|
Đối
với đức Phật, việc hóa giải
những bất hòa cũng quan trọng
không kém việc xây dựng những
mối quan hệ tốt đẹp giữa những
người sống chung. Cộng đồng Tăng
già mới thành lập của ngài bao
gồm cả nam và nữ đến từ mọi
thành phần xã hội, những thành
viên trong cộng đồng đó có những
khác biệt lớn về nhiều phương
diện và điều không thể tránh là
sự phát sinh những mâu thuẩn.
Với cái thấy xuyên suốt, đức
Phật đã cho những người sống
chung những bài học quí báu để
ngăn ngừa và hóa giải những mâu
thuẩn xảy ra giữa họ. Mặc dù lúc
đó đức Phật nhắm đến những đệ tử
xuất gia, những lời khuyên của
ngài cũng áp dụng có hiệu quả
cho những cộng đồng xã hội khác
và vẫn còn giá trị cho đến ngày
nay. Sau đây, chúng ta lần lược
trình bày và phân tích những lời
dạy của ngài.
Năm Sự Khéo Léo Trong Việc
Trao Đổi
Những lời dạy của đức Phật về sự
khéo léo trong cách giải quyết
tốt đẹp những bất hòa được ngài
Xá Lợi Phất giải thích rành mạch.
(1)
Đức Phật dạy có năm sự khéo léo
trong giao tiếp đem đến nhiều
kết quả tốt đẹp. Theo ngài Xá
Lợi Phất, không tuân theo năm
cách xử sự nầy sẽ đem đến những
hậu quả tiêu cực và đáng ân hận
– và hầu hết người nói sẽ gặp
phản ứng từ người nghe. Sau đây
chúng ta khảo sát năm phương
pháp mà đức Phật và ngài Xá Lợi
Phất coi như thiết yếu trong
việc hóa giải những bất hòa
trong đời sống hằng ngày.
1. Nêu Vấn Đề Đúng Thời
Đúng thời là một điều kiện quan
trọng trong việc truyền đạt của
đức Phật. Ngài tự nhận là một
“người nói đúng thời” và thường
nhấn mạnh rằng sự thất bại hay
thành công trong cuộc trao đổi
tùy thuộc rất lớn vào thời điểm.
(2) Theo ngài Xá Lợi Phất, đúng
thời là điều kiện thiết yếu
trong việc hóa giải những mâu
thuẩn giữa người với người.
Với những bằng chứng được ghi
lại, đức Phật là người đầu tiên
trong lịch sử loài người nhấn
mạnh sự quan trọng của việc đúng
thời trong lời nói. Đó là vào
thế kỷ thứ sáu trước Tây lịch.
Tư tưởng gia Hy lạp tiền Socrate
là Protagoras đề cập đến khái
niệm nầy lần đầu tiên trong lịch
sử Tây phương vào thế kỷ thứ tư
trước Tây lịch.
Khái niệm “nói đúng thời” của
đức Phật mang một ý nghĩa rộng
rãi. Điều cần chú ý đầu tiên là
trạng thái tinh thần của người
nghe. Cuộc đối thoại giữa đức
Phật và bà Gotami, người có đứa
con duy nhất chết khi còn nhỏ,
chứng tỏ sự quan trọng của tác
nhân nầy. (3) Gotami ôm đứa con
đã chết đến cho nhiều vị thầy
thuốc để mong được cứu, nhưng
tất cả các thầy thuốc đều trả
lời rằng đứa bé đã chết, không
ai có thể cứu sống được. Quá
thất vọng và đau buồn, bà ôm con
đến chỗ đức Phật, người được coi
là “vị thầy vĩ đại nhất,” cầu
khẩn ngài cứu sống đứa bé. Thấy
sự đau đớn không cùng của người
mẹ, đức Phật quyết định không
nói ngay về sự thật. Ngài bảo bà
đi tìm một nắm hạt cải ở nhà nào
chưa từng có người chết. Vì biết
rằng bà sẽ phản ứng và và đau
đớn khi nghe sự thật, ngài đợi
đúng lúc để nói cho bà về sự
thật không vui rằng cái chết là
phổ biến cho mọi người, không ai
có thể tránh khỏi, không ai có
thể thay đổi. Và điều đó đã giúp
bà giảm đi nỗi đau và đạt đến
trí tuệ.
Các nhà tâm lý xác nhận rằng một
người đang lúc không vui ít muốn
lắng nghe. Một trẻ vị thành niên
khi mang về một giấy báo điểm
thấp có thể sẽ phản kháng mãnh
liệt trước lời khuyên của cha mẹ
rằng hãy cố gắng để khá hơn
trong kỳ học tới. Một người vợ
hay chồng về nhà sau một cuộc
chạm trán không vui với cấp trên
có thể thấy những lời cau có của
người kia nhức nhối khó chịu hơn.
Trao đổi khi người nghe ở trong
trạng thái vui vẻ có thể đem lại
những kết quả tốt đẹp hơn.
Sự thoải mái về thể xác cũng
phải được kể vào nguyên tắc đúng
thời. Đức Phật bảo đệ tử của
ngài cho một người muốn nghe
Pháp đang đói được ăn trước khi
ngài thuyết Pháp cho người đó.
(4) Đức Phật biết rằng thuyết
Pháp cho một người đang đói sẽ
đem lại ít lợi lạc hơn. Và trước
khi nói Pháp cho một đệ tử xuất
gia, đức Phật đã hỏi han về
chứng bịnh của vị đó đang mang.
(5) Chúng ta thấy rõ ràng rằng
điều kiện thể xác cũng là một
yếu tố để có một tinh thần khoẻ
mạnh; do đó “đúng thời” cũng có
nghĩa là thời điểm khi người
nghe có tình trạng cơ thể thích
hợp.
Mục tiêu là đem lại sự vui vẻ và
lợi ích cho cả người nghe và
người nói. Chờ đợi thời điểm
thích hợp để truyền đạt không có
nghĩa là tìm cơ hội tốt nhất để
tạo tác động lên người nghe. Sự
hiện diện của những động năng
ích kỷ và lạm dụng đi ngược lại
lời dạy của đức Phật. Ngài lặp
đi lặp lại rằng người nói nên
được hướng dẫn bằng tâm từ bi,
hoàn toàn không có động cơ lợi
dụng.
Chọn thời điểm thích hợp nhất để
nói là sự khéo léo có sức mạnh
rất lớn trong việc hóa giải
những bất hòa trong mối quan hệ.
2. Chỉ Đề Cập Đến Sự Kiện
Đức Phật nói thêm rằng tránh
những lời buộc tội sai lầm là
bước thứ hai trong việc làm tốt
cuộc đối thoại và giảm bớt những
mâu thuẩn trong mối quan hệ.
Theo ngài Xá Lợi Phất, người nói
cần luôn tâm niệm: “Tôi sẽ nói
điều gì đã xảy ra, không nói
điều gì không xảy ra.” (6). [Có
nghĩa là không nói láo]. Sự khéo
léo nầy cũng bao gồm việc tránh
cường điệu, phóng đại những lỗi
lầm và những yếu kém của người
nghe, cũng như những lời kết tội
không có thật khác.
Dưới nhãn quan tâm lý học, chúng
ta thổi phồng những yếu kém hay
lỗi lầm của một người chính yếu
là để lôi kéo sự chú ý của người
đó, hoặc bày tỏ sự tức giận của
chúng ta. Để nhấn mạnh sự săn
sóc thích hợp cho một đứa con,
người vợ có thể nói với chồng:
“Con bị cảm cúm do anh không đắp
kỹ cho nó.” Để trút giận, người
chồng có thể trả đũa: “Cô lúc
nào cũng nói chuyện ngớ ngẩn.”
Trong trường hợp đầu, điều thật
sự xảy ra là đứa trẻ bị bịnh cúm;
lý do người vợ đưa ra chỉ là một
sự gán cho. Trường hợp thứ hai,
câu trả lời của người chồng là
một câu nói chung chung, một
luận điệu chung chung về một sự
việc riêng lẽ. Cả hai đều nói
những lời cường điệu. Cả hai đều
không nói đúng chính xác “điều
xảy ra.”
Sự cường điệu thể hiện dưới
nhiều hình thức trong đời sống
hằng ngày. Một người mẹ thấy một
chiếc dĩa tuột khỏi tay người
con gái có thể la lên: “Mày
không bao giữ được cái gì.” Một
người vợ đọc kết quả xét nghiệm
sức khỏe hằng năm của chồng có
thể nói: “Ông không chịu tập thể
dục. Đó là lý do lượng mở trong
máu tăng cao.” Tất cả những lời
nói nầy đều là những lời thổi
phồng, cường điệu, hoặc gán thêm.
Cách phát ngôn nầy một cách nào
đó có vẻ xoa dịu cho người nói –
mặc dù không xoa dịu chút nào
cho người nghe. Có thể một người
sẽ cảm thấy sự căng thẳng trong
tâm của mình nhẹ bớt bằng việc
tấn công bằng lời nói vào người
đã tạo ra sự căng thẳng. Nhưng
hầu như điều đó chỉ làm tăng
thêm phản ứng ương ngạnh của
người nghe. Người nghe cho rằng
những lời của người nói là những
lời kết tội vô căn cứ hay là
những lời lăng mạ. Phản ứng đó
tạo ra sự khó khăn trong việc
đưa đến một cuộc đối thoại lành
mạnh giữa người nói và người
nghe.
Đức Phật khuyên chỉ nên nêu ra
sự kiện, không thêm vào sự kiện
những giải thích theo ý riêng.
Khi đó hoàn cảnh sẽ thuận lợi
hơn để hóa giải những mâu thuẩn
một cách thân tình. Điều xảy ra
đã xảy ra. Để cứu vãn mối quan
hệ, tốt nhất là đừng để cho sự
bất hòa lại xảy ra lần nữa.
Đề cập đến sự kiện không có
nghĩa là luôn luôn phải nói về
sự kiện đã xảy ra. Đức Phật nói:
“Cho dù sự việc là thật, ta
không nói sự thật đó khi không
được người nghe đồng ý.” (7) Một
số sự thật nói ra không có mục
đích ích lợi nào, nói ra có thể
là vô ích. Để đem lại kết quả
tích cực trong thái độ và cách
cư xử của một người, chúng ta
nên chỉ đề cập đến sự kiện,
không gán ghép vào đó bất cứ
điều gì khác.
3. Nói Lời Ôn Nhu
Dùng lời nói ôn nhu, theo ngài
Xá Lợi Phất, là một khía cạnh
quan trọng khác trong việc
truyền đạt có kết quả việc giải
tỏa những mối bất hòa. Theo ngài,
người nói nên có một thái độ dứt
khoát trong việc sử dụng ngôn
ngữ: “Tôi nguyện nói lời ôn nhu,
không nói lời lỗ mãng, thô bạo.”
Tránh sử dụng lời nói lỗ mãng
cũng là một trong năm giới của
người Phật tử tại gia. Sự nhấn
mạnh nầy nói lên vai trò quan
trọng của lời nói ôn nhu trong
mối liên hệ hằng ngày.
“Nói lời ôn nhu” ở đây cũng
chuyên chở một ý nghĩa rộng rãi.
Nó bao gồm mọi thứ liên quan đến
ngôn ngữ: lời nói, câu nói,
giọng nói, cách nói.
Theo đức Phật, khi chúng ta nói
lời thô bạo để giải quyết mâu
thuẩn, sự vô minh và sân hận
thống trị tâm thức chúng ta. Ý
nghĩ cho rằng sự thô bạo sẽ làm
cho người nghe chịu hiểu phát
xuất từ một tâm thức vô minh. Sự
thật, ngôn ngữ lỗ mãng chắc chắn
sẽ làm cho người nghe phản ứng
và chống lại. Một số người nghĩ
rằng dùng những lời lỗ mãng để
buộc người nghe không nói được,
họ thuyết phục được người nghe
chấp nhận những ý kiến của họ.
Một đứa trẻ giữ im lặng và không
phản ứng khi bị cha mẹ la rầy có
thể dường như đã được thuyết
phục, nhưng sự thật, sự im lặng
của đứa trẻ có thể là một phản
kháng mạnh mẽ, nói lên sự thất
bại của cha mẹ. Ngôn ngữ lỗ mãng
có thể đem đến một cảm giác thỏa
mãn tạm thời, nhưng nó không bao
giờ giải quyết được sự mâu thuẩn.
Tâm lý học hiện đại giải thích
rằng sự nóng giận, tác nhân thúc
đẩy phía sau của những lời nói
lỗ mãng, là một phản ứng trước
những tình huống đe dọa. Nói lời
giận dữ là một kỹ thuật để triệt
tiêu nguồn gốc của một mối đe
dọa, không phải để giải quyết sự
mâu thuẩn. Ngôn ngữ, giọng điệu
hung dữ biểu lộ một sự tấn công.
Cảm giác rằng người nói đang tấn
công mình bằng lời là cảm giác
tồi tệ nhất đối với người nghe
về khả năng có thể đối thoại. Ít
ai khoan thứ với một sự tấn công;
họ tự vệ hoặc tấn công lại. Sự
thô bạo được hướng dẫn bởi lòng
tức giận ít khi đưa đến kết quả
tốt trong việc giải quyết những
bất hòa.
Có người cho rằng lời nói hòa
dịu phản ảnh sự yếu nhược, và có
thể bị người nghe lợi dụng. Sự
hiểu sai lạc nầy bắt nguồn từ
việc hiểu sai khi cho rằng ôn
hòa là thiếu khả năng hay nhút
nhát. Tuy nhiên lời lẽ ôn hòa
không nằm trong ý nghĩa đó. Đức
Phật luôn luôn dùng lời lẽ ôn
hòa, nhưng ngài cũng thấy rằng
lời nói cứng rắn, dứt khóat là
cần thiết. Lời nói thô bạo là
một thái cực và yếu nhược là
thái cực kia. Theo đức Phật,
chúng ta có thể không ở trong
một thái cực nào và vẫn có thể
dùng những lời lẽ dứt khoát để
giải quyết những mâu thuẩn một
cách có hiệu quả.
Trong Dhammapada (Pháp Cú), đức
Phật khuyên nên kiểm soát lời
nói, tránh những lời nói tức
giận. (8) Thái độ đó sẽ tạo ra
một môi trường thuận lợi trong
việc hóa giải những mâu thuẩn
bất hòa trong cuộc sống hằng
ngày của chúng ta.
4. Nhắm Vào Những Hiệu Quả Tích
Cực
Đi xa hơn, ngài Xá Lợi Phật còn
giải thích rằng người nói cần
tập trung vào mặt tích cực trong
giải pháp giải quyết vấn đề. Sự
tập trung nầy có thể đem lại
những kết quả lớn trong việc hóa
giải những mâu thuẩn giữa những
người có mối liên hệ gần gũi.
Theo ngài Xá Lợi Phất, người nói
cần luôn tâm niệm “Tôi sẽ nói vì
sự lợi ích cho người nghe.” Thái
độ nầy của người nói gợi lên hai
điểm. Thứ nhứt, người nói cần
biết rõ về những kết quả tích
cực của giải pháp. Thứ hai,
người nói cần giải thích thấu
đáo cho người nghe về những kết
quả tốt đẹp của giải pháp đó.
Cách giải quyết mâu thuẩn nầy
nói lên sự viêc rằng chỉ phê
bình mà không có đường hướng để
giúp đỡ người nghe thì sẽ thất
bại. Một số người có khuynh
hướng tìm lỗi của người kia chỉ
để phê phán. Nhận thấy thói quen
nguy hại đó, đức Phật dạy: “Một
người luôn luôn phê phán người
bạn của mình, việc đó không
chứng tỏ một tình bạn chân thật.”
(9) Khi nhận ra động cơ thúc đẩy
của người nói, theo bản năng,
người nghe sẽ phản bác những lời
phê bình của người nói. Với một
hướng giải quyết được chuẩn bị
sẵn, người nói có thể làm cho
người nghe chú ý lắng nghe.
Sự rõ ràng rành mạch của người
nói về những hiệu quả tích cực
của giải pháp thuyết phục người
nghe chấp nhận cách giải quyết.
Người nói cần giải thích cho
người nghe lý do vì sao vấn đề
cần được giải quyết, và sự giải
quyết đó sẽ có lợi cho người
nghe như thế nào. Người nghe có
thể hiểu sai lạc việc phê bình
xây dựng khi người nói không nói
rõ mục đích và những kết quả
tích cực trong những đề nghị của
mình.
5. Nói Với Lòng Từ Bi
Sau cùng, lòng từ bi có thể
hướng dẫn toàn bộ tiến trình đối
thoại. Những người có ý tưởng,
lời khuyên và giải pháp phát
xuất từ lòng từ bi thường dễ
giải quyết tốt đẹp những mối bất
hòa. Người nói nên tâm nguyện
rằng “Tôi nguyện nói với lòng từ
bi, không nói với lòng tức giận.”
(10)
Bốn phương pháp đề cập ở trên –
đúng thời, chỉ đề cập đến sự
kiện, sử dụng ngôn ngữ ôn nhu,
và nhắm vào lợi ích của người
nghe – là những phương pháp
thuộc phạm vi hùng biện, ở bên
ngoài. Từ bi, thuộc tình cảm, ở
bên trong và dĩ nhiên là thiết
yếu.
Những phương pháp hùng biện bên
ngoài là cần thiết nhưng có thể
là những kỹ thuật không thích
hợp trong việc sữa đổi một cá
nhân. Sự nguy hiểm nằm ở chỗ
người nghe có thể cảm nhận sự
“thiếu tấm lòng” nơi người nói.
Câu “Tôi thương anh do đó tôi
muốn anh được tốt đẹp” có sức
mạnh lớn trong việc ảnh hưởng
một người, nhưng sự bày tỏ không
bằng lời nói còn có sức mạnh lớn
lao hơn.
Đôi khi chúng ta cần tự hỏi về ý
hướng của chúng ta khi nói với
người khác về những hành vi
không đẹp của họ. Phải chăng có
tác động tình cảm thật sự trong
viêc chăm sóc giúp đỡ một người,
hay một thứ gì khác đang giỡ trò?
Vì sao một người vợ hay chồng
luôn luôn nhắc nhở người kia về
lỗi lầm mà người đó đã tạo ra
trong quá khứ? Vì sao chúng ta
luôn luôn sửa sai một người nào
đó? Những sự việc nầy cần quan
sát kỹ lưỡng. Một hành động sẽ
có ý nghĩa và kết quả nếu nó
được khởi động bằng lòng từ bi.
Những Ngoại Lệ
Năm bước giải quyết trong truyền
thống Phật giáo không phải là
những phương thuốc toàn hảo cho
mọi xung đột giữa người và người.
Chúng được coi như những phương
pháp để có sự đối thoại khéo léo,
thiện xảo, có thể dùng để giải
quyết hầu hết những xung đột một
cách có hiệu quả, nhưng lúc nào
cũng có những ngọai lệ. Khi ngài
Xá Lợi Phất trình bày hiệu năng
của năm phương pháp nầy, đức
Phật nêu lên một điểm quan trọng:
“Lại nữa, Xá Lợi Phất, dù ông
theo năm phương pháp đối thoại
nầy, vẫn còn một số người không
tán đồng những điều ông nói.”
(11).
Lời nói nầy phản ảnh cái thấy
sâu xa của đức Phật rằng năm
phương pháp ở trên không thể
giải quyết tất cả mọi xung đột
giữa con người, và theo đó, ngài
bảo Xá Lợi Phất giải thích vì
sao có một số người quá cứng cõi
và làm thế nào để đối trị.
Trả lời Phật, ngài Xá Lợi Phất
thừa nhận có một số người luôn
luôn phản kháng dù năm phương
pháp khéo léo trong đối thoại đã
được đem ra áp dụng; và ngài nói
rằng sở tri chướng được coi là
một lý do tạo ra phản ứng nơi
người nghe. Đức Phật khen ngợi
ngài Xá Lợi Phất và khuyến khích
ngài phát triễn những kỹ thuật
được dạy để làm lợi lạc cho
những người sẵn sàng lắng nghe.
Điều đáng chú ý là những phương
pháp đối thoại mà ngài Xá Lợi
Phất trình bày giúp giải quyết
những xung đột trong tinh thần
hòa bình.
Nói Thêm Về Sự Khéo Léo Trong
Việc Trao Đổi
1. Tránh Tranh Luận Những Vấn Đề
Nhạy Cảm
Để giảm thiểu tối đa những xung
đột trong quan hệ, đức Phật
khuyên chúng ta nên tránh tranh
luận về những vấn đề nhạy cảm.
Những vấn đề nầy bao gồm những ý
niệm có tính cách ức đoán, những
quan điểm và tin tưởng không có
cơ sở khoa học. Ngài nói rõ ràng
rằng cuộc tranh luận như vậy
thuờng chỉ tạo nên sự đối kháng
thay vì đem đến sự nhất trí.
Sự trao đổi giữa đức Phật và
Kassapa, một nhà tu khổ hạnh
thuộc một hệ thống tư tưởng khác,
nói lên điều nầy. Đức Phật giữ
mối quan hệ gần gũi với những vị
thầy trong những tôn giáo khác,
thường viếng thăm họ và có những
cuộc trao đổi thân mật với họ.
Trong cuộc trao đổi với Kassapa,
đức Phật khuyến cáo chỉ nên đề
cập đến những chủ đề mà hai
người có quan điểm chia sẻ,
tránh những chủ đề gay gắt. (12)
Mục đích của cách tiếp cận đó là
giữ mối quan hệ lành mạnh giữa
người nói và người nghe.
Khi có người nêu ra những vấn đế
nhạy cảm, đức Phật đôi khi giữ
im lặng. Im lặng có thể tốt hơn
là tạo ra kết quả tiêu cực trong
việc tranh luận. Và đôi khi đức
Phật không do dự tán đồng những
quan điểm khác. Ngài coi mối
quan hệ quan trọng hơn sự tranh
luận về những vấn đề không đem
đến kết quả tích cực nào cũng
như ngài tránh tranh luận về
những vấn đề siêu hình.
Điều nầy không có nghĩa là đức
Phật hoàn toàn tránh né tranh
luận, cũng không phải ngài bảo
đệ từ đừng bao giờ tranh luận.
Trong nhiều trường hợp, ngài đã
tranh luận một cách hùng hồn về
những vấn đề xã hội, chẳng hạn
như vấn đề phân biệt giai cấp.
Trong Digha Nikaya I, chúng ta
thấy ghi lại nhiều cuộc tranh
luận đầy thuyết phục của đức
Phật. Những cuộc tranh luận nầy
cho thấy những lý lẽ đầy thuyết
phục chống lại những tin tưởng
và thói tục sai lầm và gây tổn
hại trong xã hội. Đối với những
tin tưởng và thực hành nhạy cảm
có tính cách cá nhân, đức Phật
cho rằng tranh luận về những vấn
đề đó là vô ích và có thể gây
tổn hại cho mối quan hệ.
Ngày nay, có một số tin tưởng và
thực hành về tôn giáo, chính trị
và xã hội thuộc vào những nhóm
nầy. Nếu người chồng và người vợ
theo hai tôn giáo khác nhau
tranh luận về niềm tin tôn giáo,
sự quan hệ sẽ bị tổn thương rất
nhiều. Tương tự, hai người bạn
phê phán nhau về thói quen xã
hội của mỗi người sẽ mở ra con
đường đưa đến sự căng thẳng và
bất hòa.
Để giữ mối quan hệ được tốt đẹp,
đức Phật khuyên chúng ta nên
tránh tranh luận về những chủ đề
như vậy. Ngài cho thấy rằng
trong khi những tranh luận hợp
lý lẽ có thể là cần thiết đối
với những tin tưởng và hành động
gây ra những hậu quả xấu, hầu
hết những niềm tin tôn giáo và
những thói quen xã hội đều có
thể có ích. Trong trường hợp nầy,
thay vì tranh luận, sự tiếp cận
tốt nhất là tôn trọng lẫn nhau.
2. Ý Thức Rằng Có Một Số Cách Cư
Xử Không Thể Thay Đổi
Để giữ mối quan hệ được lành
mạnh, chúng ta có thể phải chấp
nhận một số mặt không thể thay
đổi trong cách cư xử của người
đang sống với chúng ta. Đức Phật
nhận thấy rằng hầu hết con người
đều có một số yếu kém bên trong.
Ngài nói “Người không có những
chứng bịnh trong tâm thật hiếm
thấy.” (13) Một trong những
chứng bịnh nầy là “không nhận ra,
chấp nhận, và chịu sửa đổi cách
cư xử của mình.” (14) Đó là bản
chất của một số người, cố gắng
sửa đổi của người khác chỉ đem
lại sự thất vọng và mệt mỏi. Đức
Phật cho thấy rằng có một số
người bản chất tự nhiên là phản
ứng bằng sự tức giận, ác tâm và
gây hấn đối với những lời khuyên
xây dựng về cách cư xử của họ.
(15) Trong hoàn cảnh đó, cách
hay nhất là hiểu và chấp nhận
một số thái độ của người sống
chung là không thể thay đổi tuy
rằng một cách lý tưởng, mỗi
người trong mối quan hệ cần tự
sửa đổi cách cư xử của mình thay
vì buộc người kia phải chấp nhận.
Có một số người có thể bày tỏ
thái độ khó chịu không gây ra
những mối đe dọa trầm trọng cho
mối quan hệ. Trong trường hợp
không thể sửa đổi, sự chấp nhận
có vẻ thực tiễn hơn là cố gắng
sửa đổi.
Đức Phật cũng nhắc nhở chúng ta
rằng tự sửa mình là tính chất
của một người hiền trí. Sự tự
sửa như vậy cũng có thể làm giảm
đi những sự không vui trong mối
quan hệ. Chúng ta có thể thấy
khó khăn khi muốn sửa đổi người
khác theo ý muốn của mình, nhưng
chúng ta có thể sửa đổi ý nghĩ
và hành động của mình để thích
hợp với thái độ của người khác.
Chúng ta có thể rèn luyện một
tâm thức tỉnh táo để có thể chấp
nhận và khoan thứ khi đón nhận
những điều bất đồng, nhưng không
đe dọa đến mối quan hệ, từ nguời
sống chung.
Khuynh huớng giữ im lặng của
người chồng và khuynh hướng muốn
bày tỏ của người vợ là điển hình
của những cách cư xử đòi hỏi sự
khoan dung và chấp nhận. Người
vợ có thể muốn người chồng nghe
và đáp ứng trong khi người chồng
muốn người vợ bày tỏ những ý
nghĩ của mình một cách đơn giản.
Tuy nhiên, nếu mỗi người đều
hiểu bản tính của người kia, họ
có thể chấp nhận cách cư xử của
người kia thay vì cố gắng thay
đổi. Luôn luôn than phiền về sự
không quan tâm của người chồng
hay tính tự biểu hiện của người
vợ có thể làm căng thẳng mối
quan hệ. Ngược lại, kiên nhẫn,
khoan dung và chấp nhận sẽ làm
giảm mối bất hòa trong quan hệ.
3. Tạo Cơ Hội Sửa Đổi
Đạo Phật tin vào khả năng biết
tha thứ và có thể sửa đổi của
con người. Chúng ta ai cũng có
lỗi lầm. Đôi khi chúng ta tạo ra
những lỗi lầm trầm trọng có ảnh
hưởng đến mối quan hệ của chúng
ta. Đức Phật luôn luôn khuyên đệ
tử biết tha thứ những lỗi lầm và
tạo cơ hội sửa đổi cho người gây
lỗi. Cách cư xử nầy sẽ đưa đến
việc xây dựng một mối quan hệ
gắn bó hơn.
Lời khuyên nầy không có nghĩa là
phải quên hết mọi lỗi lầm trầm
trọng của người vợ hay người
chồng, bạn bè, hay những người
thân. Nó có nghĩa là những lỗi
lầm quá khứ của một người sẽ
không làm cho người đó bị kết án
là một kẻ xấu ác cố hữu và không
thể có mối quan hệ lành mạnh.
Chúng ta có thể học hỏi từ những
sai lầm của chúng ta. Chúng ta
có khả năng tiến hóa, và chúng
ta có thể vượt qua quá khứ không
tốt đẹp để trở nên tốt đẹp hơn:
Có những người biếng nhác trong
khứ, trở nên cảnh giác và tiến
bộ. Họ làm sáng thế giới giống
như mặt trăng khi ra khỏi đám
mây. (16)
Đức Phật tỏ ra rất tin tưởng khả
năng tiến bộ của con người. Và
tạo cho người khác cơ hội để
tiến bộ có thể là cách tiếp cận
khôn ngoan trong việc hóa giải
những bất hòa.
Cách tiếp cận nầy có thể là cách
tiếp cận thích hợp trong việc
làm sâu đậm mối quan hệ hơn
những cách khác. Nhiều người
trong mối quan hệ kỳ vọng người
chung sống trung thành nhưng
những kỳ vọng đó không phải luôn
luôn được đáp ứng. Sự bất tín
không phải là không phổ biến
trong xã hội của chúng ta. Một
người càng yêu người kia thì
càng bị phiền muộn nhiều hơn khi
khám phá ra điều tuột ra ngoài
kỳ vọng của mình. Nền văn hóa
của chúng ta khuyến khích chúng
ta dày vò “người có tội” một
cách tàn nhẫn. Tuy nhiên, khi
chúng ta để chúng ta miệt mài
trong oán giận, chắc chắn chúng
ta sẽ chấm dứt mối quan hệ trong
đau đớn. Một cách giải quyết
khéo léo là làm cho người kia
hiểu rõ hơn về bản chất lỗi lầm
của người đó và cho phép thời
gian sửa đổi.
Đức Phật nói rằng sự hấp dẫn của
người khác phái là khuynh hướng
mạnh nhất nơi con người. Ngài
nói: “Ta không thấy một cái nhìn,
âm thanh, mùi, vị, xúc chạm nào
lôi cuốn trái tim của người đàn
ông hơn phụ nữ.” (17) Một người
nữ cũng bị người nam lôi cuốn
như vậy. (18) Việc đó có thể
được coi là tự nhiên. Tuy nhiên,
con người cũng phát triển một
lối tư duy thực tiễn để chống
lại những khuynh hướng bản năng.
Khi được ban cho cơ hội, con
người có thể hiểu ra những lợi
ích của việc tiếp cận thực tế
với những thôi thúc bản năng. Sự
hiểu biết đó có thể giúp con
người sửa chữa những sai lầm làm
tổn hại mối quan hệ thân thiết.
Bước quan trọng nhất để sửa mình
và làm cho mối quan hệ thêm gắn
bó là “nhìn thấy lỗi lầm như nó
là, chấp nhận lỗi lầm, và quyết
định không tái phạm.” (19) Khi
chúng ta thực hiện điều nầy,
chúng ta được đức Phật gọi là
pandita, người hiền trí.
4. Tìm Một Cuộc Chia Tay Hài Hòa
Trong mọi sự đều có ngoại lệ.
Trách nhiệm và bổn phận, khéo
léo trong trao đổi, và những kỹ
thuật khác là những phương tiện
làm giảm, không phải là triệt
tiêu, những mâu thuẩn trong một
mối quan hệ. Mặc dù với những cố
gắng chân thật, một số người
thấy rằng vấn đề của họ không
thể giải quyết. Đức Phật dạy gì
về mối quan hệ không vui và
không ai muốn nầy? Ngài dạy gì
cho đệ tử về việc đối xử với
những người không còn gần gũi
với mình?
Đức Phật nhìn thấy những lý do
đưa đến sự chấm dứt chính đáng
một mối quan hệ: người kia cứ
tiếp tục những hành vi sai trái
không kìm chế, có sự nguy hiểm
do mối quan hệ gây ra, nhận thấy
một sự vô ích trong việc kéo dài
mối quan hệ. Trong mỗi trường
hợp vừa nêu, đức Phật chấp nhận
quyền chọn lựa cá nhân trong sự
quyết định. Ngài khuyên đệ tử
rút lui khỏi những mối quan hệ
không thích hợp như vị vua rút
khỏi vùng đất bị chiếm. (20)
Tuy nhiên, sự chấp nhận tự do cá
nhân nầy không có nghĩa là tán
đồng những quyết định vội vàng,
sắt đá, không hài hòa; thay vì
vậy, những sự cân nhắc hợp lý và
hợp đạo đức phải được đặt ra
trước khi có sự quyết định sau
cùng. Người đó phải chắc chắn
rằng quyết định của mình sẽ đem
đến lợi ích, thay vì sẽ đem đến
kết quả trái ngược, cho những
người có liên quan trong mối
quan hệ, kể cả bản thân người
quyết định. Ai cũng có quyền
chấm dứt mối quan hệ nếu quyết
định đúng chuẩn mực.
Lời khuyên của đức Phật với
Upali (Ưu Ba Li), một đệ tử cũng
là một người bạn của giáo chủ Kỳ
Na Giáo là Mahavira, chứng tỏ
việc nầy. Theo yêu cầu của thầy,
Upali đến chỗ đức Phật để tranh
luận. Tuy nhiên sau khi nghe đức
Phật, Upali nhận thấy giáo pháp
của Phật có giá trị hơn của
Mahavira và muốn trở thành đệ tử
của ngài. Đức Phật nói: “Ông nên
suy nghĩ thêm về quyết định của
ông; đối với người đáng tôn kính
như ông, tốt hơn là suy nghĩ và
thẩm định về quyết định của mình.”
(21) Sau khi Upali thưa với đức
Phật rằng quyết định của ông đã
đuợc cân nhắc kỹ lưỡng, đức Phật
cho phép ông được rời bỏ
Mahavira và trở thành đệ tử của
ngài. Sự lựa chọn cá nhân có suy
nghĩ chín chắn và hợp lý của
Upali là tác nhân chính yếu đưa
đến quyết định của ông.
Việc nầy cũng áp dụng được cho
những mối quan hệ khác. Trong
thời đức Phật, có những người
nam cũng như nữ đã có gia đình
muốn từ bỏ người hôn phối, sống
cách biệt để thực hành phạm hạnh.
Đức Phật không bao giờ ngăn cản
nếu sự tu hành của họ không
phương hại đến đời sống của
nguời còn lại và con cái họ. Đức
Phật khuyên Ugga, một người giàu
có, chu cấp và đùm bọc những
người vợ của ông trước khi rời
xa họ. (22) Đức Phật không bao
giờ cho rằng một người có thể từ
bỏ vợ hay chồng để tìm những thú
vui khác. Tuy nhiên, ngài nói rõ
rằng một cuộc chia tay hài hòa
khỏi một mối liên hệ không vừa ý
có thể tốt hơn là cứ tiếp tục.
Đức Phật cũng có những lời
khuyên cho những người sau khi
chia tay người sống chung hay
bạn hữu. Cuộc nói chuyện của
ngài với Kesi, một người huấn
luyện ngựa, cho chúng ta thấy
rằng cần phải từ bỏ sự oán ghét
và thù hằn đối với người sống
chung ngày xưa dù người đó đã
tạo ra những đau buồn phiền muộn
trong mối quan hệ. Kesi nói với
đức Phật rằng ông sẽ giết những
con ngựa không muốn hợp tác
trong việc huấn luyện. Đức Phật
nói với Kesi rằng đối với ngài,
ngài không quan tâm đến những
người không thể thuần thục hay
không chịu hợp tác. (23)
Trong giáo pháp của đức Phật, sự
theo đuổi hận thù không bao giờ
được khuyến khích ngay cả khi
người đó bị lạm dụng hay bị làm
tổn thương trong mối quan hệ.
Đức Phật dạy rằng một người
không thể tìm thấy bình an khi
vẫn còn vướn mắc trong những sai
quấy của người khác trong quá
khứ. (24) Dĩ nhiên cần có những
phản ứng thích hợp trước những
hành vi sai trái, nhưng như đức
Phật nhìn thấy, đeo đẳng chạy
theo sự oán hận chỉ làm trầm
trọng thêm nỗi đau do mối quan
hệ không được hạnh phúc gây ra.
Có những người làm cho cuộc sống
của họ khổ đau với việc không
chịu thoát ra khỏi mối quan hệ
đã đổ vỡ, trong khi họ có thể
tìm thấy sự hài hòa trong cuộc
sống bằng cách biết tha thứ và
quên đi.
Kết Luận
Đức Phật và đệ tử của ngài là Xá
Lợi Phất đã đưa ra những hướng
dẫn giá trị để giải quyết một
cách hòa bình những mâu thuẩn
trong cộng đồng Tăng già. Những
hướng dẫn nầy cũng áp dụng hiệu
quả cho những người sống chung
trong những mối quan hệ xã hội
khác. Trau dồi sự khéo léo trong
giao tiếp, phát triển những cách
cư xữ khôn khéo là những điều
cần thiết cho mục tiêu nầy. Đức
Phật nhấn mạnh rằng hầu hết
những vấn đề xảy ra trong mối
liên hệ gần gũi đều có thể giải
quyết tốt đẹp bẳng những phương
pháp ngài nêu ra. Tuy nhiên vẫn
có một số quan hệ không thể giải
quyết dù người trong cuộc hết
sức cố gắng. Trong trường hợp
nầy, chia tay có thể là một giải
pháp tốt nhất để giải phóng
những người trong cuộc thoát
khỏi gánh nặng của những xung
đột. Sự chia tay không nên được
coi là một cách trả thù, nhưng
là một cách để có thể đem lại sự
tốt đẹp cho mình và cho những
người khác liên quan trong trong
mối quan hệ.
Ghi chú:
(1) Anguttara Nikaya V: Sona
Vagga: Subhasitavaca Sutta.
(2) Majjhima Nikaya I: 27:
Culahatthipadopama Sutta.
(3) Dhammapadathakatha: Sashassa
Vagga: Kisagotamya Vatthu.
(4) Dhammapadatthakatha: Sukkha
Vagga: Annatarassa Upasakassa
Vattha.
(5) Dhammapadatthakatha: Citta
Vagga: Putigattatissatthera
Vatthu.
(6) Aguttara Nikaya V: Aghata
Vagga: Codana sutta.
(7) Majjima Nikaya II: 58:
Abhayarajakumara Sutta.
(8) Dhammapada: kệ 232.
(9) Sutta Nipata: Cula Vagga:
Hiri Sutta.
(10) Anguttara Nikaya V: Aghata
Vagga: Codana Sutta.
(11) Ibid.
(12) Digha Nikaya I: 8: Maha
Sidanada Sutta.
(13) Anguttara Nikaya IV:
Indriya Vagga: Roga Sutta.
(14) Anguttara Nikaya III: Bala
Vagga: Accaya Sutta.
(15) Anguttara Nikaya III:
Puggala Vagga: Vajiropama Sutta.
(16) Majjhima Nikaya II: 86:
Agulimala Sutta.
(17) Anguttara Nikya I: Ekaka
Vagga:1.
(18) Anguttara Nikya I: Ekaka
Vagga:2.
(19) Anguttara Nikaya III: Bala
Vagga: Accaya Sutta.
(20) Dhammapada: 329.
(21) Majjhima Nikaya II: 56:
Upali Sutta.
(22) Anguttara Nikaya VIII:
Gahapati Vagga: Hatthigamaka
Ugga Sutta.
(23) Anguttara Nikaya IV: Kesi
Vagga: Kesi Sutta.
(24) Dhammapada: kệ 3. |