pháp khí như chày Kim cương và
chuông Kim cương của mình. Nếu không giữ
được các bí mật này thời sẽ không đạt được
các quyền năng thông thường và tối thượng.
Gọi là Mật chú thừa, vì thần
chú có công năng “bảo hộ tâm thức”. Theo
pháp tu tập ở giai đoạn phát sinh của Nghi
quỹ đệ nhất Du già tối thượng, thì khi quán
tưởng mình là vị thần với sự kiêu hãnh Kim
cương, tâm của hành giả sẽ được bảo vệ chống
lại ảnh hưởng của sắc tướng thế gian và tạp
niệm. Theo pháp tu tập ở giai đoạn thành tựu
thì tâm đại lạc sẽ bảo hộ hành giả không bị
ảnh hưởng bởi tâm sắc trắng, tâm sắc đỏ gia
tăng và tâm sắc đen gần đạt, bằng cách làm
cho chúng tan nhập vào Tịnh quang.
Mật thừa được gọi là Quả thừa,
còn Ba La Mật thừa được gọi là Nguyên Nhân
thừa. Trước khi bước vào ngưỡng cửa của Kim
cương thừa, việc tiên khởi là hành giả phải
tu tập thuần thục các pháp thuộc Ba La Mật
thừa, như hạnh xả ly, Bồ đề tâm, và bát
chánh đạo, v.v... nếu không, họ chớ mong đạt
được sự giác ngộ của Ba La Mật thừa, nói gì
đến việc đạt vô lậu học đạo của Kim cương
thừa. Vì vậy, Ba La Mật thừa được gọi là
Thừa Nguyên Nhân và Kim cương thừa được gọi
là Thừa Kết Quả hay Quả thừa. Một lý do nữa
là ở giai đoạn tu tập phát sinh của Kim
cương thừa, hành giả quán tưởng Mạn Đà La và
vị thần bản mệnh của mình (Yidam) trong
trạng thái giác ngộ. Ngoài ra, hành giả cũng
thực hành quán tưởng một vị minh phi
(consort), cúng dường, hóa hiện và làm tan
biến các loại ánh sáng, mang lại lợi ích cho
chúng sinh giống như mình đã đạt giác ngộ
rồi.
Ðạo pháp này được gọi là Kim
cương thừa, vì hành giả đồng thời quán tưởng
hình ảnh vị thần và tánh không của hình ảnh
quán chiếu đó. Quán tưởng rõ rệt hình ảnh
của vị thần là pháp phương tiện. Thiền quán
về tánh không là pháp trí huệ. Gom cả hai
pháp này trong một tâm độc nhất thì gọi là
Kim cương thừa, vì một tâm như vậy có thể
tiêu diệt được vô minh phiền não, chứ phiền
não không thể bức hại được, giống như Kim
cương có thể cắt được các vật khác, còn các
vật khác thì không thể cắt được Kim cương.
Ðạo sư Khedrup Je nói rằng tâm quán tưởng vị
thần sẽ tích lũy được nhiều công đức, và
chính tâm đó giác ngộ sự vô tự tính của hình
ảnh vị thần, như vậy sẽ tích lũy được nhiều
trí huệ. Ngài cũng nói rằng tâm giác ngộ
tánh không, bằng cách trụ vào hình ảnh của
vị thần sẽ chống lại tánh ngã chấp trăm lần
mạnh hơn tâm giác ngộ tánh không bằng cách
Thiền quán trụ vào đối tượng khác, như một
cây non, chẳng hạn.
* Ðịnh Nghĩa Bốn Loại Nghi
quỹ
Quyển Mật giáo Ðại Cương nói:
"Trong bốn hạng hành giả phát
nguyện giải thoát của ta,
Với tất cả những ai đặt niềm
tin vào Ðại thừa.
Như Lai sẽ dạy thêm,
Bằng việc tiết lộ mật chú"
Giáo pháp bí mật của đức Phật
được truyền trao cho những người nào trong
bốn nhóm hành giả phát nguyện giải thoát có
niềm tin vào Ðại thừa. Kim cương thừa sẽ
không được truyền cho những người cũng thuộc
trong bốn nhóm nhưng không có niềm tin vào
Ðại thừa. Bốn nhóm này gồm Tỳ Kheo, Tỳ Kheo
ni, Sa di và Sa di ni.
Có bốn pháp mật chú:
1. Nghi quỹ Hành động (Kriya
tantra)
2. Nghi quỹ Thực hành (Charya
tantra)
3. Nghi quỹ Du già (Yoga
tantra)
4. Nghi quỹ Du già Tối thượng
(Maha anuttarayayoga tantra)
Nghi quỹ Hành động là loại
mật điển chủ yếu dạy về các oai nghi và các
hoạt động bên ngoài như tẩy tịnh, thọ thực
và các việc khác.
Nghi quỹ Thực hành là loại
mật điển chú trọng đồng đều các hoạt động
bên ngoài lẫn bên trong. Các hoạt động bên
trong như pháp Thiền quán có đề mục hoặc
không đề mục. Vì nhiều người có khuynh hướng
tu tập cùng lúc cả hai loại hoạt động bên
trong lẫn bên ngoài nên Ðức Phật dạy Nghi
quỹ Thực hành.
Nghi quỹ Du già là loại mật
điển chủ yếu nói về các hoạt động bên trong.
Vì lợi ích của những đệ tử có khuynh hướng
tu tập các hoạt động bên trong mà Ðức Phật
giảng giải các Nghi quỹ Du già.
Nghi quỹ Du già tối thượng là
mật điển dạy bất nhị đại lạc cùng lúc với
trí huệ chứng ngộ tánh không. Ba Nghi quỹ
thấp không có pháp đại lạc đồng thời, và dù
có trí huệ chứng ngộ tánh không thì trí này
vẫn là một tâm thức thô kệch, không phải là
loại thức trí tinh tế của Nghi quỹ đệ nhất
Du già tối thượng.
Vì các đệ tử có khuynh hướng
tu tập pháp bất nhị đồng thời đạt đại lạc và
trí huệ chứng ngộ tánh không mà Ðức Phật dạy
các Nghi quỹ Du già tối thượng.
Bốn loại Nghi quỹ khác nhau ở
cách tiếp cận các hoạt động thì cũng khác
nhau ở cách dùng ái dục làm pháp tu tập.
Bốn cách dùng ái dục làm pháp
tu tập được giải thích trong mật điển "Samputa
Tantra" như sau:
"Cười, ngắm, nắm tay,
Và hai người ôm là bốn điều
Ðược giảng trong bốn Nghi quỹ
theo cách côn trùng"
Trong Mật giáo, việc dùng ái
dục làm pháp tu tập được ví với loài côn
trùng sinh ra trong gỗ, và ăn chính gỗ đã
sinh ra chúng. Cũng vậy, ái dục được dùng để
làm phát sinh những tâm thái có khả năng
tiêu diệt chính loại ái dục đã phát sinh ra
chúng.
Bốn cách khác nhau của bốn
loại Nghi quỹ để tiếp cận với pháp dùng ái
dục phù hợp với bốn hạng hành giả sau đây.
Trong "Ðại Diễn Giải Mật giáo", Ngài
Tsongkhapa nói rằng những người căn cơ thấp
có thể dùng ái dục làm pháp tu tập khi chỉ
ngắm hình quán tưởng của một người phối ngẫu,
và họ là những hành giả của Nghi quỹ hành
động.
Những người có căn cơ cao hơn,
có khả năng chuyển hóa ái dục khi cười với
hình quán tưởng của người phối ngẫu, là
những hành giả của Nghi quỹ thực hành. Những
người lợi căn hơn nữa, có khả năng chuyển
hóa ái dục khi quán tưởng mình nắm tay người
phối ngẫu, là những hành giả của Nghi quỹ Du
già. Những người lợi căn nhất, có khả năng
chuyển hóa ái dục bằng sự kết hợp hai bộ
phận sinh dục, là những hành giả của Nghi
quỹ Du già tối thượng.
Bốn loại Nghi quỹ này cũng
khác nhau ở nghi thức truyền pháp và giới
nguyện.
Nghi quỹ hành động có lễ
truyền pháp "nước" và lễ truyền pháp "vương
niệm". Nghi quỹ thực hành có thêm "chày kim
cương" và "chuông". Nghi quỹ Du già gồm các
lễ truyền pháp "nước", "vương niệm", "chày
kim cương", "chuông", và "Kim cương sư". Tất
cả những nghi thức nói trên là lễ truyền
pháp "bình", và như vậy ba Nghi quỹ thấp chỉ
có ba loại nghi thức truyền pháp "bình", chứ
không có các lễ truyền pháp cao cấp hơn của
Nghi quỹ Du già tối thượng, đó là các lễ
truyền pháp "bí mật", "trí huệ" và "lời".
Về giới nguyện, thì hai loại
Nghi quỹ hành động và thực hành chỉ cần có
Bồ đề tâm nguyện trong lễ truyền pháp. Trong
lễ nhập môn của hai Nghi quỹ Du già và Du
già tối thượng, các đệ tử phát Bồ đề tâm
nguyện cũng như giới nguyện Kim cương thừa.
Bồ đề tâm nguyện được coi là
giới nguyện thông thường vì đều có trong Ba
La Mật thừa và Kim cương thừa, cũng như
trong tất cả các loại Nghi quỹ. Giới nguyện
Kim cương thừa thì chỉ có trong Mật giáo, và
đối với bốn loại Nghi quỹ, thì chỉ có trong
hai Nghi quỹ cao, tức Nghi quỹ Du già và
Nghi quỹ Du già tối thượng. Ðệ tử phát
nguyện Kim cương thừa trong lễ truyền pháp
Kim cương sư.
Các pháp tu tập thuộc hai
giai giai đoạn phát sinh và thành tựu của
Nghi quỹ Du già tối thượng cũng khác vơí ba
Nghi quỹ thấp. Ba Nghi quỹ thấp có các pháp
Du già có đề mục và các pháp Du già không đề
mục, giống giai đoạn thành tựu, nhưng ba
Nghi quỹ này không có giai đoạn phát sinh và
giai đoạn thành tựu thực sự của Nghi quỹ Du
già tối thượng.
Có điểm khác biệt lớn giữa sự
chứng ngộ tánh không của Bồ tát Ba La Mật
thừa và sự chứng ngộ tánh không của một Bồ
tát tu tập Nghi quỹ Du già tối thượng. Bồ
tát Ba La Mật thừa chứng ngộ tánh không với
tâm thức thô, trong khi Bồ tát Nghi quỹ Du
già tối thượng chứng ngộ tánh không với tâm
thức rất tinh tế, tức tâm Tịnh quang. Trong
tác phẩm “Tinh yếu của năm giai đoạn tu tập”,
đạo sư Panchen Losang Chokyi Gyaltsan cũng
so sánh ba Nghi quỹ thấp với nhau. Ngài nói
rằng trí huệ của các Bồ tát thực hành ba
Nghi quỹ thấp phát sinh từ pháp thần linh
quán thì còn thô kệch hơn trí huệ đại lạc
chứng ngộ tánh không rất tinh tế của một Bồ
tát thực hành Nghi quỹ Du già tối thượng.
Các Bồ tát của ba Nghi quỹ thấp dùng hoan
lạc phát xuất từ ngắm, cười, hay nắm tay với
hình quán tưởng của vị thần để chứng ngộ
tánh không. Dù thô kệch hơn Nghi quỹ Du già
cao nhất, nhưng đây cũng là tâm chứng ngộ
tánh không tinh tế hơn tâm của các Bồ tát Ba
La Mật thừa.
* Các Loại Nghi Quỹ Du Già
Tối Thượng
Nghi quỹ Du già tối thượng có
thể được chia thành hai giòng chính: Nghi
quỹ cha và Nghi quỹ mẹ. Hai loại này giống
nhau ở pháp tu tập hợp nhất phương tiện đại
lạc và trí huệ chứng ngộ tánh không. Nếu các
pháp phương tiện và trí huệ không được phối
hợp với nhau, thì hành giả không thể chứng
đắc, cũng như con chim không thể bay bằng
một cánh. Còn khi phương tiện và trí huệ
được kết hợp với nhau thì hành giả sẽ đạt
giác ngộ, như con chim vươn hai cánh bay cao.
Trong Nghi quỹ Du già tối thượng, nhất thiết
phải có sự hợp nhất giữa phương tiện và trí
huệ, đó là đại lạc xuất hiện cùng lúc với
trí huệ chứng ngộ tánh không.
Tất cả các Nghi quỹ Du già
tối thượng đều có các pháp ảo thân và Tịnh
quang. Nghi quỹ cha là một Nghi quỹ Du già
tối thượng, chủ yếu giảng về pháp ảo thân.
Các Nghi quỹ cha trình bày ảo thân thực thụ,
nguyên nhân của ảo thân và kết quả của pháp
ảo thân. Ảo thân thực thụ có hai loại: ảo
thân bất tịnh và ảo thân thanh tịnh.
Ảo thân bất tịnh là ảo thân
chưa gạt bỏ được vô minh tiến tới giải thoát.
Ảo thân thanh tịnh là ảo thân đã gạt bỏ được
vô minh tiến tới giác ngộ. Các luồng khí cực
vi tế, vốn là vật cưỡi của các Tịnh quang
trong các pháp cô lập thân, cô lập khẩu và
cô lập ý, là nguyên nhân của ảo thân bất
tịnh. Còn khí nguyên thủy vốn là vật cưỡi
của Tịnh quang là nguyên nhân của ảo thân
thanh tịnh. Panchen Losang Chokyi Gyaltsan
nói rằng Nghi quỹ Guhyasamaja và Nghi quỹ
Yamantaka thuộc loại Nghi quỹ cha, Nghi quỹ
phương pháp và Nghi quỹ của nam hành giả.
Nghi quỹ phương pháp là một Nghi quỹ Du già
tối thượng, chủ yếu nói về phương pháp đắc
ảo thân. Các Nghi quỹ thấp cũng có nói về
các pháp thực hành nhưng không có pháp ảo
thân. Nghi quỹ phương pháp có ba loại: Nghi
quỹ phương pháp "ưa", Nghi quỹ phương pháp "ghét",
và Nghi quỹ phương pháp "không biết ưa hay
ghét". Guhyasamaja là một Nghi quỹ phương
pháp "ưa", Yamantaka là một Nghi quỹ phương
pháp "ghét", và Vajraarala là một Nghi quỹ "không
biết ưa hay ghét". Có ba Nghi quỹ phương
pháp "ghét", đó là Dạ Ma Ta Ka (Yamantaka)
Ðỏ, Dạ Ma Ta Ka Ðen, và Ðộc Giác Dạ Ma Ta
Ka.
Nghi quỹ mẹ là một loại Nghi
quỹ Du già tối thượng, chủ yếu nói về Tịnh
quang Trí. Có hai loại: Tịnh quang Mô phỏng
và Tịnh quang Nghĩa. Tịnh quang Mô phỏng là
loại tâm thức cực tinh tế gián tiếp chứng
ngộ tánh không, tức sự vô tự tánh của các
pháp. Tịnh quang mô phỏng được chia làm bốn
loại: Tịnh quang mô phỏng của pháp cô lập
thân, Tịnh quang mô phỏng của pháp cô lập
khẩu, Tịnh quang mô phỏng của pháp cô lập ý,
và Tịnh quang mô phỏng của giai đoạn thứ ba
(tức pháp thứ ba trong năm giai đoạn. Xem
chương 14). Tịnh quang nghĩa cũng là loại
tâm thức cực tinh tế trực tiếp chứng ngộ
tánh không. Tịnh quang nghĩa cũng có bốn
loại: Tịnh quang nghĩa trực trừ vô minh
chướng ngại đi tới giải thoát, Tịnh quang
nghĩa đã đoạn lìa vô minh đi tới giải thoát,
Tịnh quang nghĩa trực trừ vô minh chướng
ngại đi tới toàn giác, Tịnh quang nghĩa đã
đoạn lìa vô minh chướng ngại đi tới toàn
giác. Cả Tịnh quang mô phỏng lẫn Tịnh quang
nghĩa nhất thiết đều là trí huệ về đại lạc
và tánh không hợp nhất. Các Nghi quỹ Diệm
nhiên vương (Heruka), Kim cương Du già nữ (Vajrayogini)
và Hắc Luân (Kalachakra) là những Nghi quỹ
mẹ, Nghi quỹ trí huệ và Nghi quỹ của nữ hành
giả.
Các học giả cho rằng Nghi quỹ
cha là pháp về nam thần, còn Nghi quỹ mẹ là
pháp về nữ thần. Nói như vậy là không đúng,
vì Kalachakra và Heruka là những nam thần
nhưng vẫn là thần của các Nghi quỹ mẹ.
Tất cả các Nghi quỹ Du già
tối thượng đều là những Nghi quỹ bất nhị, là
đề tài chính của chúng là sự hợp nhất phương
tiện và trí huệ, tức đại lạc xuất hiện đồng
thời với trí huệ chứng ngộ tánh không. Nhưng
“phương tiện” của Nghi quỹ bất nhị khác với
"phương tiện" của Nghi quỹ phương tiện, là
thân giả ảo hay ảo thân. Tương tự như vậy, "trí
huệ" của Nghi quỹ bất nhị khác với "trí huệ"
của Nghi quỹ trí huệ. "Trí huệ" của Nghi quỹ
bất nhị là trí huệ chứng ngộ tánh không, còn
trí huệ của Nghi quỹ trí huệ là trí huệ về
Tịnh quang.
* Tất Cả Các Nghi Quỹ Ðược
Bao Gồm Trong Năm Giai Ðoạn Tu Tập Như Thế
Nào?
Có nhiều cách phân loại các
pháp tu tập thuộc hai giai đoạn phát sinh và
thành tựu của Nghi quỹ Du già tối thượng.
Giai đoạn phát sinh có những cách phân loại
như sáu nhánh thuộc giai đoạn phát sinh
trong Nghi quỹ Guhyasamaja và mười một pháp
trong hệ thống Vajrayogini được liệt kê ở
Chương 7. Trường Mật giáo Gyumay có một hệ
thống gồm tám nhóm các kỹ thuật tu luyện ở
giai đoạn thành tựu. Cũng có những cách phân
loại các giai đoạn thành tựu của Nghi quỹ
Guhyasamaja thành sáu, năm, và bốn, được
liệt kê ở chương 14.
Tuy vậy, các cách liệt kê
khác nhau đó không hề mâu thuẫn nhau. Chúng
chỉ là những cách phân loại khác nhau. Sự
thật là các pháp tu tập thuộc giai đoạn phát
sinh và giai đoạn thành tựu của tất cả các
Nghi quỹ Du già tối thượng có thể được bao
gồm trong năm giai đoạn tu tập được đề ra
trong quyển “Minh Ðăng” của luận sư Nguyệt
Xứng (Chandrakirti) nói về Nghi quỹ
Guhyasamaja:
"Ðể đạt thân mật chú trọn vẹn
Giai đoạn phát sinh là thứ
nhất
Chỉ quán sát tâm
Thì đó là giai đoạn thứ nhì.
Cho thấy chân lý thông thường
Là giai đoạn thứ ba hấp dẫn
Sự thanh tịnh của chân lý
thông thường
Là giai đoạn thứ tư
Còn sự hợp nhất hai chân lý
Thì là giai đoạn thứ năm
Thần chú, thân và tâm
Thanh tịnh và hợp nhất
Do hiểu được yếu nghĩa
Của năm giai đoạn, hãy thực
hành sáu điểm.”
Năm giai đoạn tu tập là:
1. Giai đoạn phát sinh thần
chú (Hệ thống Guhyasamaja gọi là giai đoạn
phát sinh)
2. Giai đoạn quán sát tâm (Cô
lập ý, gồm cả cô lập thân và cô lập khẩu)
3. Giai đoạn ảo thân thông
thường (Bỏ thân bất tịnh)
4. Giai đoạn Tịnh quang tối
thượng (Tịnh quang nghĩa, tức thực thụ)
5. Giai đoạn hợp nhất bất nhị
(Hợp nhất)
Những tên gọi này sẽ được
giải thích ở Chương 14.
Tại sao tất cả các cách phân
chia các giai đoạn tu tập của các Nghi quỹ
Du già tối thượng đều có năm giai đoạn, lý
do là vì tất cả các Nghi quỹ Du già tối
thượng đều ca tụng pháp hợp nhất ở giai đoạn
vô học đạo chính là Phật quả. Hợp nhất vô
học đạo phát xuất từ nguyên nhân của nó là
pháp hợp nhất hữu học. Pháp hữu học tùy
thuộc nguyên nhân của nó là Tịnh quang nghĩa.
Tịnh quang nghĩa tùy thuộc nguyên nhân của
nó là ảo thân bất tịnh. Ảo thân bất tịnh tùy
thuộc nguyên nhân của nó là cô lập ý. Cô lập
ý tùy thuộc cô lập khẩu. Cô lập khẩu tùy
thuộc nguyên nhân của nó là pháp cô lập thân
ở giai đoạn thành tựu. Cô lập thân ở giai
đoạn thành tựu tùy thuộc pháp tu tập ba thân
ở giai đoạn phát sinh. Pháp này lại tùy
thuộc lễ truyền pháp và giữ giới nguyện Kim
cương thừa. Những pháp này đều được bao gồm
trong năm giai đoạn tu tập. Năm giai đoạn tu
tập bao gồm tất cả các pháp Nghi quỹ Du già
tối thượng. Năm giai đoạn này lại được chia
thành hai giai đoạn, là giai đoạn phát sinh
Nghi quỹ Du già tối thượng và giai đoạn
thành tựu Nghi quỹ Du già tối thượng.
Tất cả các pháp tu tập Kinh
điển và Mật điển được bao gồm trong năm giai
đoạn tu tập của hệ thống Guhyasamaja đều có
nét tương đồng về nội dung cũng như công
dụng.
Sáu Pháp Chuẩn Bị của Nghi
quỹ Du già tối thượng Kalachakra cũng được
bao gồm trong năm giai đoạn tu tập của hệ
thống Guhyasamaja do có sự tương đồng. Dù có
cấu trúc và tên gọi khác, các pháp tu tập
của Nghi quỹ Kalachakra cũng tương tự như
năm giai đoạn tu tập của Nghi quỹ
Guhyasamaja. Nội dung các pháp tu tập của
mọi Nghi quỹ Du già tối thượng khác đều có
trong năm giai đoạn tu tập của hệ thống
Guhyasamaja.
Về mặt công dụng, tất cả các
pháp tu tập của ba Nghi quỹ thấp cũng được
bao gồm trong năm giai đoạn tu tập của hệ
thống Guhyasamaja. Ðó là vì tất cả bốn loại
Nghi quỹ đều có công dụng phát sinh các
thành tựu thông thường và tối thượng. Bởi lý
do này mà Nghi quỹ Guhyasamaja được coi là
gốc rễ (root) của tất cả các Nghi quỹ, ví
như rễ cây là căn bản của cành và lá.
Tương tự như vậy, tám vạn bốn
ngàn pháp môn của đức Phật có thể được bao
gồm trong năm giai đoạn tu tập của hệ thống
Guhyasamaja về mặt công dụng, vì công dụng
của tám mươi tư ngàn pháp môn này là mang
lại thành tựu giải thoát và đại giác ngộ.
Nghi quỹ Guhyasamaja đặc biệt giải thích rõ
ràng về việc đắc pháp thân có nguyên nhân từ
Tịnh quang Mô Phỏng và Tịnh quang Nghĩa, và
đắc hai sắc thân (báo thân và hóa thân) từ
nguyên nhân Ảo Thân Bất Tịnh và Ảo Thân
Thanh Tịnh. Hệ thống Guhyasamaja được coi là
rễ của mọi Nghi quỹ, và cũng là đỉnh của mọi
Nghi quỹ.
* Năm Ðạo Của Nghi Quỹ Du Già
Tối Thượng
Hai giai đoạn phát sinh và
thành tựu bao gồm năm đạo của Nghi quỹ Du
già tối thượng. Ðó là:
1. Ðạo tích lũy của Nghi quỹ
Du già tối thượng.
2. Ðạo chuẩn bị của Nghi quỹ
Du già tối thượng.
3. Kiến đạo của Nghi quỹ Du
già tối thượng.
4. Tu đạo của Nghi quỹ Du già
tối thượng.
5. Vô học đạo của Nghi quỹ Du
già tối thượng.
Tất cả các pháp thực hành ở
giai đoạn phát sinh là thành phần của đạo
tích lũy thuộc Nghi quỹ Du già tối thượng.
Tất cả các pháp thực hành ở giai đoạn thành
tựu được bao gồm trong đạo chuẩn bị, kiến
đạo, và tu đạo của Nghi quỹ Du già tối
thượng. Vô học đạo của Nghi quỹ Du già tối
thượng không phải là thành phần của giai
đoạn thành tựu, vì giai đoạn thành tựu nhất
thiết phải là một pháp tu tập, hay Du già,
trong dòng tâm thức của một hành giả hữu học,
chưa thuộc giai đoạn vô học. Trong “Tinh Yếu
Của Năm Giai Ðoạn Tu Tập”, đạo sư Panchen
Losang Chokyi Gyaltsan đã luận giải Nghi quỹ
Guhyasamaja. Ngài định nghĩa giai đoạn thành
tựu là một pháp Du già trong dòng tâm thức
của một hành giả đang học, hay hữu học, phát
xuất từ việc hành giả đã làm cho các luồng
chân khí (hay tinh lực) đi vào, trụ lại và
tan hòa trong kinh mạch trung ương bằng lực
Thiền quán. Từ việc tu tập các pháp thông
thường kết hợp với việc phát Bồ đề tâm của
Nghi quỹ Du già tối thượng, tất cả các pháp
tu tập phát sinh trước khi bước vào giai
đoạn thành tựu được gọi là đạo tích lũy của
Nghi quỹ Du già tối thượng. Nghĩa là từ khi
phát nguyện đạt sự hợp nhất vô học đạo cho
tới khi các luồng khí lực cao và thấp đi vào,
trụ lại và tan hòa trong kinh mạch trung
ương bằng lực Thiền quán trong giai đoạn
thành tựu được gọi là đạo tích lũy của Nghi
quỹ Du già cao nhất.
Có sự khác biệt giữa Bồ đề
tâm của các Bồ tát Ba La Mật thừa và Bồ đề
tâm của các Bồ tát Nghi quỹ Du già tối
thượng. Bồ đề tâm Ba La Mật thừa là ý nguyện
đạt giác ngộ để có thể làm lợi ích cho chúng
sanh, còn Bồ đề tâm Nghi quỹ Du già cao nhất
là ý nguyện đạt sự hợp nhất vô học vì lợi
ích của chúng sanh. Bồ đề tâm Nghi quỹ Du
già tối thượng được coi là sâu hơn vì sự hợp
nhất vô học rất thâm sâu. Ðó là sự hợp nhất
của Tịnh quang và ảo thân.
Vậy, khi ba pháp tu tập chính
được thực hành với Bồ đề tâm Ba La Mật thừa
thì chúng không phải là thành phần của đạo
tích lũy trong Nghi quỹ Du già tối thượng.
Nếu chúng được thực hành với Bồ đề tâm Nghi
quỹ Du già tối thượng, thì những pháp xả ly,
phát Bồ đề tâm vì lợi ích chúng sanh, và
những pháp khác sẽ là thành phần của đạo
tích lũy thuộc Nghi quỹ Du già tối thượng.
Sự hợp nhất vô học chính là sự giác ngộ của
Nghi quỹ Du già tối thượng. Bồ đề tâm Nghi
quỹ Du già tối thượng thì thâm diệu hơn, ích
lợi hơn Bồ đề tâm của Ba La Mật thừa và ba
Nghi quỹ thấp rất nhiều, và cũng mang lại
kết quả lớn hơn bội lần.
Các giai đoạn từ lúc bắt đầu
tu tập các pháp thuộc giai đoạn thành tựu
cho tới khi đạt giai đoạn thành tựu thứ tư
Tịnh quang nghĩa, được vào đạo chuẩn bị của
Nghi quỹ Du già tối thượng. Vậy, đạo chuẩn
bị Nghi quỹ Du già tối thượng gồm các pháp
cô lập thân, cô lập khẩu, cô lập ý, và ảo
thân bất tịnh. Giai đoạn thành tựu thứ tư,
tức Tịnh quang nghĩa, là kiến đạo của Nghi
quỹ Du già tối thượng và cũng là địa vị Bồ
tát thứ nhất (Sơ địa Bồ tát). Ảo thân bất
tịnh ngừng lại và kiến đạo thường trực sẽ là
pháp đối trị mọi vô minh cản trở giải thoát.
Ðồng thời hành giả đạt sơ địa Bồ tát và cấp
Ðại Bồ tát Nghi quỹ Du già tối thượng. Mọi
pháp từ sự hợp nhất của hành giả hữu học cho
tới sự hợp nhất vô học được coi là tu đạo
của Nghi quỹ Du già tối thượng. Sự hợp nhất
vô học là vô học đạo của Nghi quỹ Du già tối
thượng. (Hợp nhất tức Du già, hay pháp tu
luyện).
* Những Ðặc Ðiểm Của Pháp Ðộc
Giác Kim Cương Ðại Phẫn Nộ
Vào đêm trước ngày gặp đạo sư
Tsong Khapa trong lần đầu tiên, Ngài
Khendrup Je nằm mộng thấy mình đi lạc trong
bóng đêm tăm tối. Rồi đột nhiên mặt trời nhô
lên, ánh bình minh rực rỡ xua tan bóng tối,
và ở trong ánh sáng đó, đức Văn Thù (Manjushri)
trẻ đẹp xuất hiện với hào quang ngũ sắc. Ðức
Văn Thù có màu vàng cam, ngồi thế Kim cương,
với ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp.
Thân quang minh của Ngài trông trẻ trung và
lôi cuốn, vẻ mặt hơi phẫn nộ. Tay phải cầm
gươm trí huệ phát ra lửa, tay trái cầm quyển
kinh Bát Nhã để nơi tim.
Sau đó đức Văn Thù tan nhập
vào Khendrup Je. Ngay khi ấy, Ngài nhận biết
rằng đạo sư Tsong Khapa là một trong những
hóa thân của đức Văn Thù. Ngày hôm sau khi
Khendrup Je gặp Tsong Khapa, do nhân duyên
từ vô số kiếp trước hai người vốn đã có mối
quan hệ sư đệ với nhau, và Ngài cảm thấy rất
ấm lòng. Khendrup Je thỉnh vấn đạo sư Tsong
Khapa về nhiều đề mục của Kinh điển và Mật
điển. Sau khi thuyết giảng xong, đạo sư
Tsong Khapa hỏi duyên do từ đâu mà Khendrup
Je lại có những hiểu biết sâu xa về giáo
pháp như vậy. Khendrup Je đáp rằng tự bản
thân học hỏi rất nhiều về Kinh điển lẫn Mật
điển, cũng như đã cầu nguyện đạo sư và bổn
tôn (hộ thần Yidam), ngộ rằng hai vị này bất
khả phân. Ðạo sư Tsong Khapa hỏi: "Vị hộ
thần của ông là ai?" Khendrup đáp rằng mình
đã thực hành pháp Văn Thù và Hồng Dạ Ma Ka
Ta (yamankata đỏ).
Ðạo sư Tsong Khapa phán: "Thực
hành các pháp Dạ Ma Ka Ta Ðỏ, Ðen, và Xanh
Ðen sẽ đưa hành giả tới gần với đức Văn Thù.
Nhưng truyền thống của ta là thực hành pháp
Ðộc Giác Dạ Ma Ta Ka Xanh Ðen và pháp này có
năm đặc điểm lớn. ”
Khendrup Je liền dâng một Kim
Mạn Đà La và thỉnh cầu Ngài Tsong Khapa
giảng giải năm đặc điểm.
Năm đặc điểm đó là:
1. Vào thời ngũ trược năm
điều xấu ác đang hoành hành. Con người giải
đãi, ít có trí huệ, không giữ phạm hạnh và
không phát nguyện. Họ chất chứa tà kiến,
không hiểu ý nghĩa của kinh sách, không tôn
sư và trọng bạn đồng tu, và không có nhiều
lòng từ bi. Họ không biết tàm, quý, xa rời
giáo pháp, kiêu mạn, và rơi vào vực thẳm tà
kiến vì kiêu ngạo với ý tưởng tự ngã thường
tồn của họ. Họ điên loạn với tham dục và do
đó tạo nghiệp xấu. Họ ít có công đức và tuổi
thọ ngắn. Xứ xứ và con người trở nên bại
hoại. Khi lực tà trược quá mạnh, nếu không
tìm sự an trú nơi pháp Ðộc Giác Dạ Ma Ta Ka
thì việc tu tập của chúng ta không có kết
quả. Ðặc điểm thứ nhất của pháp Ðộc Giác Dạ
Ma Ta Ka là nhờ dựa vào oai lực siêu diệu
của Ngài mà việc tu tập của chúng ta sẽ
thành tựu, kể cả trong những hoàn cảnh khó
khăn nhất.
2. Hình ảnh Ðộc Giác Dạ Ma Ta
Ka cầm những khúc ruột ở bàn tay trái thứ
bảy và một lò lửa ở tay trái thứ mười hai
cho thấy pháp tu tập của Ngài gồm hai pháp
thâm diệu là Ảo thân và Tịnh quang, như được
giảng giải trong Nghi quỹ Guhyasamaja. Ruột
tượng trưng ảo thân, và lò lửa tượng trưng
Tịnh quang.
3. Ðộc Giác Dạ Ma Ta Ka cầm
dao găm thiêng (khatvanga) ở bàn tay phải
thứ mười cho thấy một pháp đặc biệt về luồng
hỏa hầu (lửa tam muội), vốn thường không
được đề ra trong các Nghi quỹ cha, là một
thành phần của pháp Ðộc Giác Dạ Ma Ta Ka.
Ðiều này cho thấy Ðộc Giác Dạ
Ma Ta Ka cũng có các pháp hoan lạc bất nhị
và tánh không, vốn là đặc điểm của các Nghi
quỹ Hevajra, Heruka và Vajrayogini.
4. Ðộc Giác Dạ Ma Ta Ka cầm
một xác người bị cắm trên một cái cọc ở bàn
tay trái thứ mười một, cho thấy pháp chứng
ngộ đó độ được những kẻ đại ác, phạm tội ngũ
nghịch, phạm thập thiện giới, lìa bỏ chánh
pháp, và những việc xấu khác.
5. Thông thường ba pháp Dạ Ma
Ta Ka, tức Ma Ta Ka đỏ, Dạ Ma Ta Ka Ðen, và
Ðộc Giác Kim cương Ðại Phẫn Nộ, đều là những
hóa thân phẫn nộ của đức Văn Thù.
Dạ Ma Ta Ka Ðỏ là hóa thân
hơi phẫn nộ, Dạ Ma Ta Ka Ðen là hóa thân khá
phẫn nộ, Ðộc Giác Kim cương Ðại Phẫn Nộ là
hóa thân cực kỳ phẫn nộ. Dạ Ma Ta Ka Ðỏ và
Dạ Ma Ta Ka Ðen có khuôn mặt thật của đức
Văn Thù hiền hòa trong giai đoạn là Nhân Kim
cương Thủ (the causal vajra holder) nhưng
không có bộ mặt thật của đức Văn Thù trong
giai đoạn là Quả Kim cương Thủ (the
resultant vajra holder). Còn Ðộc Giác Kim
cương Ðại Phẫn Nộ thì có khuôn mặt thật của
đức Văn Thù trong cả hai giai đoạn Nhân Kim
cương Thủ và Quả Kim cương Thủ. Ðiều này cho
thấy Ðộc Giác Kim cương Ðại Phẫn Nộ có đặc
điểm là: một pháp phối hợp hiền hoà và phẫn
nộ. Pháp này được tượng trưng bằng Văn Thù
trẻ trung có nét mặt hơi phẫn nộ. Với Ðộc
Giác Kim cương Ðại Phẫn Nộ Pháp Môn, hành
giả gần gũi đức Văn Thù hơn và dễ nhận được
sự gia hộ của Ngài. |
|