|
HoPhap.Net :
Hạnh
Nguyện Bồ Tát Quán Thế Âm
( Thích Đức Thắng )
Chính vì khổ nghiệp của chúng sanh đang vây
khốn mà các Đức Phật Thế Tôn cùng các vị Bồ
tát xuất hiện ra thế gian này, với hạnh nguyện
đại từ, đại bi, ban vui cứu khổ cho mọi loài.
Cùng ở trong hạnh nguyện đó, sự xuất hiên của
Bồ tát Quán Thế Âm được các kinh công nhận là
độc đáo nhất trong hạnh nguyện của các vị Bồ
tát.
Hiện tướng bản thể vũ trụ là một trò chơi vừa
có tính thực và bất thực, hay vừa có tính hòa
âm và bất hòa âm. Nếu người biết được trò chơi
này, là người nắm được thực tại trên mười đầu
ngón tay; thì trái lại, kẻ không nắm được thực
tại trên mười đầu ngón tay, kẻ đó không biết
được hòa âm vũ trụ trong trò chơi này. Nói thế
không có nghĩa là bản thể vũ trụ ở trong tình
trạng phân sáp làm đôi và đối lập nhau; nhưng
nó chỉ là một. Tuy thế, về mặt tùy thể, chúng
ta nhìn bản thể vũ trụ như là một phức thể,
tùy theo kiến giác của mỗi chúng ta. Vì tùy
thể này, nói lên được sự hiện hữu của duyên
nghiệp trong mỗi chúng ta đang ở trong tình
trạng sinh khởi, nối tiếp và ràng buộc vào
nhau, mà hiện ra các khổ tướng báo thân có sai
khác. Nhưng về mặt nhất thể, thì hiện tướng
chính là bản thể, và bản thể chính là hiện
tướng.
Do đó, cuộc đại hòa âm, hay bất đại hòa âm
trong vũ trụ, cũng tùy theo đó mà hiện hữu như
một thực tại giữa chúng ta, không thể không
chấp nhận. Vì kẻ biết được hay không biết được
trò chơi cùng đang nằm trong quỹ đạo của ý
niệm, nhưng khi ý niệm vừa khởi lên, liền sau
đó phát hiện ra âm thanh hoặc tương đồng hoặc
tương khắc với với thế giới âm thanh bên trong
hay bên ngoài.
Tuy nhiên
trong thế giới ngũ trược này, hầu hết chúng
sanh đã mang vào trong mỗi tướng thể một khổ
quả nào đó, cùng nằm trong một cộng nghiệp
không thể tránh khỏi luật tắc luân hồi, đã
mang và sẽ đưa chúng sanh vào con đường khổ.
Chính vì khổ nghiệp của chúng sanh đang vây
khốn mà các Đức Phật Thế Tôn cùng các vị Bồ
tát xuất hiện ra thế gian này, với hạnh nguyện
đại từ, đại bi, ban vui cứu khổ cho mọi loài.
Cùng ở trong hạnh nguyện đó, sự xuất hiện của
Bồ tát Quán Thế Âm được các kinh công nhận là
độc đáo nhất trong hạnh nguyện của các vị Bồ
tát. Ngài đã chứng ngộ bằng âm thanh qua nhĩ
căn viên thông, và lấy âm thanh là tiêu đích
trong việc cứu khổ cứu nạn cho tất cả chúng
sanh. Với danh hiệu Đại từ đại bi tầm thinh
cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ tát, đã nói lên
đầy đủ ý nghĩa hạnh nguyện đó.
Trong nhiều bộ kinh, có nói về Đức Quán Thế Âm
Bồ tát; nhưng chúng ta không thấy đề cập đến
phương pháp chứng ngộ của Ngài. Duy bộ kinh
Lăng Nghiêm có đề cập đến sự chứng ngộ ấy,
kinh Lăng Nghiêm trực chỉ ghi rõ rằng: Sau khi
Đức Thế Tôn gạn hỏi chỗ sở chứng của 24 Thánh
đệ tử xong, đến lượt Bồ tát Quán Thế Âm bày tỏ
chỗ sở chứng của mình như sau: "Quán Thế Âm Bồ
tát bạch rằng: Tôi nhớ là: hà sa số kiếp về
trước, có một vị Phật hiệu là Quán Thế Âm; vị
Phật đó dạy tôi muôn vào chánh định thì phải
theo nghe-nghĩ-tu. Từ trong nghe, khi trở về
tự tánh thì sở duyên biến mất và con đường vào
trở nên vắng lặng (sở không có, năng không có
chỗ duyên, nên năng vẫn không hiện hữu, ở
trong tự tánh vắng lăng). Hai tướng động và
tịnh không sinh. Từ từ mà tiến lên như vậy,
thì nghe và đối tượng bị nghe đều hết. Nghe đã
hết không trụ, thì giác và đối tượng của giác
đều không, khi không giác đã tròn đầy, thì
không và đối tượng không đều diệt. Khi sinh và
diệt đã mất, thời cảnh tịch diệt hiện ra trước
mắt". Thế giới phơi mở trước chúng ta như là
một hiện hữu, vượt khỏi không gian thời gian.
Cảnh giới này không bị ràng buộc bởi xuất thế
gian và thế gian, hay các pháp hữu vi và vô
vi. Cảnh giới này trên đồng với Như Lai một từ
lực, dưới hợp với tất cả chúng sanh trong sáu
đường, và đồng với chúng sanh một lòng bi
ngưỡng.
Đến đây, chúng ta thấy hạnh nguyện của Quán
Thế Âm trong kinh Lăng Nghiêm cùng kinh Pháp
Hoa, phẩm Phổ môn, gặp nhau trong lòng bi
ngưỡng đối với chúng sanh đại thể. Nhưng về ý
nghĩa danh từ có sự khác nhau. Trong kinh Lăng
Nghiêm, ý nghĩa luôn luôn ở trong chiều hướng
phản phục cái nghe nơi tự tánh. Như vậy, cái
nghe ở trong chiều hướng nội. Một khi tâm đã
phản phục, thời cảnh sở quán sẽ không còn, nên
không có sự đối đãi giữa năng và sở nữa. Lúc
đó Như Lai tạng tâm sẽ hiển bày ra trước mắt.
Luc đó tâm năng văn và cảnh sở văn sẽ tiêu tan
dung hội. Như vậy kinh Lăng Nghiêm lập cứ trên
nhân hạnh mà gọi là Quán Thế Âm. Ngược lại
trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ môn lại lập cứ
trên quả đức để hiển nghĩa, thì Âm chính là
tiêu đích của văn tầm cứu. Dù là tịch thinh
hay là động thinh, nghe của Quán Thế Âm Bồ tát
cũng thấu suốt tất cả. Âm thinh từ trạng thái
tâm lý đến lúc phát ra ngoài, phải qua một
tiến trình chuyển động của cơ thể. Có sự liên
hệ giữa một ý niệm khi phát khởi, và các sợi
thần kinh liên hệ chuyển động để thoát ra
ngoài cửa miệng, lúc đó mới tạo thành âm thanh
thật sự. Âm thanh này sẽ dàn trải ra vô tận,
và sẽ tạo thành âm thanh sống của vũ trụ.
Trong những biến động tiếp giao này, cùng với
những âm thanh khác, sẽ tạo ra những điệu hòa
âm, hay bất hòa âm, tùy theo lối dung nạp của
mỗi âm thanh từng người, từng loại chúng sanh.
Ở đây trạng thái tịch thanh không tự hữu, mà
chỉ hiện hữu trong mỗi người, mỗi sự vật,
chính ngay trong ý niệm, trong mặc thức, không
phát ra bên ngoài, hay chưa khởi phát ra ngoài,
nhưng nó có tác động của tâm thức can thiệp
vào. Ở đây, còn gọi là tâm thanh, la tiếng nói
của tâm.
Vậy, âm là biểu tượng ý nghĩa cuộc sống, thế
giới ngoại tại của chúng sanh trong pháp giới
duyên khởi này chính là hiện tướng của nghiệp
tướng vô minh con người đang lôi kéo con người
trong bể khổ sanh tử luân hồi. Những khổ đau
tai nạn của kiếp người, cùng tiếng kêu gào van
xin, cầu cứu của chúng sanh trong bể khổ đã
làm cho nguyện lực độ sanh của Bồ tát Quán Thế
Âm phát sinh. Ngài đã cùng nhĩ căn viên thông,
thường xuyên quán sát và nghe tiếng cầu cứu
của chúng sanh, tùy theo căn cơ của từng loại
mà Ngài hóa độ, cứu vớt.
Ở đây, về ý nghĩa danh xưng, chúng ta thấy sự
khác biệt giữa kinh Lăng Nghiêm và kinh Pháp
Hoa trong lòng bi nguyện của Ngài. Một đàng
hướng nội nghe bản thể tự tánh, tức là Như Lai
tạng tâm và đó cũng chính là bản thể của chúng
sanh, của vũ trụ mà lập cứ (theo nhân hạnh) để
cứu vớt; một đàng hướng ngoại nghe quả khổ của
chúng sanh, cùng tiếng cầu cứu mà lập cứ (theo
quả đức) để cứu vớt. Nếu căn cứ nơi nhân và
quả để hiểu thì làm sao có sự gặp gỡ hạnh
nguyện giữa kinh Lăng Nghiêm và kinh Pháp Hoa
trong lòng bi nguyện của Ngài? Đó là câu hỏi
cần đặt ra và cần giải đáp. Sự xuất hiện của
Ngài vì lòng bi ngưỡng vô úy, cùng với chúng
sanh cùng một thể tánh. Ngài đã mang danh hiệu
Đại từ đại bi tầm thanh cứu khổ cứu nạn Quán
Thế Âm Bồ Tát, nói lên lòng bi ngưỡng vô úy đó.
Lòng bi ngưỡng vô úy mà chúng sanh đã đánh mất,
thay vào đó lòng sợ hãi. Chính vì lòng sợ hãi
mà con người luôn ở trong tình trạng lo đối
phó, nhưng đối phó với phương pháp chạy trốn
thực tại, tìm cách né tránh với tương lai. Mà
tương lai là những gì chưa xảy đến với họ hay
sẽ không xảy đến. Vì sợ hãi lo âu nên con
người tự đánh lừa chính mình và dần dần trở
thành vong thân. Từ đó thần thánh, ma quỷ,
Thượng đế được xuất hiện bởi con người va do
con người đặt ra, con người lấy đó làm nơi
nương tựa. Cuộc sống của chúng ta đầy dẫy
những biểu tượng, biểu tượng của sợ hãi, do đó
chúng ta đã tự đánh mất bản tính vô úy của ta.
Con người không dám nhìn thực tại, không dám
nhìn vào chính mình, không dám sống với thực
tại, luôn luôn sống với tương lai; mà tương
lai là những gì ảo tưởng. Con người luôn tìm
cách nắm bắt những ảo tưởng đó để rồi thất
vọng, đau khổ.
Trong truyền thống triết lý siêu hình Tây
phương, vì sự sợ hãi này mà Thượng đế xuất
hiện. Thượng đế đã được lý trí con người đặt
ra để tôn thờ làm nơi tương tựa của những con
người yếu bóng vía, đầy lòng sợ hãi với hiện
tại, với tương lai. Tự đặt mình vào sự cứu rỗi
của Thượng đế, tự họ đánh mất bản tánh của họ.
Họ làm nô lệ cho một Thượng đế bên ngoài, họ
đã vong thân và Thượng đế thần thánh đã ngự
trị, chi phối cuộc sống họ. Kể từ Socrates mãi
cho đến Athur Schopenhauer, giai đoạn này
Thượng đế đã được đề cập đến nhiều, nhất là
thời kỳ trung cổ, thời kỳ kinh viện, Thượng đế
được coi như là thần linh, ban phước giáng họa
và mãi đến Hegel.
Hegel đã quan niệm: Thượng đế là một nhân cách
hóa của con người và con người là nhân cách
của Thượng đế. Thượng đế chính là ý niệm tuyệt
đối. Ông giải thích Thượng đế của ông theo
sách Sáng ký và ba ngôi của Ky Tô giáo bằng
biện chứng pháp của ông theo ba tiên trình; đề,
phản đề, tổng hợp đề. Ông bảo rằng: "Chính
Thượng đế đã vong thân, Thượng đế đã đẻ ra
hình ảnh Adam và Eva nơi vườn địa đàng, và
chính Adam và Eva đã phản lại lời dặn dò của
Thượng đế khi nghe lời dụ dỗ con răn (tượng
trưng cho ác quỷ sa tăng) mà ăn phải trái cấm
thiện ác, để rồi từ đó về sau con người mắc
phải tội tổ tông (nguyên tội) và bị đày đọa
trong khổ đau, càng khổ đau con người càng tạo
nên tội lỗi. Để chuộc lại tội lỗi này, Thượng
đế đã cho Jésus giáng thế, và bị đóng đinh
trên cây thập tự giá, để chịu tội cho thế gian;
khi đó con người trở lại trạng thái ban sơ nơi
vườn địa đàng. Để rồi ông kết luận Thượng đế
là con người và con ngươi là Thượng đế. Đó là
giai đoạn chung cuộc của lịch sử tương lai.
Từ Hegel đến Schopenhauer, quan niệm Thượng đế
thay đổi dần và biến mất từ Schopenhauer. Với
quyển Vũ trụ như là ý lực, ông đã phủ nhận
Thượng đế. Ông là người đầu tiên mang truyền
thống Đạo học Đông phương thổi vào Âu châu một
luồng sinh khí mới mẻ, và mạnh mẽ nhất là
Nietzsche với chủ trương "con người siêu nhân"
và ông đã nói; "Thượng đế đã chết" (Das Got
Isto).
Như thế, Thượng đế thực sự đã vắng mặt trên
thế gian này. Mãi đến Heidegger, danh từ
Thượng đế không còn được nhắc đến nữa. Nền
siêu hình học hiện đại mà người đại diện cho
nền triết lý Tây phương là Heidegger đã không
nhắc đến một Thượng đế nào, ông chỉ đề cập đến
tính thể của hiện thể tại thế (Dasein) của con
người mà thôi. Những vấn đề xa xôi chưa đến
trong tương lai, không phải là vấn đề bận tâm
của ông. Ông chỉ biết hiện tại, sống với hiện
tại, tìm ra những vấn đề liên hệ giữa con
người với con người, giữa cuộc sống và con
người cùng sự hiện hữu chính mình.
Theo ông,
đó là những bâng khuâng của con người, cần
phải tìm ra sợi dây liên hệ đó. Có thế con
người mới làm chủ được chính mình và làm chủ
được cuộc sống; lúc này con người sẽ không còn
sợ hãi nữa, họ sống một cách bình thản, chấp
nhận tất cả dù là cái chết đi nữa, cũng không
sợ sệt, vui cười với cái chết. Họ đã đến gần
Đông phương với tinh thần vô úy. Nhưng đó chỉ
là một thiểu số có tinh thần thượng thừa, đã
nhìn ra được trò chơi của vũ trụ trong suy
niệm. Họ đã chấp nhận hiện tại và sống với
hiện tại, chơi với hiện tại bằng một thái độ
tự tại, kiêu hãnh với chính mình mà không bao
giờ sợ hãi.
|